Lưu trữ cho từ khóa: phổi

Dấu hiệu cảnh báo suy tim sớm

Bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, hẹp, hở van tim và rất nhiều các bệnh tim mạch khác mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau nhưng hầu hết đều chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim. Suy tim khó chữa khỏi, song việc phòng ngừa và phát hiện bệnh sớm sẽ giúp làm chậm tiến trình phát triển của bệnh. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp bạn chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời.

1. Đau thắt ngực

Đau ngực thường xảy ra sau một hoạt động gắng sức (chạy bộ, leo cầu thang, làm việc nặng). Vị trí đau ở vùng ngực trái trước tim, có thể là cảm giác khó chịu, hoặc cảm giác bị đè ép sau xương ức lan đến cổ, hàm, vai trái, cánh tay trái. Đau ngực thường bắt đầu từ từ, kéo dài vài giây đến vài phút. Tần suất cơn đau cũng không ổn định, có thể vài tuần, vài tháng một lần, nếu nặng hơn là vài lần trong một ngày.

Nguyên nhân là do khi động mạch vành (ĐMV) bị co thắt có thể gây tổn thương lớp tế bào nội mạc, dẫn đến lắng đọng cholesterol và tạo thành các mảng xơ vữa hoặc một cục huyết khối nhỏ có thể hình thành và cư trú bên trong ĐMV làm tắc nghẽn dòng máu chảy tới nuôi cơ tim.

(Ảnh do nhãn hàng Ích Tâm Khang cung cấp)

2. Khó thở

Khó thở là triệu chứng hay gặp nhất của suy tim, thường xảy ra khi gắng sức, thậm chí khi nằm hoặc tư thế đầu thấp. Người bệnh có cảm giác như hụt hơi, hồi hộp, thở gấp, tức thở. Suy tim càng nặng người bệnh càng khó thở nhiều, có người chỉ bước lên vài bậc thềm, hoặc tự tắm giặt kỳ cọ cũng khó thở. Cuối cùng, người bệnh khó thở cả khi ngồi nghỉ.

Khi tim bị suy yếu không hút được máu từ phổi về, phổi bị ứ huyết, mất tính đàn hồi và trở nên cứng, các cơ thở phải mất nhiều công sức mới làm phổi giãn ra để không khí lọt vào được. Vì vậy gây nên tình trạng khó thở ở người bệnh.

3. Mệt mỏi

Nếu đột nhiên bạn cảm thấy kiệt sức sau một hoạt động nào đấy, mà hoạt động đó trước đây bạn thực hiện rất dễ dàng, hoặc cảm giác mệt mỏi gây khó khăn cho bạn ngay cả khi thực hiện những việc đơn giản như: leo cầu thang, xách giỏ đi chợ hay thậm chí khi đi bộ. Đó là những dấu hiệu cảnh báo trái tim của bạn đang bị suy yếu.

Do tim bị suy yếu, hoạt động bơm hút máu bị hạn chế dẫn đến tim không bơm đủ máu đáp ứng cho nhu cầu của cơ thể. Thiếu máu, người bệnh luôn có cảm giác mệt mỏi và khó khăn trong mọi hoạt động.

4. Ho

Tình trạng ho kéo dài dai dẳng không rõ nguyên nhân có thể là một trong những triệu chứng của suy tim. Ho trong suy tim là ho khan, khó khạc đờm. Tình trạng ho kéo dài làm người bệnh mệt mỏi, mất ngủ, có khi khàn tiếng. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh bị ho khi nằm, ngả lưng là ho và bắt buộc phải ngồi dậy mới dễ chịu. Tim suy yếu không hút được máu từ phổi, gây nên ứ máu tại phổi và dẫn đến tình trạng ho. Nhiều bệnh nhân dễ nhầm với các bệnh về phổi như viêm phổi, viêm phế quản.

5. Phù

Khi mới bắt đầu, người bệnh chỉ thấy hai mí mắt nặng khi ngủ dậy, mặt hơi phù như mọng nước; buổi chiều thấy phù nhẹ hai bàn chân, giày dép đi buổi sáng vừa, buổi chiều thấy chật. Lấy ngón tay ấn lên mắt cá chân, khi nhấc ngón tay thấy da vẫn lõm. Ở mức nặng hơn, phù làm bụng trướng, khó tiêu, nặng nề. Mặt to ra như béo lên, tuy nhiên, phù do suy tim không giữ nước nhiều như người bệnh thận.

Khi lưu lượng máu qua tim bị chậm lại, máu trở về tim qua các tĩnh mạch bị ứ đọng lại làm các mao mạch căng lên và gây thoát dịch qua thành mao mạch vào các vùng lân cận, gây nên phù. Mặt khác, do thận lọc kém, nước tiểu ít đi, nước tích lại trong người cũng gây phù.

Như vậy, không nên chủ quan khi gặp các dấu hiệu: khó thở, mệt mỏi, ho, phù, đau thắt ngực,…nhất là khi bạn đang mắc một trong số các bệnh về tim mạch. Ngay khi phát hiện có một trong các dấu hiệu trên, hãy đến khám tại các bệnh viện chuyên khoa để phát hiện và điều trị kịp thời trước khi trái tim bị suy yếu.

TPCN Ích Tâm Khang – có nguồn gốc từ thiên nhiên, với nhiều thành phần có lợi cho tim, giúp:

–  Làm giảm các triệu chứng của suy tim: mệt mỏi, khó thở, ho, phù, xanh xao, hồi hộp

–   Cải thiện tuần hoàn mạch vành, giúp giảm đau thắt ngực.

–   Phòng ngừa suy tim ở những người có nguy cơ cao (bệnh tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, bệnh mạch vành, bệnh van tim…)

Thông tin tư vấn sản phẩm: 04.3775.9865 – 08.3977.8085

(website: dongtay.net.vn)

(Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh)

 

Sức khỏe và những biểu hiện ở mặt

Cơ thể có nhiều cách khác nhau để nói cho bạn biết những gì đang xảy ra có liên quan trực tiếp đến sức khỏe.

Trán nổi mụn

Theo y học Trung Quốc, trán liên quan đến hệ tiêu hóa và khu vực giữa hai hàng lông mày liên quan đến gan. Vì vậy, khi bạn nạp quá nhiều chất cồn thì sẽ gây ra mụn ở khu vực này, vốn thường sẽ mất đi sau một thời gian. Tuy nhiên, nếu mụn thường xuyên mọc ở đây, điều này có thể chỉ ra rằng chế độ ăn uống của bạn thiếu chất dinh dưỡng.

Phải làm gì? Bạn cần tuân theo một chế độ ăn uống lành mạnh và bổ sung đủ nước.

mat
Nên kiểm tra nồng độ hormone trong cơ thể nếu thường xuyên nổi mụn ở cằm –
Ảnh: Shutterstock

Mụn trên má

Có một vài lý do cho điều này. Lý do đơn giản là dị ứng với mỹ phẩm hoặc khăn trải giường bẩn. Còn phức tạp hơn là phổi bạn có vấn đề. Khu vực này được cho là có liên quan đến phổi và má nổi mụn có thể là kết quả của suy hô hấp. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những người hút thuốc lá, bệnh nhân hen và những người bị dị ứng dễ nổi mụn trên má.

Phải làm gì? Nổi mụn tạm thời có thể được cải thiện bằng cách thay khăn trải giường thường xuyên và loại bỏ mỹ phẩm cũ. Còn nếu mụn tái diễn thì bạn cần được bác sĩ kiểm tra.

Mụn ở cằm

Bạn có thể bị mất cân bằng nội tiết tố nếu nổi mụn ở cằm và quai hàm. Mụn cũng xuất hiện ở phụ nữ trong một số giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt. Tuy nhiên, nếu mụn nổi dai dẳng thì có thể đó là tình trạng rối loạn nội tiết như hội chứng buồng trứng đa nang.

Phải làm gì? Kiểm tra nồng độ hormone trong cơ thể bạn.

Thâm quầng và túi mọng dưới mắt

Những vấn đề này chủ yếu là do di truyền, song nếu bạn cảm thấy chúng ngày càng tệ hơn hoặc đột nhiên xuất hiện, đó có thể liên quan đến thận. Những thay đổi kể trên có thể cảnh báo bạn bị mất nước hoặc các độc tố đang hình thành.

Phải làm gì? Uống nhiều nước và giảm bớt chất cồn, muối, caffeine. Có thể bạn bị thiếu máu do thiếu vitamin B12 hoặc chất sắt.

Thay đổi màu sắc của lưỡi

Lưỡi bạn có thể chỉ ra một số vấn đề sức khỏe – thiếu máu do thiếu chất sắt, folate, vitamin B12 – gây đau, ngứa lưỡi hoặc đỏ nhạt. Mặt khác, nếu lưỡi nhuốm màu hơi xanh, nó có thể cho biết tình trạng thiếu ô xy trong máu, trong khi các tổn thương màu trắng có thể là dấu hiệu của bệnh tưa miệng.

Phải làm gì? Tới bệnh viện và thăm khám kỹ lưỡng.

Lông quá nhiều

Hội chứng buồng trứng đa nang được cho là gây ra quá nhiều lông trên cơ thể hoặc trên mặt phụ nữ. Rối loạn nội tiết là tình trạng phổ biến gây ra rất nhiều lông trên cơ thể cũng như mụn trứng cá, tăng cân và kinh nguyệt không đều.

Phải làm gì? Hỏi ý kiến bác sĩ phụ khoa.

(Theo Thanhnien)

Dấu hiệu và cách điều trị viêm màng phổi

Viêm màng phổi xảy ra khi lớp màng kép lót trong khoang ngực và bao quanh phổi bị viêm. Viêm mang phổi thường gây đau nhiều, đặc biệt là khi thở.

Dấu hiệu và triệu chứng

– Khó thở

– Đau ngực trong khi thở

– Ho khan

– Sốt và rét run, tuỳ theo nguyên nhân

Cảm giác đau nhói thoáng qua trong ngực do viêm màng phổi thường rõ hơn khi ho, hắt hơi, cử động và thở sâu. Đau có thể lan lên vai. Đau giảm đi khi nín thở hoặc khi ấn vào vùng bị đau.

Khi viêm màng phổi có kèm theo tràng dịch màng phổi, đau thường hết do dịch có tác dụng như lớp đệm giúp hai lá màng phổi không cọ vào nhau. Tuy nhiên khi dịch màng phổi nhiều có thể chèn ép phổi và gây khó thở. Nếu dịch màng phổi bị nhiễm trùng, có thể xuất hiện triệu chứng ho khan, sốt và rét run.

viem-mang-phoi

Nguyên nhân

Nhiễm virus cấp tính, như cúm

Viêm phổi, trong đó phần phổi bị nhiễm trùng bao gồm cả màng phổi

Các bệnh tự miễn, như lupus, viêm khớp dạng thấp và viêm gan tự miễn

Lao và các bệnh nhiễm trùng khác

Huyết khối tắc mạch phổi.

Viêm màng phổi có thể xảy ra do chấn thương phổi hoặc sau mổ tim. Một số trường hợp viêm màng phổi không xác định được nguyên nhân (vô căn).

Xét nghiệm và chẩn đoán

Tiếng cọ màng phổi khi nghe phổi bằng ống nghe

Các xét gnhiệm hình ảnh: chụp X quang phổi, chụp cắt lớp vi tính (CT)

Xét nghiệm máu để xác định nhiễm trùng và phát hiện bệnh tự miễn.

Chọc dò màng phổi để lấy dịch màng phổi làm xét nghiệm.

Phẫu thuật lồng ngực dưới sự hỗ trợ của video để lấy mẫu bệnh phẩm.

Điều trị

Mục tiêu quan trọng nhất trong điều trị viêm màng phổi hoặc tràn dịch màng phổi là điều trị căn nguyên. Ví dụ nếu viêm màng phổi là do viêm phổi do vi khuẩn, có thể dùng kháng sinh để điều trị. Nhưng với viêm màng phổi do virus thì kháng sinh sẽ không có tác dụng.

Các thuốc chống viêm phi steroid có kê đơn hoặc không kê đơn có thể làm giảm một số dấu hiệu và triệu chứng. Codeine giúp làm giảm ho và đau. Nếu dịch màng phổi nhiều, bệnh nhân có thể phải đặt ống dẫn lưu dịch.

Kết quả điều trị sẽ phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh.

(Theo Bee)

Não bộ và chức năng phổi

Một nghiên cứu được thực hiện ở Thụy Điển phát hiện mối liên hệ giữa khả năng giải quyết vấn đề của não bộ và chức năng phổi.

Cụ thể, sức khỏe phổi tốt có thể giúp duy trì tốc độ xử lý cũng như khả năng giải quyết vấn đề của não bộ khi bạn về già.

tap-the-duc
Tập thể dục giúp phổi khỏe, từ đó cải thiện chức năng não bộ –
Ảnh: Shutterstock

Các chuyên gia rút ra kết luận trên sau khi phân tích dữ liệu từ 832 người, từ 50 đến 85 tuổi tại Thụy Điển.

“Duy trì thói quen tập thể dục và ngưng hút thuốc lá sẽ là hai phương pháp chính yếu (bảo vệ chức năng phổi). Dinh dưỡng và môi trường sống ít bị ô nhiễm cũng góp phần (bảo vệ phổi)”, trưởng nhóm nghiên cứu Charles Emery, Giáo sư tâm lý học tại Đại học bang Ohio (Mỹ), nói.

Theo healthdaynews, cuộc nghiên cứu không xem xét đến việc chức năng phổi suy giảm ảnh hưởng đến não như thế nào, nhưng Giáo sư Emery và các đồng nghiệp của ông cho rằng, sức khỏe phổi kém có thể làm giảm lượng ô xy sẵn có trong máu. Điều này có thể ảnh hưởng đến hóa chất truyền tín hiệu giữa các tế bào não.

(Theo Thanhnien)

Phân biệt cảm cúm nặng, nhẹ để biết cách phòng tránh

Khi trời bắt đầu trở lạnh cũng chính là lúc các virus cảm cúm có cơ hội phát triển. Không có ít người vẫn chỉ nghĩ cảm cúm là một bệnh xoàng, chỉ cần dùng vài viên thuốc trị cảm là giải quyết xong vấn đề. Song, sự thật về cảm cúm không đơn giản như thế.

Một trong những nội dung tập huấn quan trọng của chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng “Bác sĩ tại gia” là phân biệt cảm cúng nặng và nhẹ, vì nó có những triệu chứng tương tự nhau nên rất dễ gây nhầm lẫn. Chương trình đã lần lượt diễn ra tại 13 tỉnh thành phố trong cả nước.

Theo các chuyên gia tư vấn của chương trình, nếu cảm nhẹ (hay còn gọi là cảm lạnh), cơ thể sẽ có 3 triệu chứng thường gặp nhất là: hắt hơi, sổ mũi (hoặc nghẹt mũi), đau đầu và có thể kèm sốt nhẹ hoặc nhức mình mẩy… Nguyên nhân gây ra cảm nhẹ là do cơ thể có sức đề kháng kém nên sẽ dễ bị nhiễm các siêu vi trùng có trong không khí trong mùa cảm cúm. Bạn cần hạn chế tiếp xúc với người bệnh và rửa tay đúng cách để tránh bị lây nhiễm.

(Ảnh được cung cấp bởi nhãn hàng Panadol Extra)

Trong khi đó, người bị cảm nặng (cảm cúm) sẽ có 6 triệu chứng thường gặp nhất là: sốt cao kèm đau nhức mệt mỏi toàn thân, ho, đau họng, hắt hơi, nghẹt mũi, sổ mũi. Nguyên nhân gây bệnh do virus cúm truyền từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp, hơi thở, nước mũi. Khi xác định bị cảm cúm nặng, người bệnh nên hạn chế tiếp xúc với người khác để tránh lây nhiễm.

Lý do cần phải lưu ý 2 loại cảm nhẹ và nặng là vì thuốc cảm là thuốc không kê toa nên đang có tình trạng: người muốn mua cứ mua, người bán cứ bán. Cả 2 đối tượng đều bỏ qua giai đoạn tìm hiểu và gọi tên bệnh cho đúng để dùng đúng thuốc và điều trị cho hiệu quả. Nếu người cảm nhẹ mà dùng các loại thuốc trị cảm liều mạnh rất dễ dẫn đến tình trạng ngà ngật, buồn ngủ thiếu tỉnh táo ảnh hưởng đến công việc sinh hoạt hằng ngày. Ngược lại, người bị cảm nặng nhưng lại dùng thuốc điều trị cảm nhẹ sẽ không dứt được bệnh làm cho bệnh kéo dài lâu ngày dễ dẫn đến bội nhiễm, thậm chí viêm phổi rất nguy hiểm.

“Bác sỹ tại gia” là chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng do Hội liên hiệp Phụ nữ ViệtNamkhởi xướng và được tài trợ bởi công ty GlaxoSmithKline – nhãn hàng Thuốc Panadol cảm cúm Extra.

Nội dung lớp tập huấn nêu ra thông điệp rất đơn giản giữa cảm nhẹ và cảm nặng khi dùng các con số 3, 6 để phân biệt triệu chứng cảm cúm nhẹ và cảm cúm nặng. Thông điệp khẳng định dùng thuốc 3 thành phần trị cảm nhẹ và 6 thành phần  trị cảm nặng. Việc này cũng giúp ích cho các chị em xử lý bệnh cảm ngay tại nhà trước khi phải đến các cơ sở y tế tuyến trên.

 

Chuyện của cậu bé hẹp thực quản

9 năm gặp lại, vẻ hạnh phúc vẫn hiện trên gương mặt Phong và cha mẹ cậu khi chúng tôi nhắc đến ca mổ năm xưa của Phong. Ba Phong chia sẻ: “Ngày đó nghĩ đến cảnh con mình lớn lên với việc ăn uống khó khăn, đeo ống bên hông mà đau cả lòng. Lúc đó chúng tôi đã đi nhiều bệnh viện nhưng ai cũng từ chối. May mắn thay gặp bác sỹ Dumas và các bác sỹ bệnh viện FV. Phải nói là các bác sỹ đã trả lại cho con chúng tôi hương vị của cuộc đời.”

Sau ca mổ, Phong đã có thể thưởng thức các món ăn mà mình yêu thích (Ảnh được cung cấp bởi Bệnh viện FV)

Cậu bé Phong chào đời trong niềm hy vọng và hạnh phúc của cha mẹ. Anh chị Lai chăm sóc con trai thật cẩn thận, nhưng cậu bé vẫn làm biếng ăn và hay bị ói sữa ngay sau khi vừa ăn xong. Đến khi Phong ăn dặm, cậu ăn rất chậm mới hết bát bột và thường xuyên mắc nghẹn. Thấy con không bình thường, anh chị đưa con đến bệnh viện Nhi Đồng 1 kiểm tra thì biết được con trai mình bị chứng hẹp thực quản bẩm sinh. Chính vì chứng bệnh trên mà Phong thường khó ăn và nôn ói sau khi ăn.

Hoang mang vì lần đầu tiên nghe căn bệnh này, cha mẹ Phong năn nỉ bác sỹ chữa cho con mình dù tốn bao nhiêu tiền cũng chấp nhận, nhưng bác sỹ từ chối vì vào thời điểm đó, các cơ quan y tế chưa có kỹ thuật để chữa căn bệnh của Phong. Các bác sỹ hẹn cha mẹ Phong khi nào có đoàn bác sỹ nước ngoài sang sẽ hỗ trợ chữa bệnh cho Phong. Trong thời gian chờ đợi, Phong phải ăn bằng cách đặt ống thông vào dạ dày. Ba mẹ đành nấu chín thức ăn, chắt thành nước bơm vào ống cho Phong để cậu đủ dinh dưỡng. Cậu bé lớn dần với ống thức ăn bên hông.

Năm Phong 8 tuổi, một lần vô tình đi ngang bệnh viện FV khi ấy vừa khánh thành, cha mẹ cậu ghé vào tìm hiểu thông tin. Được sự hướng dẫn tận tình của nhân viên bệnh viện, anh chị khấp khởi trong lòng. Hôm sau họ lập tức đưa con quay lại.

Thật may mắn vì thời điểm đó Tiến sĩ – bác sĩ Pierre – Joseph Dumas, chuyên gia phẫu thuật hàng đầu của Pháp đến thăm khám và làm việc tại bệnh viện. Sau khi kiểm tra cho Phong, bác sỹ Dumas hội chẩn với kíp mổ và quyết định: “Hẹp thực quản là một bệnh lý bẩm sinh cần được can thiệp ngoại khoa càng sớm càng tốt. Việc chậm điều trị có thể dẫn đến biến chứng viêm thực quản, viêm thanh quản, viêm phế quản phổi, hen suyễn, viêm tai, viêm xoang. Biến chứng muộn nguy hiểm hơn là hẹp thực quản, thậm chí ung thư thực quản…”

Với kinh nghiệm và kỹ thuật y khoa, bác sỹ Dumas đã đưa ra những quyết định khiến mọi đồng nghiệp vô cùng yên tâm. Kết quả ca mổ đã tiến hành vô cùng tốt đẹp.

Sau ca mổ, lần đầu tiên được ăn trọn vẹn một viên kẹo dẻo mà không phải nhả ra, Phong đã reo lên mừng rỡ: “Con ăn được rồi nè mẹ! Ba thấy không ba!” Cha mẹ cậu chỉ biết rưng rưng nước mắt mà bắt tay các bác sỹ cám ơn không ngừng. Cậu bé háo hức nếm và ăn tất cả những món mình ưa thích mà trước đến giờ không được ăn. Vẻ hạnh phúc hiện rõ trên gương mặt trẻ thơ của cậu.

Bây giờ Phong đã trở thành một cậu thiếu niên khỏe mạnh, cao to và mang nhiều hoài bão được làm việc cống hiến cho xã hội. Cậu chia sẻ: “Em cảm thấy cuộc đời mình đã lật sang trang mới từ sau ca mổ đó. Phép màu đó đến từ các bác sỹ.”

Sắp tới đây, từ ngày 12 đến 30 tháng 11 năm 2012 Tiến sĩ – bác sĩ Pierre – Joseph Dumas sẽ đến làm việc tại Bệnh viện FV. Một cơ hội cho các bệnh nhân tiếp cận kỹ thuật y khoa và kinh nghiệm chữa bệnh dày dạn của vị bác sỹ này.

Tiến sĩ – bác sĩ Dumas tốt nghiệp đại học Y khoa tại Pháp từ năm 1972. Với gần 40 năm kinh nghiệm và kiến thức y học uyên thâm, Tiến sĩ – bác sĩ Dumas được các đồng nghiệp nể trọng như một bậc thầy trong lĩnh vực phẫu thuật lồng ngực, mạch máu và tiêu hóa. Ngoài ra, ông còn là một trong những thành viên sáng lập Bệnh viện FV ngay từ những ngày đầu mới thành lập.

Lĩnh vực phẫu thuật chuyên sâu của Tiến sĩ – bác sĩ Dumas bao gồm:

  • Phẫu thuật tuyến giáp và cận giáp (đã thực hiện hơn 2.800 ca phẫu thuật)
  • Phẫu thuật nội tạng ít xâm lấn vùng ngực và bụng (nội soi lồng ngực, ổ bụng hoặc phẫu thuật nội soi hỗ trợ) ở các vị trí như thành bụng, thoát vị thành bụng, phổi, thực quản, dạ dày (trào ngược dạ dày thực quản do thoát vị hoành, loét, ung thư), đại tràng, trực tràng (cắt khối u, túi thừa), đường mật, túi mật, sỏi túi mật
  • Tái tạo thực quản, tạo hình thực quản dạ dày hoặc đại tràng (hẹp đường tiêu hóa, ung thư).

Trong suốt quãng thời gian công tác của mình, Tiến sĩ – bác sĩ đã đảm trách các chức vụ quan trọng tại các bệnh viện hàng đầu của Pháp như Trưởng bộ phận phẫu thuật cổ – lồng ngực và mạch máu, Trưởng bộ phận phẫu thuật tiêu hóa và nội tiết của Bệnh viện Đại học CHU, Bordeaux, Pháp từ năm 1977 – 1980. Ngoài ra, ông còn phụ trách giảng dạy về lâm sàng tại các bệnh viện ở Bordeaux về ngoại tổng quát và tiêu hóa trong năm 1980 – 1981 và làm Trưởng khoa tại Bệnh viện Đại học Riom từ tháng 10/1981. Năm 1993, ông được chính phủ Pháp giao nhiệm vụ ngoại giao tại Ả-rập Xê-út và làm trưởng khoa Ngoại của KFFMC tại Dahran.

Với kinh nghiệm dày dạn, ban giám đốc Bệnh viện FV đã tin tưởng giao trọng trách cho Tiến sĩ – bác sĩ Dumas khi đề cử ông đảm nhiệm chức vụ trưởng khoa Ngoại từ tháng 1/2003 đến tháng 4/ 2004. Sau đó, bác sĩ Dumas tiếp tục công tác tại Bệnh viện FV trong vai trò là bác sĩ làm việc định kỳ đến nay. Suốt thời gian công tác tại Bệnh viện FV. Ngoài tạo hình thực quản, một phẫu thuật phức tạp đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, bác sĩ Dumas còn phẫu thuật thành công cho nhiều ca bệnh bướu máu, bướu bạch huyết, phình động mạch, dãn tĩnh mạch chi dưới, u bao tử, u phổi và các trường hợp bệnh nhân biến chứng sau phẫu thuật cơ quan tiêu hóa như gan, mật, ống tiêu hóa, dạ dày, trực tràng, hậu môn… Tất cả bệnh nhân đều rất hài lòng với kết quả điều trị.

Để biết thêm chi tiết hoặc đặt hẹn với bác sĩ Pierre – Joseph Dumas, mời bạn liên hệ với khoa Ngoại, Bệnh viện FV qua số điện thoại: (08) 5411 3333 (ext: 1250) hoặc đặt hẹn trực tuyến bằng cách bấm vào đây.

Biếng ăn, suy giảm miễn dịch do thiếu kẽm và selen

Tình trạng thiếu Kẽm và Selen ở trẻ em đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Con số điều tra đáng báo động tại Việt Nam cho thấy có trên 50% trẻ từ 6 tháng đến 7 tuổi thiếu Kẽm huyết thanh và Selen tương đối, trong đó nhóm gặp nguy cơ cao nhất là nhóm trẻ từ 6 tháng đến 17 tháng tuổi và nhóm trẻ gặp vấn đề về suy dinh dưỡng và tiêu chảy. Một số nghiên cứu khác cũng cho ra những con số báo động khi hàm lượng Selen huyết thanh thấp ở học sinh THCS là 15,9%, học sinh tiểu học là 75,6%, và trẻ mẫu giáo, mầm non là 62,3%.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng:

–          26,5% trẻ từ 11-17 tuổi thiếu thiếu kẽm

–          50%-90% trẻ bị suy dinh dưỡng kéo dài thiếu kẽm

–          51,9% trẻ từ 6 tháng đến 75 tháng tuổi thiếu kẽm

–          15,9% trẻ em từ 11-17 tuổi thiếu selen

–          75,6% trẻ em cấp 1 thiếu selen

–          62,3% trẻ em từ 12-72 tháng tuổi ở nông thôn thiếu selen

Kẽm và Selen đối với tăng trưởng và miễn dịch

Đối với tăng trưởng

Kẽm giúp duy trì và bảo vệ các tế bào vị giác và khứu giác, vì thế thiếu kẽm sẽ gây biếng ăn do rối loạn vị giác, làm suy thoái quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường ở trẻ. Kẽm tham gia vào thành phần của trên 300 enzym kim loại; kẽm là chất xúc tác không thể thiếu được của ARN-polymeraza, có vai trò quan trọng trong quá trình nhân đôi AND, tổng hợp protein, thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp và điều hòa chức năng của trục hormone dưới đồi như GH (Growth hormone), IGF-I là những hormone tăng trưởng và kích thích tăng trưởng.

Selen cần cho chuyển hóa i-ốt và có chức năng như một loại enzyme trong quá trình tạo hormone tuyến giáp nhằm kích thích đầu vào năng lượng, cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì.

Đối với miễn dịch

Thiếu kẽm làm tổn thương chức năng miễn dịch, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, từ đó làm giảm tăng trưởng, phát triển của trẻ, làm tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ. Trong một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy bổ sung kẽm cho trẻ giúp làm giảm 18% trường hợp tiêu chảy, 41% trường hợp viêm phổi và làm giảm tỷ lệ tử vong trên 50%.

Thiếu Selen gây ức chế khả năng đề kháng chống nhiễm trùng, hậu quả của suy giảm chức năng bạch cầu và tuyến ức bởi Selen đóng vai trò thiết yếu trong men Glutathione peroxidase ảnh hưởng tới mọi thành phần của hệ miễn dịch, không loại trừ sự phát triển và hoạt động của bạch cầu.  

Dấu hiệu của thiếu Kẽm và Selen

Thiếu kẽm, dấu hiệu thường thấy là ăn không ngon, vị giác bất thường, rụng tóc, tiêu chảy kéo dài, thương tổn ở da và mắt, chậm lớn, cơ quan sinh dục chậm trưởng thành, sụt cân, thiếu máu, chậm lành vết thương và kém minh mẫn.

Thiếu selen ở mức trầm trọng có liên quan đến bệnh Keshan – một bệnh rối loạn ở tim và tổn thương cơ tim nặng nề, xuất hiện chủ yếu ở trẻ em và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Thiếu selen mức độ nhẹ thường khó thấy các triệu chứng đặc biệt, tuy nhiên nó góp phần làm xuất hiện các tổn hại tế bào quan trọng cũng như thúc đẩy quá trình lão hóa và nguy cơ mắc các bệnh thoái hóa. Thiếu selen trong chế độ ăn lâu dài dẫn đến nguy cơ ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch.

Nhu cầu Kẽm và Selen khuyến nghị cho trẻ em Việt Nam

Nhu cầu kẽm ở trẻ dưới 1 tuổi vào khoảng 5mg/ngày, ở trẻ 1-10 tuổi khoảng 10mg/ngày, thanh thiếu niên và người trưởng thành khoảng 15mg/ngày đối với nam và 12mg/ngày đối với nữ.

Nhu cầu selen ở trẻ 0-6 tháng là 6 mcg/ngày, trẻ 7-12 tháng là 10 mcg/ngày, trẻ 1-3 tuổi là 17 mcg/ngày, trẻ 4-9 tuổi khoảng 20 mcg/ngày, đối với thanh thiếu niên 10-18 tuổi nhu cầu là 26 mcg/ngày ở nữ và 32 mcg/ngày ở nam (Nguồn: FAO/WHO 2002 và 2004)

(Ảnh do Biolife cung cấp)

Nguồn cung cấp Kẽm và Selen cho cơ thể

Thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng…). Với trẻ nhũ nhi, để có đủ kẽm, nên cố gắng cho bú mẹ vì kẽm trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò. Lượng kẽm trong sữa mẹ ở tháng đầu tiên là cao nhất (2-3 mg/lít), sau 3 tháng thì giảm dần còn 0,9mg/l. Lượng kẽm mà người mẹ mất qua sữa trong 3 tháng đầu ước tính khoảng 1,4 mg/ngày. Do đó, người mẹ cần ăn nhiều thực phẩm giàu kẽm để có đủ cho cả hai mẹ con.

Hàm lượng Selen cao trong cá, hải sản (20,8 – 40,5 đến mcg/100g) và trứng (40,2 mcg đến 14,9 mcg/100g), vừa phải ở thịt gia cầm, đậu hạt và thấp ở sữa bò, ngũ cốc, rau và hoa quả.

Hàm lượng Kẽm và Selen từ hạt đậu xanh nảy mầm tự nhiên(Ảnh do Biolife cung cấp)

Hạt đậu xanh nảy mầm tự nhiên với công nghệ Bio-Enrich (Ảnh do Biolife cung cấp)

 

Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu thành công công nghệ Bioenrich tăng hàng nghìn lần hàm lượng khoáng vi lượng như Kẽm, Selen, Sắt… trong mầm các loại đỗ. Với các thành tựu của khoa học và công nghệ, con người ngày càng chủ động hơn với các nguồn bổ sung khoáng vi lượng tự nhiên cần thiết hàng ngày. Gần đây nhất, công ty CP Biolife đã cho ra đời sản phẩm UpKid từ công nghệ Bioenrich (www.biolife.vn) điều khiển quá trình nảy mầm của hạt đỗ xanh, giúp chuyển hóa với hiệu suất tối đa khoáng chất vi lượng Kẽm và Selen vô cơ sang cấu trúc hữu cơ tự nhiên thân thiện với cơ thể của trẻ nhỏ, tăng khả năng hấp thu hoàn toàn tới 90%, không để lại dư thừa trong cơ thể. 

Đau ngực phải có liên quan đến phổi?

Thưa bác sĩ,

Tôi là nam năm nay 21 tuổi, thỉnh thoảng tôi bị đau ngực bên phải, trước kia tôi có hút thuốc lá nhưng đã bỏ được 1 thời gian, liệu triệu chứng tôi bị có liên quan đến phổi không ạ?

Cảm ơn bác sĩ! (Tuan Anh – vutuananh…@yahoo.com)

BS-CK1 Bùi Anh Tú:

Chào bạn Tuan Anh,

Đau ngực phải có thể có rất nhiều nguyên nhân, liệt kê theo cấu trúc giải phẫu thì đau ngực phải có thể do: đau thần kinh – cơ – xương vùng ngực, đau do màng phổi, đau bệnh tại phổi, phía dưới: đau do áp xe gan, viêm tụy…

Như vậy đau ngực phải chỉ là một triệu chứng của nhiều bệnh khác nhau, do đó khó có thể chỉ dựa vào triệu chứng này để chẩn đoán bệnh cho bạn được.

Bạn cần phải đi khám và nếu cần có thể cần làm những xét nghiệm thông thường như X-quang tim phổi, điện tim… giúp cho chẩn đoán chính xác từ đó có hướng điều trị phù hợp.

Thân chào!

(Theo Alobacsi)

Triệu chứng bừng tỉnh, thở gấp lúc nửa đêm

Có người cho rằng ai đó đột nhiên tỉnh dậy lúc nửa đêm mà thở gấp là bị “bóng đè” hay vừa gặp cơn ác mộng. Tuy nhiên, khoa học cho thấy có một vài lý do cho hiện tượng này và có thể đó là một triệu chứng bệnh cần chẩn đoán.

Ngưng thở khi ngủ. Đây là một loại rối loạn giấc ngủ có thể đánh thức người ta khi ngủ do tắc nghẽn  đường thở. Lý do tắc nghẽn đường thở có thể là từ mô thừa, cơ của đường hô hấp yếu, vị trí của hàm hay lưỡi lớn và amiđan. Nếu cảm thấy nghi ngờ, nên chẩn đoán sớm vì chứng ngưng thở khi ngủ để lâu có thể trở thành nguy hiểm.

Suy tim. Suy tim có thể gây ra khó thở. Tình trạng này cũng được biết đến như một cơn khó thở kịch phát về đêm và có thể gây tử vong nếu không được điều trị. Tuy nhiên, không cần hoảng sợ nếu bạn tỉnh giấc và thở hổn hển lúc nửa đêm bởi khó thở kịch phát về đêm thường đi kèm với một số triệu chứng khác như hụt hơi khi leo cầu thang và sưng mắt cá chân.

Ngạt mũi. Đối với những người dễ bị viêm mũi dị ứng hoặc cảm lạnh, dịch mũi bài tiết lúc nửa đêm có thể khiến họ tỉnh giấc, thở hổn hển. Khi đó, người nằm ở tư thế ngửa, dịch tiết mũi có thể di chuyển xuống cổ họng, chặn đường thở, sau đó, não bộ được thông báo  rằng đường hô hấp bị chặn và oxy không thể đưa vào phổi, não sẽ gửi tín hiệu đến các cơ ngực tạo ra ho và thở gấp. Vì vậy, mọi người thức dậy cảm giác như họ đang nghẹt thở. Trường hợp này có thể phòng bị trước bằng thuốc kháng histamine hay thuốc cảm lạnh trước khi đi ngủ.

Hen suyễn. Cơn hen suyễn đột nhiên bùng phát có thể đi kèm với hiện tượng thở khò khè, khó thở và cảm giác tức ngực. Khi bị bệnh hen suyễn tấn công, niêm mạc của đường hô hấp trở nên sưng và chất nhầy được sản sinh, đó có thể là thủ phạm của tình trạng thiếu không khí. Bệnh nhân hen suyễn thường xuyên có thuốc đề phòng tình huống bất ngờ là như vậy.

Phù phổi. Điều này được đặc trưng bởi sự tích lũy quá mức dịch trong khoảng kẽ  và phế nang phổi, làm cho việc thở trở nên khó khăn. Khi ai đó nằm xuống, tình trạng khó thở tăng lên, không loại trừ nguy cơ tỉnh giấc khó thở, hốt hoảng, sợ sệt. Phù phổi cấp tính là trường hợp cần được cấp cứu nếu có thêm các triệu chứng như ho có đờm lẫn máu, người tím tái, co giật, lơ mơ…

Căng thẳng. Đôi khi nguyên nhân có thể là vấn đề tâm lý. Khi một người bị căng thẳng cùng cực, lo lắng hay có cơn hoảng loạn, rất có thể họ đột nhiên thức dậy giữa đêm, mồ hôi vã ra, tim đập nhanh và thở gấp. Có thể họ gặp một cơn ác mộng và chỉ khi tỉnh giấc mới có thể thoát ra khỏi nó. Tự mình loại bỏ áp lực và căng thẳng có thể giảm đáng kể trường hợp thở hổn hển lúc nửa đêm.

Nhìn chung, bị gián đoạn giấc ngủ có thể dẫn đến những yếu tố nguy hiểm hơn như trầm cảm, tính khí thất thường và mất tập trung. Sau cùng, nó làm giảm chất lượng cuộc sống, và có khả năng gây tử vong. Vì thế, để có những đêm yên tĩnh và những giấc mơ ngọt ngào, nên theo dõi, chẩn đoán để loại trừ những nguyên nhân trên.

 (Theo ANTD)

Chăn gối lông vũ nhân tạo khiến bệnh hen nặng hơn

So với các sản phẩm chăn gối được làm từ lông vũ tự nhiên thì chăn gối lông vũ nhân tạo có thể khiến bệnh hen nặng hơn.

Một nghiên cứu mới đây cho thấy so với các sản phẩm chăn gối được làm từ lông vũ tự nhiên thì chăn gối lông vũ nhân tạo có thể khiến bệnh hen nặng hơn vì chúng có chứa nhiều tế bào nấm.

Để nghiên cứu, các nhà khoa học đã xém xét 178 mẫu gồm 35 thảm trải sàn nhà, 35 cái đệm, 35 cái chăn lông vịt, 73 cái gối.

Họ phát hiện thấy chăn gối lông vũ nhân tạo có chứa nấm liên quan tới hợp chất đường liên phân tử β glucan cao gấp 2-3 lần so với lông vũ tự nhiên.

Tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Rob Siebers, ở Đại học Otago cho biết: “Nghiên cứu này bổ sung thêm bằng chứng cho thấy chăn gối lông vũ tự nhiên sẽ tốt cho người bị bệnh hen hơn là lông nhân tạo. Điều này là vì β glucan là chất gây viêm và liên quan tới những thay đổi chức năng phổi như là sự biến thiên lưu lượng đỉnh ở trẻ”.

 (Theo ANTD)