Lưu trữ cho từ khóa: choáng

Bị bệnh huyết áp thấp dùng trà Acotea có tốt không?

“Em vừa sinh bé đầu lòng được 10 tháng, em thường xuyên bị đau đầu khi thay đổi thời tiết, người thì mệt mỏi vô cùng, đi làm về là không muốn động chân động tay vào việc gì, ngồi văn phòng thì buồn ngủ kinh khủng, cả sáng lẫn chiều mặc dù đêm không thiếu ngủ. Cách đây 3 hôm, buổi sáng em đi chợ, bị một cơn choáng và ngất xỉu ở cổng chợ. May có bác hàng xóm nhìn thấy đưa về nhà, ông xã liền chở đi khám, bác sĩ bảo bị huyết áp thấp, đi chợ sớm chưa kịp ăn gì nên bị lăn quay ra đấy, bác sĩ kê cho một lô thuốc và bảo em làm ít thôi. Sau khi được tư vấn và tìm hiểu trên mạng, em mua trà Acotea về uống thử xem sao.

 Em mới dùng được hơn 2 tuần thôi thấy có vẻ khả quan nhưng không biết có khỏi dứt điểm không, nên em muốn hỏi xem có mẹ nào bị bệnh giống em hay từng sử dụng Acotea rồi thì cho em ý kiến với nhé!“

Sản phẩm trà Acotea (Ảnh: thành viên caygay)

 
 
 

Phá thai an toàn

Bài phỏng vấn bác sỹ Nguyễn Thị Yến – Chuyên gia giám sát chất lượng lâm sàng các phòng khám Marie Stopes International tại Việt Nam.

Ảnh được cung cấp bởi Marie Stopes International

1- Biện pháp phá thai được sử dụng trong những trường hợp nào?

Khi chị em phụ nữ có thai trong tử cung mà chưa muốn sinh con, hoặc thai kỳ bất thường, hoặc thai kỳ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người mẹ, họ có quyền lựa chọn các phương pháp chấm dứt thai an toàn và hợp pháp. Hiện nay, đối với những thai giai đoạn sớm (dưới 12 tuần tuổi), có hai phương pháp chấm dứt thai nghén: bằng bơm hút chân không hoặc bằng thuốc.

– Chấm dứt thai bằng bơm hút chân không:

Áp dụng cho thai dưới 12 tuần tuổi, đây là phương pháp dùng bơm hút chân không với một ống hút nhỏ bằng nhựa đã tiệt khuẩn đưa vào lòng dạ con để hút thai ra. Biện pháp này có ưu điểm là kỹ thuật đơn giản, an toàn, thời gian thực hiện nhanh (chỉ 10 – 15 phút), tỉ lệ thành công cao đến 99%. Một số rủi ro có thể gặp (dù hiếm) trong hoặc sau khi hút thai là: nhiễm trùng, sót nhau, sót thai, dính lòng tử cung, nặng nề hơn là choáng, băng huyết, thủng dạ con… Vì thế, kỹ thuật này phải được thực hiện bởi cán bộ y tế đã qua đào tạo và tại các cơ sở y tế được Bộ y tế và luật khám chữa bệnh cho phép.

– Chấm dứt thai bằng thuốc:

Phương pháp uống thuốc để loại bỏ thai áp dụng cho những chị em có thai trong tử cung dưới 63 ngày tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng, không mắc các bệnh lý chống chỉ định hay dị ứng với các thành phần của thuốc, thực hiện tại các cơ sở được Bộ y tế và luật khám chữa bệnh cho phép.

Tùy theo tuổi thai, tùy theo phân cấp phạm vi hành nghề, thuốc được sử dụng theo liều lượng khác nhau. Hai loại thuốc được cho phép sử dụng phổ biến là Mifepristone (có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của thai) và Misoprostol (gây co cơ tử cung, đẩy thai ra ngoài). Hai thuốc này cần được sử dụng cách nhau 36 – 48 giờ (với thai dưới 49 ngày tuổi). Liều thứ nhất uống tại cơ sở y tế, liều thứ hai có thể uống tại nhà, chủ động tự theo dõi sau khi được cán bộ y tế tư vấn và cung cấp đầy đủ thông tin liên quan, hiểu rõ diễn tiến của phá thai bằng thuốc và các tai biến có thể có cũng như các cách xử trí thích hợp.

Biện pháp phá thai bằng thuốc có tỉ lệ thành công cao, từ 95 – 99%. Các trường hợp thất bại bắt buộc phải hút thai sau đó.

2- Hiện nay có nhiều bạn trẻ đã lạm dụng phá thai nhiều lần, như vậy có để lại hậu quả gì không, thưa bác sỹ?

Phá thai nhiều lần có thể đem lại những tác dụng không mong muốn :

– Có thể gặp hội chứng stress sau phá thai với những biểu hiện như: rối loạn giấc ngủ, rối loạn tâm thần kinh, tự ti, xa lánh mọi người…

– Thuốc dùng phá thai nội khoa có một số tác động ảnh hưởng toàn thân như nhức đầu, choáng váng, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, sốt hoặc ớn lạnh, rong huyết nhẹ, nặng hơn như băng huyết, sót nhau, sót thai, nhiễm trùng cơ quan sinh sản hoặc thai tiếp tục phát triển. Có thể gây vô sinh thứ phát, hoặc thậm chí tử vong (dù rất hiếm) nếu không được chẩn đoán và xử lý kịp thời.

3- Bác sỹ có lời khuyên gì cho những người lỡ mang thai ngoài ý muốn?

Để tránh mang thai ngoài ý muốn, chị em phụ nữ – nhất là các bạn trẻ – nên lựa chọn cho mình một biện pháp tránh thai phù hợp như dùng bao cao su, thuốc uống tránh thai , thuốc tiêm, que cấy, đặt vòng, triệt sản (đình sản). Nếu lỡ mang thai ngoài ý muốn và quyết định chấm dứt thai kỳ, các bạn nên đến các cơ sở y tế hợp pháp, đáng tin cậy, có đủ phương tiện theo dõi, đội ngũ cung cấp dịch vụ được đào tạo bài bản… để được tư vấn và theo dõi, tránh những tai biến không đáng có.

Việc quan trọng sau đó là các bạn cần tìm hiểu và lựa chọn cho mình một biện pháp tránh thai phù hợp, tránh việc phá thai lặp lại làm ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của bạn.

Marie Stopes International tại Việt Nam hoạt động dưới sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của Tổ chức phi chính phủ Marie Stopes International Anh Quốc, với hệ thống 10 phòng khám Sản phụ khoa – Kế hoạch hóa gia đình tại Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hạ Long, Nha Trang, Bình Dương, Cần Thơ. Các phòng khám này chuyên tư vấn và cung cấp các biện pháp tránh thai hiện đại, khám và điều trị các bệnh phụ khoa, chăm sóc thai sản, xét nghiệm sớm ung thư cổ tử cung, chấm dứt thai nghén an toàn, chất lượng do đội ngũ y bác sĩ nhiều kinh nghiệm đảm trách, trang thiết bị hiện đại và phong cách chăm sóc khách hàng thân thiện, tôn trọng và kín đáo.

Địa chỉ và thông tin liên hệ của hệ thống phòng khám Marie Stopes International tại Việt Nam: Truy cập website http://www.mariestopes.org.vn hoặc gọi điện cho tổng đài hỗ trợ khách hàng 1900 55 88 82 để biết thêm thông tin chi tiết.

4 nguyên tắc cải thiện tình dục cho người bệnh tim

Các nhà khoa học tại Massachusetts (Mỹ) nhận ra rằng: “Tình dục có tác dụng bảo vệ trái tim của phái mạnh. Những người đàn ông quan hệ tối thiểu 2 lần/tuần ít mắc bệnh tim hơn người chỉ quan hệ 1 lần/tháng”.

Theo Hiệp hội tim mạch Mỹ, khi mắc bệnh tim, đàn ông vẫn có thể sinh hoạt tình dục như… thường. Thực ra chỉ có 1% trong số 5% đàn ông mắc bệnh tim có khuynh hướng bị co thắt ngực do động mạch vành bị tắc nghẽn xảy ra khi sinh hoạt tình dục.

Mặt khác, một số nghiên cứu cho biết, đàn ông thường xuyên thỏa mãn quan hệ tình dục có thể giảm 45% mối đe dọa của bệnh tim so với đàn ông chỉ quan hệ 1 lần/tháng hoặc ít hơn.

Các nhà khoa học tại Massachusetts (Mỹ) đã nghiên cứu hơn 1.000 đàn ông từ 40 đến 70 tuổi và nhận ra rằng: “Hình như tình dục có tác dụng bảo vệ trái tim của phái mạnh. Những người đàn ông quan hệ tối thiểu 2 lần/tuần ít mắc bệnh tim hơn người chỉ quan hệ 1 lần/tháng hoặc ít hơn”.

4-nguyen-tac-cai-thien-tinh-duc-cho-nguoi-benh-tim

Tình dục có nhiều lợi ích cho sức khỏe – Ảnh minh họa

Họ đã chứng minh được tình dục có nhiều lợi ích cho sức khỏe nhờ vào tác động về thể chất và cảm xúc đối với cơ thể. Đàn ông thường xuyên ham muốn tình dục và bị hấp dẫn bởi tình dục thường có sức khỏe tốt. Tình dục giúp cải thiện tình trạng sức khỏe, giảm căng thẳng tinh thần do cảm giác sảng khoái của tình dục mang lại.

Cũng theo hiệp hội này, những người mắc bệnh tim vẫn có thể “sinh hoạt” nếu tuân thủ bốn nguyên tắc cơ bản:

– Thứ nhất là phải chọn thời điểm thích hợp trong ngày khi bạn không bị căng thẳng tinh thần, khi bạn đang thư giãn hoặc nghỉ ngơi để quan hệ.

– Thứ hai là khoảng 3 giờ đồng hồ sau bữa ăn mới được quan hệ bởi khi đó thức ăn đã tiêu hóa hoàn toàn.

– Thứ ba là phải bắt đầu bằng sự nhẹ nhàng, âu yếm để khởi sự quan hệ.

– Cuối cùng, phải báo ngay với bác sĩ khi bạn cảm thấy cơn đau ngực và choáng váng xuất hiện trong thời gian quan hệ.

Nói tóm lại, khi bệnh ở mức độ nhẹ, không gây ra những triệu chứng đáng kể và áp lực máu ở mức bình thường thì quan hệ tình dục sẽ an toàn. Bệnh ở mức trung bình cho đến hơi nặng và có những vấn đề khác về sức khỏe do bệnh tim, bạn cần đến bác sĩ kiểm tra và xét nghiệm nếu cần thiết để có giải pháp thích hợp khi quan hệ tình dục.

Nếu là bệnh tim kinh niên không rõ nguyên nhân, thì bạn nên ngừng quan hệ tình dục cho đến khi bệnh được chữa trị thuyên giảm.

(Theo Danviet)

4 món ăn nên dùng trước khi tập thể dục

 

Hầu hết mọi người thường chạy buổi sáng với cái bụng rỗng. Điều đó là hoàn toàn sai lầm.

Ngày nay phụ nữ thường chú trọng nhiều hơn tới việc tập thể dục do nhu cầu của sức khỏe. Tập thể dục đang là một phương pháp giúp kiểm soát trọng lượng, chống lại bệnh tật, giải tỏa căng thẳng, giúp giấc ngủ ngon, làm tăng năng lượng cũng như hữu ích cho đời sống tình dục.

Hầu hết mọi người thường chạy thể dục buổi sáng với cái bụng rỗng. Điều đó là hoàn toàn sai lầm, vì nó khiến bạn cảm thấy mệt mỏi và dễ choáng ngay từ lúc bắt đầu tập luyện. Bạn nên tìm một thời gian chính xác và thích hợp để có một bữa ăn nhỏ. Các đồ ăn nhẹ và lành mạnh với cơ thể sẽ là nguyên liệu tốt cho bạn trong và sau khi tập thể thao.

Theo Livestrong, thay vì dùng một bữa ăn đủ dinh dưỡng bạn có thể ăn một chút đồ ăn nhẹ có nhiều protein và carbohydrate. Tham khảo lời khuyên từ bác sĩ về chế độ ăn uống cũng như kế hoạch tập thể dục của bạn, nếu như trước đó bạn có vấn đề về sức khỏe.

Bánh mì và nước quả

Ăn một miếng bánh mì với một ly nhỏ nước hoa quả sẽ giúp bạn tiếp thêm sinh lực cho cơ thể mà không lo ngại về việc tăng cân. Với việc có một bữa ăn nhẹ trước khi tập thể dục sẽ khiến cơ thể bạn duy trì một nguồn năng lượng trong vòng một giờ. Tuy vậy nếu bạn có bài tập thể dục nhiều hơn một giờ đồng hồ, bạn sẽ cần phải tiếp nhiên liệu với một bữa ăn nhẹ đủ protein.

Sinh tố sữa chua

Một ít trái cây tươi, nước đá và một hộp sữa chua, xay nhuyễn tất cả nguyên liệu. Nếu muốn bạn có thể thêm một chút mật ong hoặc xi-rô để làm ngọt. Sinh tố sữa chua là bữa ăn nhẹ và mát mà bạn có thể uống khoảng 30 phút trước khi tập thể dục. Sữa chua có chứa protein, trong khi trái cây sẽ cung cấp cho cơ thể bạn một nguồn năng lượng mới.

Chuối

Nếu bạn có kế hoạch tập thể dục nhiều hơn một giờ đồng hồ, trước khi tập luyện của bạn nên ăn chuối. Một quả chuối có chứa các carbohydrate phức hợp, giúp kéo dài năng lượng cơ thể của bạn hơn. Hoặc bạn có thể dùng một quả chuối như một bữa ăn nhẹ giữa giờ tập luyện nếu có kế hoạch tập trong vài giờ.

Sữa chua ít béo

Ăn một cốc sữa chua ít béo trước khi bạn tập thể dục sẽ giúp tiếp sinh lực cho cơ thể của bạn bởi vì nó chứa một hàm lượng protein cao. Bạn có thể cho thêm một ít trái cây vào ăn cùng nhằm bổ sung thêm hàm lượng carbonhydrate. Nếu bạn sử dụng sữa chua trong quá trình tập luyện của bạn, nó giúp ổn định lượng đường trong máu.

(Theo Ngôi sao)

 

Thời trang có thể gây bệnh

Cách ăn mặc có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng là dễ mắc bệnh viêm nhiễm, cố gắng thụ thai và có khi còn dẫn tới tử vong.

Áo thít eo

Tác dụng phụ: Stress mất kiểm soát, ợ nóng, đầy hơi, choáng.

Loại áo này làm ép bụng của bạn, nếu mặc một thời gian dài sẽ làm co thắt bụng và vùng bàng quang, làm suy yếu cơ bắp. Nó dẫn đến rò rỉ nước tiểu với một áp lực nhỏ, nhất là khi bạn ho hoặc hắt hơi.

Hơn nữa, loại áo này ép phổi và sau thời gian dài, tình trạng thiếu oxy làm cho bạn ra mồ hôi. Nếu không ngay lập tức nhận ra những gì đang xảy ra, rất có thể bạn sẽ bị choáng và ngất. Nếu mặc áo này trong và sau bữa ăn, áp lực ở bụng dưới càng tăng lên đẩy lượng axit lên ống dẫn thức ăn dẫn đến ợ nóng. Áo thít eo này còn có thể gây ra hội chứng ruột kích thích trào ngược.

Đồ lót bó chặt

Tác dụng phụ: Viêm bàng quang, nhiễm trùng nấm, nam giới vô sinh.

Trong khi lựa chọn đồ lót (áo ngực hoặc quần lót), cần đảm bảo rằng đàn hồi không phải là quá chặt chẽ và phải bằng vải tự nhiên. Hiệp hội Y khoa Anh cho rằng, loại áo ngực siết eo không tốt bởi vì chúng ngăn chặn việc lưu thông bạch huyết bằng cách ép chặt vào da. Ở nam giới, mặc đồ lót quá chặt chẽ sẽ chống lại các tuyến sinh dục, làm cản trở dòng chảy của tinh trùng và có thể dẫn đến vô sinh trong thời gian dài.

Đồ lót bằng sợi tổng hợp còn ngăn cản không cho không khí lưu thông, dẫn đến nhiễm nấm trên da, hoặc nhiễm nấm đường tiết niệu.

Quần jeans bó sát

Tác dụng phụ: Đau dây thần kinh ở chân / tay / ngón tay, ợ nóng, thoát vị trầm trọng hơn.

Quần jeans bó chặt quá sẽ gây áp lực lên dây thần kinh quan trọng từ cột sống. Vì vậy, nếu bạn cảm thấy đau buốt chạy xuống ngón tay út, hoặc chân, thì rất có thể đó là do sự căng thẳng xung quanh thắt lưng của bạn. Tạp chí Hiệp hội Y tế Canada gần đây đã báo cáo một nghiên cứu cho biết quần ôm bó sát sẽ làm tăng áp lực lên các dây thần kinh chạy từ xương chậu vào đùi bên ngoài, gây ra các triệu chứng như ngứa ran, tê và cảm giác nóng đốt bên trong.

Quần jeans bó chặt cũng tạo ra một môi trường ấm và ẩm ướt, tạo điều kiện cho nấm phát triển mạnh. Một nguy hiểm khác nữa là ảnh hưởng đến thoát vị. Nếu bạn ho, cười hoặc hắt hơi, có thể dẫn đến thoát vị.

Cổ áo hoặc đeo ca vát quá chặt

Tác dụng phụ: Tăng nhãn áp, chóng mặt, nhức đầu, đau vai.

Cổ áo và ca vát khi quá chặt vào cổ sẽ có thể gây ra thắt động mạch cảnh ở vai và đầu. Kết quả là đau đầu, mờ mắt, chóng mặt, đau xuống cánh tay, và nếu bạn cực kỳ không may mắn thì thậm chí có thể bị mù,.

Bệnh tăng nhãn áp xuất hiện là khi có quá nhiều áp lực lên bóng mắt, gây tổn hại thần kinh thị giác. Bệnh tăng nhãn áp cũng có thể do di truyền, vì vậy những người dễ bị bệnh tốt nhận nên để cổ áo rộng và ca vát không quá chặt.

Cổ áo và ca vát khi quá chặt vào cổ sẽ có thể gây ra thắt động mạch cảnh ở vai và đầu. (ảnh minh họa)

Đi giày dép chật

Tác dụng phụ: Sưng tấy ngón chân cái, nhiễm nấm.

Điều đầu tiên cần nhớ là nếu giày và tất không phù hợp có thể làm cho chân chúng ta ra nhiều mồ hôi và đó chính là nguyên nhân bị nấm. Mùi hôi và phát ban chỉ là một rắc rối nhỏ khi đi giày dép quá chật. Ngoài ra, nó còn có thể làm cho ngón chân bị biến dạng, nếu đi về lâu dài còn khiến các ngón chân dính với nhau.

Giày hẹp quá chật cũng bẻ cong khớp ngón chân, làm cho ngón chân luôn cuộn tròn, làm móng chân mọc vào trong, mắt cá chân sưng và nổi chai…

(Theo Eva)

Hiểu và vượt qua chứng trầm cảm sau sinh

(Webtretho) Những ngày sau khi sinh em bé, các bà mẹ bỗng trở nên vui, buồn bất chợt, dễ rơi nước mắt, tủi thân, hay lo âu, chán ăn, khó ngủ… đó chính là những biểu hiện của chứng trầm cảm sau sinh. 

Hiểu về trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh là bệnh mô tả một loạt những biểu hiện suy giảm về tinh thần lẫn thể chất, xảy ra với một số sản phụ trong thời kỳ hậu sản. Triệu chứng có thể xuất hiện vài ngày hoặc thậm chí vài tuần sau sinh, có thể xảy ra sau bất cứ lần sinh nào, không chỉ có ở đứa con đầu, có thể tự bớt trong một khoảng thời gian ngắn hoặc cũng có thể kéo dài.

Nếu sau khi sinh bé, mẹ cảm thấy suy sụp và bắt đầu có những ý nghĩ tiêu cực về bản thân và con, rất có thể mẹ đang ở trong tình trạng trầm cảm sau sinh. Ảnh: Inmagine.

Trầm cảm sau sinh có thể ở mức độ nhẹ qua những biểu hiện như tâm trạng đau buồn, suy sụp sau sinh, đánh giá thấp bản thân. Một số trường hợp biểu hiện ở mức độ nguy hiểm như có ý tưởng muốn tự sát hoặc những hành động làm chết chính con mình. Trầm cảm sau sinh dễ làm người phụ nữ mất khả năng chăm sóc trẻ an toàn, và nếu không điều trị, các triệu chứng có thể ngày càng xấu hơn và kéo dài thậm chí cả năm. Những bé có mẹ bị trầm cảm thường có nguy cơ phát triển không tốt về sức khỏe cũng như tâm lý về sau. 

Có vài yếu tố kết hợp làm tăng bệnh suất như: sinh con ở tuổi thành niên (dưới 20 tuổi), bà mẹ đơn thân hoặc sinh con ngoài ý muốn, mẹ hút thuốc lá hoặc có sử dụng thuốc gây nghiện trong thai kỳ. Trầm cảm sau sinh còn thường xuất hiện ở những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn về tài chính, thất nghiệp, không hài lòng với công việc, cô độc, không được giúp đỡ, có mối quan hệ không tốt với cha đứa trẻ hoặc người thân, hoặc gặp phải biến cố tâm lý lớn trong thời gian mang thai (như mất người thân)…

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy những yếu tố nguy cơ về tiền sử sản khoa đã đóng vai trò đáng kể trong việc hình thành những rối loạn trên như: tiền căn khi có thai, sẩy thai, tình trạng phát triển của một thai kỳ khó khăn từ các bệnh lý của mẹ và từ sự phát triển không bình thường của thai nhi như thai dị tật, thai suy dinh dưỡng, sanh con nhẹ cân.

Các triệu chứng điển hình của trầm cảm sau sinh

Triệu chứng của trầm cảm sau sinh cũng tương tự với triệu chứng của bệnh trầm cảm (rối loạn trầm cảm) gặp phải ở những thời điểm khác trong cuộc sống:

  • Khí sắc trầm cảm: Người bệnh hay than phiền rằng mình cảm thấy buồn, chán nản, trống rỗng, vô vọng hoặc “không còn tha thiết điều gì nữa”.
  • Mất hứng thú với bất kỳ hình thức hoạt động nào mà trước đó họ rất thích như hoạt động tình dục, sở thích các công việc hàng ngày.
  • Ăn mất ngon: khoảng 70% có triệu chứng này và kèm theo sụt cân.
  • Rối loạn giấc ngủ: khoảng 80% bệnh nhân than phiền có một loại rối loạn nào đó của giấc ngủ.
  • Rối loạn tâm thần vận động: khoảng 50% bệnh nhân trở nên chậm chạp, trì trệ.
  • Mất sinh lực: hầu hết biểu hiện mệt mỏi mặc dù không làm gì nhiều, đa số bệnh nhân mô tả cảm giác cạn kiệt sức lực.

    Ngoài chán nản, cảm giác kiệt quệ dai dẳng là dấu hiệu thường gặp của chứng trầm cảm. Ảnh: Inmagine.

  • Mặc cảm, tự ti, thấy mình vô dụng và có lỗi: đánh giá thấp bản thân, thường tự trách mình và khuếch đại các lỗi lầm nhỏ nhặt của mình. Nặng hơn có thể đi đến hoang tưởng thậm chí có cả ảo giác.
  • Thiếu quyết đoán và giảm tập trung: 50% bệnh nhân than phiền suy nghĩ của mình quá chậm, tập trung kém và rất đãng trí. Ứng xử trở nên lúng túng do họ không thể đưa ra các quyết định.
  • Ý tưởng tự sát: nghĩ về cái chết, 1% bệnh nhân trầm cảm tự sát trong vòng 12 tháng kể từ khi phát bệnh; với các trường hợp tái diễn, 15% chết do tự sát.
  • Lo âu: căng thẳng nội tâm, lo sợ, đánh trống ngực, mạch nhanh, cồn cào bao tử. Các triệu chứng lo âu và trầm cảm đi kèm và đôi khi rất khó phân biệt.
  • Triệu chứng cơ thể: đau đầu, đau lưng, chuột rút, buồn nôn, táo bón, thở nhanh, thở sâu, đau ngực. Thường các triệu chứng này làm bệnh nhân trầm cảm đến với các cơ sở khám bệnh đa khoa thay vì tâm thần.
  • Các triệu chứng thường gặp như bồn chồn, khó chịu và dễ kích động, khó ngủ, mệt mỏi và những than phiền về cơ thể. Cảm xúc không ưa trẻ hay nghi ngờ trẻ cũng là những triệu chứng thường gặp và là triệu chứng phổ biến ở những phụ nữ bị trầm cảm.

Một bà mẹ bị trầm cảm sau sinh cũng có thể có các triệu chứng và biểu hiện sau sau:

  • Không thể tự chăm sóc cho bản thân và chăm sóc cho em bé.
  • Sợ hãi khi ở một mình cùng con.
  • Có những cảm xúc và ý nghĩa tiêu cực về con, thậm chí có suy nghĩ đến việc làm tổn hại chính con mình. Tuy những xúc cảm này là đáng sợ nhưng hầu hết họ sẽ không thực hiện. Gia đình cần phát hiện sớm để người mẹ được điều trị tâm lý kịp thời.
  • Lo lắng quá nhiều về bé hoặc tỏ ra không đoái hoài gì đến bé.

Chẩn đoán và điều trị

Các lời khuyên hữu ích cho bà mẹ trầm cảm sau sinh:

  • Yêu cầu bạn đời, người thân và bạn bè giúp chăm sóc bé và làm việc nhà.
  • Đừng che giấu cảm xúc với những người thân yêu nhất.
  • Không thực hiện những thay đổi lớn trong thời gian mang thai và ngay sau sinh (như chuyển việc, chuyển nhà… )
  • Đừng cố làm quá nhiều và quá cầu toàn.
  • Dành thời gian riêng tư với bạn đời hoặc đi thăm người thân.
  • Nghỉ ngơi bất kỳ lúc nào có thể và hãy cố ngủ khi em bé ngủ.

Trầm cảm sau sinh có thể điều trị bằng thuốc và qua sự giúp đỡ, hướng dẫn, tư vấn về tâm lý từ thầy thuốc và những người thân. Nhiều bà mẹ thường biểu hiện những triệu chứng trầm cảm kéo dài nhiều tháng trước khi bắt đầu điều trị. Mặc dù những triệu chứng trầm cảm có thể tự khỏi, nhưng nhiều bà mẹ vẫn còn trầm cảm đến một năm sau khi sinh con.

Trầm cảm sau sinh không thể được chẩn đoán chỉ qua một xét nghiệm đơn giản, hơn nữa bệnh còn có các triệu chứng tương đồng với một số bệnh khác, do vậy, bệnh nhân cần được xét nghiệm để loại trừ các bệnh trước khi có thể chẩn đoán mắc trầm cảm. Cùng vì thế, trầm cảm sau sinh thường được chẩn đoán ở cơ sở y tế thông thường chứ không phải là trong một phòng khám chuyên khoa tâm thần. Bên cạnh việc đánh giá các biểu hiện đặc trưng của trầm cảm, bác sĩ cũng có thể cho bệnh nhân trả lời một bảng hỏi để kiểm tra về xúc cảm, suy nghĩ và tâm lý.

Nếu được chẩn đoán trầm cảm, bạn sẽ được theo dõi ít nhất 6 tháng. Với các bà mẹ đang nuôi con bằng sữa mẹ, bác sĩ sẽ lưu ý để kê đơn thuốc trầm cảm đặc biệt có thể áp dụng cho bà mẹ đang cho con bú. Y bác sĩ nơi bạn thăm khám cũng có thể cho bạn lời khuyên khi nào nên đi khám tâm thần và còn có thể giới thiệu địa chỉ khám phù hợp cho bạn. 

Để khỏi hoàn toàn rối loạn tính khí, bất chấp có yếu tố thúc đẩy, việc điều trị bằng thuốc và/ hoặc liệu pháp choáng điện và liệu pháp tâm lý là cần thiết.

Đau đầu khi nào là nguy hiểm?

Có lẽ trong cuộc đời con người, ít nhất cũng một lần “nếm” cái cảm giác bị cơn đau đầu hành hạ. Người ta ước tính khoảng 70% dân số đã từng một lần đau đầu.

Trong số nguyên nhân khiến bệnh nhân phải đi khám bệnh thì đau đầu chiếm 5 – 6% và tại các khoa cấp cứu, tỷ lệ bệnh nhân vào cấp cứu vì đau đầu chiếm khoảng 2%.

Các cấu trúc nhạy cảm với đau đớn trong và ngoài hộp sọ

Có nhiều cấu trúc nhạy cảm với đau đớn trong hộp sọ con người như da đầu, mạch máu da đầu, các cơ đầu và cổ, các xoang tĩnh mạch lớn, các động mạch của màng não, các động mạch lớn của não, các sợi nhạy cảm đau của các dây thần kinh sọ V, IX và X, các phần của màng cứng ở đáy của não. Các thành phần này thường rất nhạy cảm khi bị kích thích và gây những cơn đau đầu từ nhẹ đến nặng.

Nguyên nhân gây đau đầu rất đa dạng

Đau đầu là một biểu hiện của rất nhiều loại bệnh khác nhau do rất nhiều nguyên nhân gây ra. Nguyên nhân cơ năng (hay không có tổn thương) thường xảy ra ở người trẻ, khi làm việc căng thẳng, lo lắng quá mức hoặc do thời tiết, đau đầu vận mạch (chứng migraine), đau đầu do co cứng cơ… Loại đau đầu này thường đáp ứng tốt với điều trị bằng các thuốc giảm đau thông thường. Loại đau đầu do nguyên nhân có tổn thương một cơ quan, bộ phận nào đó trong hay ngoài hộp sọ.

Nguyên nhân gây đau đầu ngoài hộp sọ thường hay gặp là các bệnh ngoài da như zona thần kinh (dân gian gọi là bệnh giời leo), viêm động mạch thái dương, viêm các dây thần kinh chi phối vùng mặt, đau đầu do viêm xoang, do tăng nhãn áp, do viêm tai giữa, viêm tai xương chũm và nhiều khi cả do đau răng. Các nguyên nhân trong hộp sọ thường phải kể đến xuất huyết nội sọ (xuất huyết não, tụ máu dưới màng cứng mạn tính ở người già, xuất huyết dưới nhện), tắc mạch não cấp, các viêm nhiễm của não – màng não, các khối u trong não, các bệnh của hệ động mạch não như phình tách, túi phồng do dị dạng hay do xơ vữa.

Như vậy, nguyên nhân của đau đầu vô cùng phong phú và đa dạng, có khi chỉ là những cơn đau đầu thông thường, thậm chí có thể tự khỏi mà không cần điều trị cho đến những cơn đau đầu là biểu hiện của những bệnh nguy hiểm chết người như xuất huyết não, u não, phình mạch não,…

Điển hình là bệnh nhân Nguyễn Thị H, 29 tuổi, quê ở một xã ngoại thành Hà Nội. Khoảng 3 tháng nay, H liên tục bị những cơn đau đầu dữ dội hành hạ, đã đi khám nhiều nơi, uống thuốc theo đơn, bệnh có đỡ nhưng chỉ được một thời gian ngắn. Ngày 20/12, bệnh nhân đột nhiên thấy đau đầu dữ dội sau đó hôn mê và được đưa vào Bệnh viện E Trung ương cấp cứu, chụp cắt lớp sọ não pháp hiện xuất huyết dưới nhện nghi do phình mạch não.

Chụp cắt lớp đa dãy (MSCT) phát hiện 2 túi phình động mạch não dưới nền sọ. Một bệnh nhân nam khác 77 tuổi, có tiền sử nghiện rượu. Thời gian gần đây có biểu hiện đau đầu vùng gáy. Bệnh nhân đã đi khám và được chẩn đoán là thiểu năng tuần hoàn não, uống thuốc theo đơn nhưng không đỡ. Khi tới bệnh viện khám lại, bac sĩ khám thấy bệnh nhân có biểu hiện chậm chạp kèm đau đầu ít đáp ứng điều trị nên cho chụp cắt lớp sọ não để kiểm tra. Kết quả chụp cho thấy bệnh nhân bị tụ máu dưới màng cứng mạn tính là nguyên nhân gây nên những cơn đau đầu dai dẳng.

Biểu hiện của cơn đau đầu “nguy hiểm”

Những cơn đau đầu có những biểu hiện bất thường như: Đau đầu dữ dội, đau đầu dai dẳng, đau đầu kèm buồn nôn, nôn, sốt cao, đau đầu kèm đau khối cơ vùng gáy, đau đầu kèm giảm hoặc mất thị lực, thính lực, đau đầu đáp ứng kém với điều trị, đau đầu kèm co giật, đau đầu kèm suy giảm trí nhớ nhanh hoặc kèm các dấu hiệu của tai biến mạch não như rối loạn ý thức, nói ngọng, liệt tay chân….

Đau đầu ở bệnh nhân tuổi trên 50, ở người có bệnh tăng huyết áp, tiểu đường, mỡ máu tăng, đau đầu nhiều ở người có bệnh tim, người đang phải dùng các thuốc chống đông cho van tim nhân tạo…, đau đầu ở người có tiền sử hoặc đang điều trị viêm tai giữa, viêm tai xương chũm.

Làm gì khi có biểu hiện đau đầu bất thường?

Khi có biểu hiện đau đầu khác thường, nên đến ngay bệnh viện để khám cụ thể và dùng các phương tiện cận lâm sàng như chụp cắt lớp thường, chụp cộng hưởng từ, chụp cắt lớp đa dãy để xác định nguyên nhân.

Các nguyên nhân gây đau đầu đặc biệt hay bị bỏ sót là dị dạng mạch não ở người trẻ và tụ máu dưới màng cứng mạn tính ở người già. Không nên vội quycho đau đầu là do “thời tiết”, do thiếu máu não”, do “hội chứng tiền đình”…trước khi đã được các thầy thuốc khám và loại trừ các nguyên nhân gây đau đầu nguy hiểm kể trên.

BACSI.com (Theo Sức khỏe & Đời sống)