Lưu trữ cho từ khóa: nguy cơ

Bệnh Gút: Bệnh GOUT VÀ Thưốc Chữa Bệnh Gút

Bệnh Gút: Bệnh GOUT VÀ Thưốc Chữa Bệnh Gút
Nửa đêm thức giấc vì ngón chân cái nóng như lửa đốt, sưng to và rất đau, đặc biệt khi sờ vào. Rất có thể bạn đang bị cơn gút cấp tính.
Người bị gút có biểu hiện viêm khớp. Giai đoạn đầu viêm một cách đột ngột, có thể tối hôm trước vẫn đi bình thường, nửa đêm về sáng khớp đã bị sưng vù, nóng đỏ, bệnh nhân đau rất dữ dội, đến mức không đi lại được. Những cơn gút đầu tiên có thể tự hết, sau đó 1 năm có thể tái phát một, hai lần.
Bệnh Gút là gì?
Bệnh gút (tiếng Anh là gout, gọi theo âm Hán-Việt là thống phong), hay viêm khớp do gút, là một dạng viêm khớp được đặc trưng bởi cơn đau khớp dữ dội và đột ngột, kèm theo đó là sưng đỏ khớp. Gút là một bệnh khớp phổ biến ở đàn ông trung niên, do khớp bị lắng đọng các tinh thể muối urate trong ổ khớp và các tổ chức quanh khớp. Dù gặp ở đàn ông nhiều hơn, nhưng phụ nữ sau mãn kinh cũng có thể bị bệnh này. Rất may, bệnh gút có thể khỏi hẳn nếu được điều trị đúng. Hơn nữa, gút là một bệnh có thể được dự phòng
Bệnh Gút :Triệu chứng biểu hiện
Gút hầu như luôn biểu hiện cấp tính, xảy ra một cách đột ngột, thường là vào lúc nửa đêm và không có dấu hiệu gì báo trước. Các triệu chứng thường gặp là:
Đau khớp dữ dội. Thường xảy ra ở khớp ngón chân cái nhưng các khớp khác cũng có thể bị là khớp bàn chân, cổ chân, bàn tay và cổ tay. Khớp bị ảnh hưởng bị sưng đỏ, đau khi sờ vào.. Nếu không được điều trị, đau có thể kéo dài 5 – 10 ngày rồi tự mất đi. Khó chịu lui dần trong 1 – 2 tuần, khớp trở lại bình thường.
Tiêu biểu nhất là việc sưng tấy, đỏ ngón chân cái
Thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp. Thường bắt đầu vào tuổi 35 đến 45. Khởi bệnh đột ngột, diễn biến từng đợt, giữa các đợt đau các khớp hoàn toàn khỏi (những năm đầu).
Yếu tố nguy cơ
Bệnh Gút dường như dễ xảy ra ở những người có nồng độ acid uric tăng. Một số yếu tố có thể làm tăng nồng độ acid uric là:
Lối sống. Ăn nhiều chất đạm động vật (đặc biệt là tôm, cua) cùng với uống nhiều bia rượu có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh gút.
Một số bệnh. Có thể gia tăng nguy cơ bị bệnh gút khi mắc một số bệnh nội khoa như: tăng huyết áp không được điều trị, đái tháo đường, tăng lipid máu và xơ vữa động mạch.
Một số thuốc. Một số thuốc có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh gút là thuốc lợi tiểu nhóm thiazide (thường được sử dụng điều trị tăng huyết áp) và dùng aspirin liều thấp kéo dài. Các thuốc khác cũng có thể làm tăng nguy cơ bị gút là: pyrazinamide (dùng trong điều trị bệnh lao), cyclosporine (được sử dụng ở những người được ghép tạng với mục đích chống thải ghép), một số thuốc điều trị ung thư.
Điều trị Bệnh Gút:
Với cơn đau cấp tính. Sử dụng thuốc kết hợp với các biện pháp nghỉ ngơi cho khớp bị đau. Có 3 nhóm thuốc thường được sử dụng trong điều trị gút cấp tính là: các loại thuốc kháng viêm như colchicine và các thuốc kháng viêm không steroid như indomethacin, thuốc làm giảm acid uric máu và các thuốc corticosteroid (uống hoặc chích thẳng vào khớp).
Với những bệnh nhân bị tăng acid uric trong máu. Bệnh nhân cần theo một chế độ ăn đặc biệt. Thêm vào đó, bệnh nhân cần sử dụng một số thuốc làm giảm acid uric máu (như allopurinol, sulphinpyrazone và probenecid) cho đến khi nồng độ acid uric máu trở về bình thường. Trong thời gian uống thuốc làm giảm acid uric máu, bệnh nhân cần uống nhiều nước để giúp thải acid uric qua đường tiểu được dễ dàng hơn.
Phẫu thuật. Phẫu thuật hiếm khi được sử dụng trong điều trị Bệnh Gút. Thi thoảng, dùng phẫu thuật để lấy đi tophi bị nhiễm trùng hay tophi ảnh hưởng vào cử động khớp. Một số trường hợp khớp bị biến dạng do gút, phẫu thuật giúp cho khớp cải thiện chức năng và cử động của khớp.
Phác đồ điều trị Bệnh Gútmới nhất là kết hợp hai loại Thưốc Chữa Bệnh Gút :
-KBiogreen : Xuất xứ Malaisya –gồm 60 dưỡng chất đặc biệt giúp phục hồi các tế bào đang bị thương tổn , đào thải acid uric qua đương tiêu hoá . Cân bằng và ổn định tối đa acid uric về mức an toàn 430 micromol/l
nhằn ngăn chặn sự lắng đọng urat tránh nguy cơ mắc thêm bệnh thận
-Kinotakara : Xuất xứ từ Nhật Bản-Hút và Đào thải acid uric trong máu ngăn chặn các biến chứng vào thận và khớp . Ưc chế Enzim xanthin õydase (đây là enzym gây ra sự hình thành axid uric trong niệu đạo và acid uric trong máu
Kết thúc điều trị, bệnh nhân sẽ trở lại chế độ sinh hoạt ăn uống như người bình thường, khả năng tái phát bệnh rất thấp nếu có chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi điều độ.
Các bệnh nhân Gout đã bị mãn tính lâu năm, những bệnh nhân đã bị biến chứng sang thận, tiểu đường, béo phì đều có khả năng đáp ứng khi được điều trị theo chương trình này.
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc
CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Đi bộ giúp giảm nguy cơ bị tiểu đường

Theo một nghiên cứu mới đây, những người đi bộ đi làm giảm 40% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và giảm 17% nguy cơ bị cao huyết áp so với những người lái xe đi làm.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích 20.000 người ở Anh để tìm hiểu xem cách họ đi làm ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe.

di-bo-giup-giam-nguy-co-bi-tieu-duong

Ảnh minh họa

Đi bộ, đi xe đạp và sử dụng phương tiện giao thông công cộng tất cả đều có liên quan với giảm nguy cơ bị thừa cân so với lái xe hoặc đi taxi. Những người đi xe đạp đi làm giảm khoảng một nửa nguy cơ bị tiểu đường so với những người đi làm bằng xe hơi.

Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng 19% những người sử dụng các phương tiện cá nhân – như xe hơi hoặc xe máy – đi làm bị béo phì so với tỉ lệ là 15% ở những người đi bộ và 13% ở những người đi xe đạp.

Cao huyết áp, tiểu đường và thừa cân là những yếu tố nguy cơ chính gây ra các vấn đề về tim và tuần hoàn. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh việc đưa hoạt động thể chất vào sinh hoạt hàng ngày bằng cách đi bộ, đạp xe hoặc sử dụng các phương tiện công cộng để đi làm nhằm mang lại lợi ích cho sức khỏe.

Nghiên cứu được đăng trên tờ American Journal of Preventive Medicine ngày 6/8.

Theo Anninhthudo.vn

Virus HPV 16 – thủ phạm gây ung thư họng

ANTĐ – Nhiễm một số chủng virus HPV (virus gây bệnh ung thư tử cung) làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư vòm sau của cổ họng (hầu họng).
Các nhà nghiên cứu đã so sánh mẫu máu của 938 bệnh nhân bị ung thư đầu và cổ, ung thư thực quản, và ung thư hầu họng với 1.599 người không mắc bệnh. Họ phát hiện ra rằng hơn 1/3 những người bị ung thư hầu họng bị nhiễm virus HPV 16 hay gọi là E6. Những kháng thể này được phát hiện trong mẫu máu của bệnh nhân thậm chí trong cả mẫu máu lấy hơn 10 năm trước khi được chẩn đoán ung thư. Trong khi đó, ít hơn 1% những người không bị ung thư có các kháng thể trên trong máu của họ.

Protein E6 của HPV vô hiệu hóa các protein p53 được biết đến có vai trò bảo vệ các tế bào khỏi bị phá hủy DNA và sự phát triển của bệnh ung thư. Có kháng thể này trong máu chỉ ra rằng quá trình gây ung thư của HPV đã được kích hoạt trước.

Tiến sĩ Ruth Travis, một trong những tác giả của nghiên cứu tại Đại học Oxford, cho biết: “Những kết quả nghiên cứu trên đã cung cấp bằng chứng cho thấy nhiễm HPV 16 có thể là một nguyên nhân quan trọng gây bệnh ung thư hầu họng”.

HPV được biết đến làm tăng nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn và dương vật và chúng có thể lây lan qua tiếp xúc bằng miệng hoặc bộ phận sinh dục. Những người thường xuyên quan hệ tình dục bằng miệng có nguy cơ cao bị nhiễm virus này.

Trúc Linh
(Theo Dailymail)

Có phải người bị ung thư thì máu dễ bị đông?

Ba tôi mới phát hiện bị mắc bệnh ung thư (UT) nên phải phẫu thuật. Tuy nhiên, tôi nghe nói khi bị UT thì máu hay bị đông, vón cục nên rất nguy hiểm khi phẫu thuật, thậm chí có thể bị đột tử do thuyên tắc phổi. Chúng tôi hiện rất lo lắng. Có cách nào để phòng ngừa? – Mai Giang Thanh (Q.3, TP.HCM)

co-phai-nguoi-bi-ung-thu-thi-mau-de-bi-dong

Trả lời:

Bạn không nên quá lo lắng về việc gây đông máu ở bệnh nhân UT, vì không phải tất cả bệnh nhân UT đều có cục máu đông. Tuy nhiên, rõ ràng nguy cơ xuất hiện cục máu đông ở bệnh nhân UT cao gấp bốn lần so với người bình thường. Nguy cơ này thay đổi tùy theo loại UT. Các UT có nguy cơ cao xuất hiện cục máu đông bao gồm bướu não, UT tụy tạng, dạ dày và các loại UT hệ tạo huyết như lymphôm và bệnh đa u tủy. Một số khác như UT vú, cổ tử cung, da… có nguy cơ tạo cục máu đông thấp hơn. Hóa trị UT cũng làm tăng kích hoạt hệ thống đông máu của cơ thể và góp phần làm tăng nguy cơ tạo lập các cục máu đông. Các thuốc có nguy cơ cao bao gồm asparinase, cisplatin, adriamycin, 5 fluorouracil, bleomycin, mitomycin và bevacizumab.

Ngoài ra, nguy cơ dễ tạo lập cục máu đông cũng có thể gặp ở các bệnh nhân UT nằm lâu, có đặt các ống thông vào hệ tĩnh mạch trung tâm để dinh dưỡng hoặc truyền hóa chất. Đôi lúc các thầy thuốc phải đối mặt với các rủi ro của phẫu thuật như hình thành các cục máu đông gây thuyên tắc phổi, tuy nhiên, tỷ lệ này rất thấp, vì trước bất kỳ cuộc mổ nào bệnh nhân cũng được đánh giá một cách cẩn thận khả năng đông máu cũng như các yếu tố nguy cơ để có giải pháp phòng tránh thích hợp.

TS-BS CK II Đặng Huy Quốc Thịnh
(Phó Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM)

Theo Phunuonline.com.vn

Người lớn tuổi bị thiếu máu tăng nguy cơ sa sút trí tuệ

Một nghiên cứu mới đây cho thấy người lớn tuổi bị thiếu máu có thể tăng nguy cơ sa sút trí tuệ.

nguoi-lon-tuoi-bi-thieu-mau-tang-nguy-co-sa-sut-tri-tue

Ảnh minh họa

“Chúng tôi phát hiện ra rằng nguy cơ sa sút trí tuệ tăng 60% do thiếu máu. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố khác thì nguy cơ vẫn tăng 40-50%”, tác giả chính của nghiên cứu tiến sĩ Kristine Yaffe, giáo sư về tâm thần học, thần kinh và dịch tễ học thuộc Đại học California, San Francisco, cho biết.

Nhóm nghiên cứu nêu rằng thiếu máu có thể chỉ báo sức khỏe tổng thể kém. Nguyên nhân gây thiếu máu có thể do thiếu sắt và mất máu. Ung thư, suy thận và một số bệnh mạn tính cũng có thể dẫn tới thiếu máu.

Một chuyên gia nói nghiên cứu này nhắc nhở các bác sĩ rằng rất nhiều tình trạng dẫn tới thiếu máu, và điều trị thiếu máu có thể tránh được nguy cơ suy giảm tâm thần.

Được đăng trên tạp chí Neurology ngày 31/7, các tác giả cho rằng cần nghiên cứu thêm để xác nhận mối liên quan này trước khi đưa ra các khuyến cáo về phòng ngừa sa sút trí tuệ.

Theo Anninhthudo.vn

Yếu tố nào gây bệnh ung thư máu?

Hút thuốc lá, tiếp xúc với benzen, tiền sử điều trị với hóa chất, hội chứng down và một số bệnh di truyền khác … cũng là yếu  tố  nguy cơ gây ung thư máu.

Bạn tôi không có triệu chứng gì, chỉ sốt cao kéo dài và nhập viện phát hiện ung thư máu, sau 1 tháng thì tử vong. Xin hỏi, yếu tố nào gây ung thư máu và có thể phòng ngừa được không? Bệnh có di truyền không?Phạm Thị Hiền (Cầu Giấy, Hà Nội).

yeu-to-nao-gay-benh-ung-thu-mau

Ảnh chỉ mang tính minh họa.

GS.TS Nguyễn Bá Đức, Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam trả lời:

Tiếp xúc với tia phóng xạ liều cao hoặc có tiền sử dùng xạ trị có nguy cơ cao hơn bị bạch cầu (ung thư máu). Hiện tại, vẫn chưa xác định mối liên quan giữa tiếp xúc với nồng độ tia thấp (khi chụp X-quang và cắt lớp) với bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em và người lớn. Hút thuốc lá, tiếp xúc với benzen, tiền sử điều trị với hóa chất, hội chứng down và một số bệnh di truyền khác, hội chứng rối loạn sinh tủy và một số bệnh bất thường về máu khác cũng là yếu  tố  nguy cơ.

Rất hiếm khi có hai người trong gia đình bị bệnh bạch cầu. Nếu có thì chủ yếu là thể bệnh bạch cầu lymphô mạn tính. Khi một người có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ trên không có nghĩa là chắc chắn sẽ bị bệnh bạch cầu. Tuy nhiên, mọi người cần biết các yếu tố nguy cơ đó để phòng tránh tiếp xúc, hạn chế tối đa nguy cơ bị bệnh.

Theo Kienthuc.net.vn

Huyết áp thấp có nguy cơ gì đến bệnh tim mạch không?

Nếu trước đây huyết áp của bạn thường 120/80 và bây giờ chỉ 85/64 thì có thể bạn ở trong tình trạng huyết áp thấp.

Năm nay tôi 33 tuổi. Trước đây, huyết áp của tôi rất tốt, thường 120/80 nhưng khoảng 1 năm trở lại đây, tôi bị huyết áp thấp, chỉ 85/64. Xin hỏi, huyết áp thấp có nguy cơ gì đến bệnh tim mạch không? Tôi nên làm gì để cải thiện việc huyết áp thấp?Bích Hồng (Đồng Hới, Quảng Bình).

huyet-ap-thap-co-nguy-co-gi-den-benh-tim-mach-khong

GS Phạm Gia Khải, Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam trả lời:

Nếu trước đây huyết áp của bạn thường 120/80 và bây giờ chỉ 85/64 thì có thể bạn ở trong tình trạng huyết áp thấp. Theo kinh nghiệm của các nhà lâm sàng, nên đo huyết áp khoảng 3 lần, mỗi lần cách nhau khoảng 1 phút, rồi lấy trung bình cộng cho các đại lượng tâm thu và tâm trương, và huyết áp kế điện tử loại buộc băng cuốn ở cánh tay ít sai số hơn là loại buộc vòng qua cổ tay.

Nếu huyết áp thấp nhưng bạn hoàn toàn không cảm thấy khó chịu như hoa mắt, chóng mặt khi thay đổi tư thế từ nằm sang ngồi dậy, hoặc từ ngồi sang đứng thì bạn không cần lo lắng. Nhưng nếu có cảm giác đó thì bạn nên đi khám sức khoẻ.

Có nhiều nguyên nhân làm huyết áp bị hạ gồm: Có thai vào những tháng cuối thai kỳ, máu dồn về bụng, về thai nhi nhiều, mắc một bệnh phải nằm lâu. Người trung niên, người cao tuổi, tổn thương động mạch vành cũng có thể làm hạ huyết áp. Trong bệnh tiêu chảy khiến mất nhiều nước, nôn nhiều, huyết áp có thể hạ. Và một số bệnh nội tiết như lao tuyến thượng thận, huyết áp cũng thường thấp. Người bị huyết áp thấp da thường sạm đen, người mỏi mệt.

Theo Kienthuc.net.vn

Trẻ em cũng dễ bị đái tháo đường

Hiện nay nhiều bậc cha mẹ vẫn nghĩ bệnh đái tháo đường không thể xảy ra với trẻ em. Do đó khi trẻ có những triệu chứng như ăn nhiều, uống nhiều, đi tiểu nhiều, đồng thời bị sụt cân nhanh và các hậu quả nặng nề hơn thì các bậc phụ huynh mới tá hỏa đưa trẻ đến viện.

Các chuyên gia cho biết, cuộc sống bận rộn nên ngày càng nhiều người thường ưa thích sự tiện lợi, các đồ ăn, các loại bánh ngọt nhưng không phải ai cúng ý thức được rằng đó chính là mối hiểm họa có thể gây nên đái tháo đường tuýp 2, đặc biệt với trẻ nhỏ.

tre-em-cung-de-bi-dai-thao-duong

Dùng nhiều đồ ăn nhanh và nước ngọt là nguy cơ khiến trẻ dễ bị tiểu đường. (Ảnh minh họa)

Theo TS. Nguyễn Thị Lâm, Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, do điều kiện kinh tế thay đổi nên khẩu phần ăn của người Việt cũng thay đổi. Những trẻ thừa cân, béo phì lại thường có khẩu phần ăn nhiều hơn so với nhu cầu bình thường, năng lượng nhiều hơn, nhất là năng lượng từ chất béo, nguồn đường bột. Bên cạnh đó, hiện nay trẻ ít vận động, thường xuyên ngồi một chỗ xem tivi, chơi điện tử…  không tiêu hao năng lượng nên trẻ dễ thừa cân, béo phì. Đây cũng chính là nguyên nhân làm gia tăng trẻ bị bệnh tiểu đường.

Trẻ em thường thích ăn chiên, rán, các món chế biến với rất nhiều dầu, mỡ đường và bột. Chính sự yêu thích này rất dễ dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì. Tình trạng này đặc biệt nguy hiểm khi xảy ra ở trẻ em. Các nghiên cứu từ giới chuyên môn cho thấy trẻ béo phì có nhiều nguy cơ bị tim mạch, đái tháo đường tuýp 2.

Thống kê của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy, tỷ lệ trẻ béo phì đang gia tăng ở mức báo động ở các thành phố lớn như: Hà Nội, TP.HCM. Đó là hậu quả từ chế độ dinh dưỡng sai lầm và đây chính là nguy cơ có thể mắc đái tháo đường ở trẻ em. Vì vậy, các bậc phụ huynh cần giám sát cân nặng của con mình một cách chặt chẽ, đặc biệt với những trẻ thích dùng đồ ăn nhanh, đồ ăn chiên, rán.

Theo VnMedia.vn

Những loại thực phẩm tuyệt đối không nên sử dụng

Những thức ăn dưới đây rất có hại cho sức khỏe, tuyệt đối không sử dụng.

Mật cá

Mật cá chứa độc tố nguy hại cho sức khoẻ. Cá càng lớn độc tố càng mạnh. Loại độc tố này có đặc điểm không bị phá hủy ở nhiệt độ cao và trong cồn, sau khi ăn vào sẽ bị tổn hại đến chức năng gan và thận, ở mức độ nặng có thể gây tử vong.

Ba ba, cua và lươn chết

Ba ba, cua, lươn giàu đạm, rất bổ dưỡng nhưng nếu chúng đã chết tuyệt đối không được ăn. Trong ba ba, cua và lươn có khá nhiều chất histidine, sau khi chết, những chất này nhanh chóng bị phân hủy thành histamine rất độc đối với sức khoẻ, ăn vào dễ bị trúng độc.

Ăn sống trứng gà

Lòng trắng trứng gà sống khia ăn vào cơ thể rất khó hấp thu. Trong trứng gà sống có các chất làm cản trở sự hấp thu dinh dưỡng cơ thể và phá hoại công năng tiêu hóa của tụy tạng. Ngoài ra, ăn trứng gà sống rất mất vệ sinh, dễ đưa các vi khuẩn vào cơ thể, gây bệnh.

nhung-loai-thuc-pham-tuyet-doi-khong-nen-su-dung

Trứng gà rất tốt cho sức khỏe và sắc đẹp, nhưng nếu ăn sống sẽ khó tiêu hóa, gây nguy hiểm

Thịt lợn gạo

Thịt lợn gạo là do lợn bị nhiễm sán, nếu ăn vào sẽ có nguy cơ mắc bệnh sán xơ mít.

Khoai tây mọc mầm

Khoai tây sau khi mọc mầm sẽ sinh chất độc solamine, chất này kích thích tương đối mạnh đến niêm mạc dạ dày, ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương. Nếu ăn khoai tây mọc mầm có nguy cơ bị đau bụng, ỉa chảy, nôn mửa, thậm chí bị suy hô hấp.

Gừng bị thâm nhũn

Gừng khi bị thâm nhũn có thể sinh ra chất độc có tên safrole, khi ăn vào, ruột dễ hấp thu, nhanh chóng chuyển đến gan, gây trúng độc cho tế bào gan, làm tổn thương gan.

Rau cải nấu chín để qua đêm

Trong rau cải chứa nhiều chất nitrat. Nếu để rau cải qua đêm, do tác dụng của vi khuẩn, muối nitrat chuyển thành muối nitrit, sau khi ăn có thể làm cho tổ chức trong cơ thể thiếu ôxy, xuất hiện triệu chứng trúng độc, đau đầu, chóng mặt, nôn mửa. Ngoài ra, chất nitrit có nguy cơ cao gây ung thư đường ruột.

Theo Danviet.vn

Thai phụ mắc tiểu đường tăng gấp 3 lần nguy cơ bị nhiễm trùng

ANTĐ – Một nghiên cứu mới đây cho thấy phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường tăng gấp 3 lần nguy cơ bị các nhiễm trùng nguy hiểm so với thai phụ không mắc bệnh tiểu đường.

Dạng nhiễm trùng nguy hiểm có thể do MRSA (tụ cầu vàng kháng methicillin).

Nghiên cứu cho thấy tăng nguy cơ có liên quan với bệnh tiểu đường ảnh hưởng tới phụ nữ mang thai. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu thuộc đại học California, Los Angeles thì nguy cơ không xảy ra ở thai phụ không mắc bệnh tiểu đường.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Ảnh minh họa
Các kết quả này được đưa ra sau khi nhóm nghiên cứu phân tích dữ liệu gồm hơn 3,5 triệu phụ nữ tại một bệnh viện. Họ phát hiện 5% số bà mẹ bị tiểu đường trong thời gian mang thai và 1% bị tiểu đường trước khi mang thai. Có 600 ca nhiễm MRSA ở các bà mẹ sau khi sinh. Nguồn nhiễm hay gặp nhất là qua da, đường tiết niệu, cơ quan sinh dục, nhiễm trùng vết thương và nhiễm trùng máu.

Mặc dù nghiên cứu phát hiện ra mối liên quan giữa nguy cơ nhiễm MRSA ở thai phụ mắc bệnh tiểu đường song không chứng minh mối quan hệ nhân quả.

Linh Linh
Theo MM