Lưu trữ cho từ khóa: bệnh tim

Vì sao người bệnh tim tránh ra ngoài khi thời tiết lạnh?

Mẹ tôi bị bệnh suy tim. Tôi đọc báo, xem tivi nghe khuyến cáo người bệnh tim tránh ra ngoài khi thời tiết lạnh. Tại sao phải như vậy?Nguyễn Thành (TP.HCM)

vi-sao-nguoi-benh-tim-tranh-ra-ngoai-khi-thoi-tiet-lanh

GS.TS.BS Phạm Gia Khải, chủ tịch hội Tim mạch Việt Nam:

Người bị bệnh tim nên cẩn thận khi ra ngoài trong thời tiết lạnh do khi trời lạnh, để cơ thể giữ được độ ấm, tim phải làm việc nhiều hơn để đưa oxy tới các mô trong cơ thể. Mặt khác khi đi ngoài trời, những cơn gió lạnh càng làm người bệnh mất nhiệt nhiều hơn, tim càng phải làm việc nhiều hơn, không tốt cho trái tim. Thời tiết lạnh còn làm các mạch máu co lại, đặc biệt nguy hiểm ở những bệnh nhân bị tăng huyết áp, vì huyết áp sẽ cao hơn và có thể gây biến cố tim mạch. Thời tiết lạnh cũng làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối trong lòng động mạch và tăng nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp, từ đó làm tăng nguy cơ tổn thương tim mạch. Do đó, khi bị bệnh tim, người bệnh nên giữ cơ thể ấm áp, tránh ra ngoài trời lạnh.

Theo SGTT.vn

Tắm nắng có thể giúp ngăn chặn cơn đau tim

Mọi người đều biết rằng tắm nắng quá nhiều có thể gây ung thư da. Nhưng mới đây nghiên cứu của các nhà khoa học Italy cho thấy, tắm nắng vừa phải có thể ngăn chặn cơn đau tim.

tam-nang-co-the-giup-ngan-chan-con-dau-tim

Ảnh minh họa – Internet

Theo các chuyên gia y tế, những người thiếu vitamin D tăng 32% nguy cơ mắc bệnh động mạch vành, vì vậy ánh nắng mặt trời tốt cho tim. Bệnh nhân có mức vitamin D thấp nhất tăng 2 lần nguy cơ bị tắc động mạch so với những người có mức bình thường. Bổ sung các thực phẩm giàu vitamin D như cá, ngũ cốc, trứng kết hợp với tập thể dục vừa phải ở ngoài trời giúp tăng cường hệ thống miễn dịch cũng như giảm quá trình viêm dẫn đến bệnh tật.

Theo Anninhthudo.vn

Bệnh viêm cơ tim có thể chữa khỏi được không?

Con tôi 11 tháng tuổi, rất hay sốt, khó thở, đi khám bác sĩ nói là bị viêm cơ tim. Bệnh này có nguy hiểm không và có thể chữa khỏi được không, thưa bác sĩ? –

Trần Anh Thơ (Nghệ An)

benh-viem-co-tim-co-the-chua-khoi-duoc-khong

Ảnh minh họa – Internet

Viêm cơ tim là tình trạng viêm, hoại tử hoặc lý giải của tế bào cơ tim do nhiễm khuẩn, do bệnh mô liên kết, do nhiễm độc hoặc không rõ nguyên nhân. Các quá trình bệnh lý này ảnh hưởng đến cơ tim, kèm hoặc không kèm theo triệu chứng toàn thân. Những biểu hiện thường gặp nhất là suy tim, tuy nhiên đôi khi rối loạn nhịp hoặc đột tử là biểu hiện đầu tiên của bệnh. Nhiễm virut là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm cơ tim. Tác nhân gây bệnh là adeno virus và coxsackie virus B.

Ở trẻ bú mẹ, viêm cơ tim do virut thường biểu hiện bằng viêm cơ tim cấp tính và rất trầm trọng. Ở trẻ nhỏ (2-5 tuổi) bệnh cũng thường khởi đầu bằng viêm cơ tim cấp nhưng ít nặng nề hơn. Ở trẻ lớn hơn và thanh thiếu niên, bệnh thường không có triệu chứng và trẻ thường đến phòng khám khi đã có biển hiện bệnh cơ tim giãn, thường là hậu quả của viêm cơ tim virut tiềm tàng trước đó. Nếu đúng con chị bị viêm cơ tim do virut thì cần điều trị sớm tại chuyên khoa tim mạch. Nói chung, đây là thể bệnh nặng, tỷ lệ điều trị thành công không cao.

BS. Trần Vân Anh

Theo Suckhoedosiong.vn

Các bước chẩn đoán và điều trị bệnh viêm cơ tim

Chữa trị viêm cơ tim phải dựa trên phác đồ điều trị các giai đoạn tiến triển bệnh.

 

Giai đoạn 1: Sự nhân lên của virus

Trong giai đoạn 1 của viêm cơ tim, khi có sự nhân lên của virus trong hầu hết các trường hợp thật là khó để xác định nhanh chóng nhằm điều trị kháng virus bởi vì:

– Hiếm khi cấy máu (+)

– Việc chuẩn độ virus là không thực tế.

– Không có phương pháp tầm soát không xâm nhập , nhanh chóng để phát hiện protein hoặc chất liệu di truyền cuả virus cũng như xác định virus đặc hiệu để chọn lựa điều trị kháng virus.

Giai đoạn này có thể diễn ra không ghi nhận được, không kèm triệu chứng suy tim. Khi tổn thương cơ tim rõ ràng trong pha 1, trong hầu hết các trường hợp chẩn đoán viêm cơ tim.

cac-buoc-chan-doan-va-dieu-tri-benh-viem-co-tim

Giai đoạn 1 của viêm cơ tim khó phát hiện vì không kèm triệu chứng suy tim

Trong thời điểm hiện nay, điều trị trong giai đoạn này bao gồm:

– Tránh ức chế miễn dịch gây hại.

– Các biện pháp kháng virus không đặc hiệu và kháng virus trực tiếp khi tác nhân virus được xác định hoặc trong bối cảnh dịch tể virus đã biết được. Trong mô hình thực nghiệm, giảm xâm nhập, bám dính và tăng sinh của virus làm giảm mức độ nặng của viêm cơ tim. Thuốc kháng virus hiệu quả bao gồm chất tương tự nucleoside như ribovirin mà nó làm tăng bảo vệ miễn dịch nội sinh, cũng như với globulin miễn dịch và interferon và các thuốc ức chế xâm nhập virus ở vị trí receptor CAR.

Giai đoạn 2 : Hoạt hoá miễn dịch

Giai đoạn 2 của bệnh viêm cơ tim là kết quả của hoạt hoá miễn dịch có thể chẩn đoán xác định qua sinh thiết.

Chẩn đoán đảm bảo nhất khi:

– Khi tiến hành sinh thiết chỉ một vài ngày đến một vài tuần sau khi phục hồi triệu chứng nhiễm siêu vi

– Nhiều ổ thâm nhiễm lympho bào ở tổ chức học.

Chẩn đoán ít đảm bảo khi:

– Dấu hiệu tiền triệu viêm cơ tim đã khá lâu, không có tiền triệu xảy ra

– Chỉ một vài điểm viêm nhiễm nhỏ

Có rất nhiều cách thức điều trị điều hoà miễn dịch trong giai đoạn này bao gồm:

– Ức chế miễn dịch (steroids, azathioprine, cyclosporine và OKT-3), globuline miễn dịch có tác dụng điều hoà miễn dịch không có tác dụng chống virus trực tiếp cũng đã được sử dụng.

– Ngăn chặn cytokine (manipulation): Chưa có chế độ điều trị anti-cytokine nào được nghiên cứu ở người dù có nhiều đề xuất.

– Vaccine chống receptor tế bào T

Hiện nay, chỉ có các thuốc ức chế miễn dịch đã được chứng minh qua nghiên cứu nên được sử dụng trong phase bệnh này và chỉ khi giai đoạn này đã được xác minh rõ.

Giai đoạn 3: Bệnh cơ tim giãn nỡ

Khi không có nhiễm virus và hoạt hoá tự miễn tái phát thì bệnh nhân giai đoạn 3 phải được xử trí như bệnh viêm cơ tim dãn nỡ vô căn và suy tim sung huyết.

cac-buoc-chan-doan-va-dieu-tri-benh-viem-co-tim

Cần phải theo dõi thường xuyên bệnh viêm cơ tim

Không có chứng cứ bệnh viêm cơ tim dãn nỡ mãn tính do viêm cơ tim cần điều trị khác với bệnh cơ tim dãn nỡ do các nguyên nhân khác.

Đặt máy khử rung nên xem xét ở những người được chứng minh có loạn nhịp thất đe dọa tính mạng.

Theo dõi tái phát tình trạng nhiễm virus hoặc tự miễn . Tốt nhất nên thực hiện cả bệnh sử, thăm khám và siêu âm tim.

Theo Tribenhtim.com

Bị đau ngực khi đi bộ sau mổ tim có nguy hiểm?

Hoạt động thể lực là yêu cầu không thể thiếu được giúp bệnh nhân sau phẫu thuật nhồi máu cơ tim phục hồi trở lại cuộc sống hằng ngày.

Tôi bị nhồi máu cơ tim phải mổ và được chỉ định tập luyện hằng ngày. Gần đây, khi đi bộ tôi thấy đau ngực, nhịp tim không đều. Xin hỏi, bệnh của tôi có làm sao không? Phải xử lý cơn đau này như thế nào? – Đỗ Hồng Hà (Hà Nội).

bi-dau-nguc-khi-di-bo-sau-mo-tim-co-nguy-hiem

Ảnh minh họa.

PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội:

Hoạt động thể lực là yêu cầu không thể thiếu được giúp bệnh nhân sau phẫu thuật nhồi máu cơ tim phục hồi trở lại cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên, phải luôn có cảm giác thoải mái trong khi tập luyện. Nếu các hoạt động thể lực của ngày hôm trước khiến cơ thể mệt mỏi thì nên nghỉ một ngày để hồi phục lại sức khoẻ hoàn toàn. Nếu bị chóng mặt, thở gấp, nhịp tim không đều, hay đau ngực hãy đi chậm lại hoặc dừng lại cho đến khi các dấu hiệu trên qua đi.

Các cơn đau thắt ngực hay khó chịu ở ngực xuất hiện khi tập luyện thì nên nghỉ ngơi, ngậm hay xịt thuốc nitroglycerine dưới lưỡi và báo ngay cho bác sĩ điều trị để có được những điều chỉnh kịp thời. Nếu đau ngực hay cảm giác khó chịu ở ngực không đỡ, hãy dùng lại các thuốc trên sau 5 phút. Các dấu hiệu trên không hết hoàn toàn trong vòng 10 – 15 phút sau khi đã nghỉ ngơi và dùng thuốc, có thể bị nhồi máu cơ tim tái phát cần đến các trung tâm cứu cấp ngay lập tức.

Theo Kienthuc.net.vn

Cách điều trị hội chứng Marfan

Ngoại khoa:

Điều trị hội chứng Marfan bằng cách dãn gốc động mạch chủ dẫn tới bóc tách hoặc/và hở van động mạch chủ thường xảy ra đầu tiên ở xoang Valsalva.

cach-dieu-tri-hoi-chung-marfan

Điều trị hội chứng Marfan bằng cách dãn gốc động mạch chủ

Các công trình nghiên cứu rút ra sự thống nhất ý kiến rằng điều trị ngoại khoa cấp cứu phình gốc động mạch chủ sớm có dự hậu tốt hơn là can thiệp trễ và đề nghị điều trị dự phòng khi đường kính xoang Valsalva lớn hơn 5.5cm ở người lớn và lớn hơn 5.0 cm ở trẻ em. Những yếu tố khác như là tỉ lệ phát triển của đường kính động mạch chủ và tiền sử gia đình có bóc tách ĐM chủ có thể được xem la yếu tố quan trọng, đánh giá độ căng động mạch chủ thì có giá trị tiên lương

Nội khoa:

ß Blockernên dùng ở bất kỳ bệnh nhân nào có dãn động mạch chủ ở bất kỳ tuổi nào , nhưng điều trị dự phòng có thể hiệu quả hơn khi ĐK ĐM chủ50mm, dãn ra xa hơn xoang Valsalva, mức độ dãn nhanh (> 5% mỗi năm, hay 2mm/năm ở người lớn), và tiền sử gia đình có bóc tách ĐM chủ.

Bệnh nhân Marfan ở bất kỳ tuổi nào nên được đánh giá ít nhất mỗi năm về khám lâm sàng, bệnh sử và siêu âm tim thành ngực. Ỡ trẻ nhỏ, nên siêu âm tim mỗi 6 đến 12 tháng, tần suất dựa vào ĐK động mạch chủ ( theo diện tích bề mặt cơ thể) và mức độ tăng .

cach-dieu-tri-hoi-chung-marfan

Hoạt động thể lực nhẹ đến vừa có thể chấp nhận ở hội chứng Marfan.

Bệnh nhân mắc hội chứng Marfan nên được gợi ý phẫu thuật gốc động mạch chủ dự phòng khi đường kính xoang Valsalva lớn hơn 5.5 cm ở người lớn và lớn hơn 5.0 cm ở trẻ em.

Bệnh nhân Marfan có thai thì nguy cơ bóc tách động mạch chủ gia tăng nếu ĐK động mạch chủ quá 4 cm. Những trường hợp này phải kiểm tra tim mạch thường xuyên trong suốt lúc mang thai và khi sinh nở. Có 2 vấn đề khi có thai là nguy cơ biến chứng tim mạch cho mẹ va ønguy cơ 50% truyền hội chứng Marfan cho con .

Hoạt động thể lực nhẹ đến vừa có thể chấp nhận ở hội chứng Marfan. Các môn thể thao có thể gây ra chấn động cho cơ thể thì khuyên nên tránh xa ( như môn bóng dầu dục, lặn , cỡi ngựa) do nguy cơ tim mạch và có thể làm nặng thêm di lệch tủy tinh thể. Các bệnh nhân có phẩu thuật gốc động mạch chủ hoặc thay van động mạch chủ, hoặc cả hai thì nên hạn chế nghiêm ngặt hơn, đặc biệt nếu đang sử dụng thuốc kháng đông. Lặn có thiết bị thở nên tránh vì có nguy cơ làm khởi phát tràn khí màng phổi.

Theo Timmachvietduc.net

Ăn nhiều đậu giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim

Bổ sung chế độ ăn hàng ngày với các thực phẩm từ đậu có thể giúp hạ lượng cholesterol xấu (LDL) trong cơ thể và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

Các nhà nghiên cứu Canada đã thực hiện 26 thí nghiệm trên tổng cộng hơn 1.000 người Mỹ và Canada. Phân tích cho thấy một khẩu phần ăn hàng ngày (3/4 chén) đậu các loại – như đậu xanh, đậu lăng và đậu Hà Lan – có khả năng làm giảm 5% hàm lượng cholesterol xấu LDL trong cơ thể. Tuy chưa thể khẳng định mối liên hệ nhân-quả, nhưng nghiên cứu trên cũng tạo ra một tín hiệu tích cực cho những người bệnh mỡ máu cao.

Mức giảm 5% về cholesterol LDL cũng đồng nghĩa với việc hạ thấp nguy cơ bệnh tim mạch xuống 5%, kết quả của nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ John Sievenpiper, thuộc Trung tâm Dinh dưỡng lâm sàng và Điều chỉnh Yếu tố nguy cơ tại Bệnh viện St Michael, Toronto thực hiện.

an-nhieu-dau-giup-giam-nguy-co-mac-benh-tim

Ảnh minh họa

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các loài cây họ đậu có ảnh hướng rõ nét tới sức khỏe tim mạch của nam giới hơn là với phụ nữ. Nguyên nhân có thể là do đàn ông thường có thói quen ăn uống thiếu điều độ hơn và mức cholesterol cao hơn so với phụ nữ, vì vậy khi chuyển sang một chế độ ăn uống lành mạnh, cơ thể lập tức phản ứng tích cực hơn.

Nghiên cứu còn ghi nhận một số trường hợp có các vấn đề về dạ dày như chướng bụng, đầy hơi, táo bón hoặc tiêu chảy khi ăn nhiều các loại đậu này. Tuy nhiên, điều đó không thể hạ thấp giá trị của đậu và các chuyên gia dinh dưỡng vẫn coi chúng như một thực phẩm hàng đầu trong việc điều trị cholesterol cao, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Angelo White, chuyên gia dinh dưỡng thể thao và trợ lý giáo sư lâm sàng tại Đại học Quinnipiac tại Hamden, Connecticut, Mỹ thì coi các loại đậu là “một trong những nguồn protein quý giá nhất bị đánh giá thấp. Chúng cực giàu chất xơ và protein tốt, do đó tôi không hề ngạc nhiên trước kết quả nghiên cứu.”

Tuy nhiên White cũng nói thêm rằng, “phần khó khăn nhất là khiến mọi người ăn nhiều đậu hơn. Hãy thử những cách chế biến đa dạng như nấu món khai vị, súp đậu lăng, hay thêm đậu vào các món ăn quen thuộc như mì ống, súp, xà lách và bánh cuộn quesadillas để tăng lượng tiêu thụ hàng ngày”.

Theo Afamily.vn

Chất sắt trong thịt làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim

 Các nhà khoa học Mỹ đã phân tích 21 nghiên cứu liên quan đến gần 300.000 người tham gia trong khoảng 10 năm xem xét các tác động chất sắt với tim mạch.

chat-sat-trong-thit-lam-tang-nguy-co-mac-benh-tim

Ảnh minh họa – Internet

Những người tham gia tiêu thụ các chất sắt dạng heme nhiều nhất (có trong các loại thực phẩm từ động vật, đặc biệt là thịt bò, cá, các loại gan, cùng với nghêu, hàu và nhuyễn thể khác) tăng 57% nguy cơ phát triển bệnh tim. Ngược lại, sắt có trong rau không tăng nguy cơ mắc bệnh. Tuy nhiên, cơ thể hấp thụ sắt dạng heme nhanh hơn nhiều so với sắt có trong rau. Sau khi hấp thụ, chất sắt có thể tăng tốc độ quá trình oxy hóa lipoprotein mật độ thấp (LDL), gọi là cholesterol xấu gây viêm mô dẫn đến bệnh tim.

Theo Anninhthudo.vn

Bệnh cơ tim giãn

Bệnh cơ tim giãn (BCTG) là bệnh lý của cơ tim không rõ nguyên nhân, có tiên lượng xấu tỷ lệ tử vong sau 5 năm là 35% và 70% sau 10 năm. Khoảng 50% bị đột tử do rối loạn tim.

benh-co-tim-gian

Ảnh minh họa.

Bệnh cơ tim giãn (BCTG) gồm bệnh cơ tim giãn, bệnh cơ tim phì đại và bệnh cơ tim hạn chế. Đây là bệnh lý của cơ tim không rõ nguyên nhân, thường gặp ở tuổi trung niên và thanh niên từ 20 – 50. Bệnh gặp nhiều hơn ở nam giới với tỷ lệ nam/nữ là 3/1. Các bệnh nhân thường tử vong do cơ tim giãn ra và giảm dần chức năng tâm thu và tâm trương dẫn đến suy tim ứ huyết nặng. Tuy nhiên, khoảng 50% bị đột tử do rối loạn nhịp tim. Những phụ nữ bị bệnh cơ tim sau đẻ (bệnh cơ tim chu sản) thì thường có tiên lượng tốt hơn, có thể phục hồi chức năng tim hoàn toàn sau vài năm. Tiên lượng phụ thuộc vào việc phát hiện và điều trị bệnh sớm.

Các tổn thương cơ tim do nhiều nguyên nhân không rõ ràng như yếu tố gia đình, yếu tố miễn dịch hay do virus. Những thay đổi về cấu trúc của cơ tim đã đưa đến những rối loạn huyết động như suy giảm nặng nề chức năng tâm thu và giãn tâm thất. Giảm cung lượng tim và thể tích nhát bóp. Giảm khả năng đáp ứng với gắng sức. Hở van hai lá và ba lá do giãn các buồng tâm thất.

Các bệnh nhân bị BCTG thường có triệu chứng như khó thở, ho khan, đau ngực, phù chân, tiểu ít… các bệnh nhân thường có triệu chứng suy tim nặng giai đoạn 3 – 4. Tuy nhiên, khoảng 10% các trường hợp phát hiện ra bệnh là do tình cờ chụp X-quang tim phổi thấy bóng tim to hơn bình thường.

Điều trị BCTG cũng tương tự như các bệnh nhân bị suy tim do nguyên nhân khác gồm: Ăn nhạt, dùng thuốc trợ tim, thuốc lợi tiểu, thuốc giãn mạch, các thuốc chống đông máu để phòng ngừa biến chứng tắc mạch. Một số dụng cụ có hiệu quả trong điều trị BCTG như máy tạo nhịp phá rung tự động có thể cấy được vào trong cơ thể, tạo nhịp ba buồng tim…

Phòng BCTG là có một chế độ làm việc, dinh dưỡng và luyện tập thể dục thể thao hợp lý. Điều quan trọng là luôn kiểm soát được trọng lượng cơ thể, kiểm tra huyết áp, mỡ máu, đường máu và có một tinh thần thoải mái, tránh bị stress.

TS Nguyễn Quang Tuấn

(Bệnh viện Tim Hà Nội)

Theo Kienthuc.net.vn

Những bệnh tim dễ gây đột quỵ?

Tai biến mạch máu não (đột quỵ) có nguyên nhân do bệnh “mạch máu não” là điều hiển nhiên rất dễ hiểu.

Tôi nghe nói bệnh tim cũng dễ gây đột quỵ nhưng không biết cơ chế ra sao và những bệnh tim nào hay gây ra tai biến này hay tất cả các bệnh tim đều bị? Nguyên nhân và cách xử trí?Đỗ Thùy Linh (Hà Nội).

nhung-benh-tim-de-gay-dot-quy

Ảnh minh họa.

TS Lê Văn Trường

, Trưởng khoa Can thiệp mạch, Bệnh viện T.Ư Quân đội 108:

Tai biến mạch máu não (đột quỵ) có nguyên nhân do bệnh “mạch máu não” là điều hiển nhiên rất dễ hiểu. Chẳng hạn như mạch máu não bị vỡ sẽ gây đột quỵ chảy máu não, ngược lại mạch máu não bị tắc đột ngột sẽ gây đột quỵ nhồi máu não.

Nhưng một số trường hợp bị tai biến mạch máu não lại là do bệnh tim. Loại tai biến nhồi máu não do bệnh tim là do cục máu đông hoặc cục sùi từ buồng tim, van tim bị trôi theo dòng máu lên động mạch cảnh, làm tắc đột ngột dòng máu nuôi não, gây ra đột quỵ nhồi máu não. Đó là những trường hợp bị bệnh rung nhĩ, hẹp van hai lá có rung nhĩ, u nhày nhĩ trái, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, tồn tại lỗ bầu dục…

Vì vậy, những bệnh nhân đã biết bệnh tim như trên, nếu có triệu chứng đột quỵ não cấp gồm: Đột ngột rối loạn ý thức, không nói được, bại liệt nửa người, nửa mặt… thì cần nghĩ ngay đến biến chứng nhồi máu não di chuyển cục nghẽn từ tim lên não và bác sĩ tim mạch cần gọi bác sĩ chuyên khoa can thiệp mạch máu não càng sớm càng tốt, để có thể cấp cứu mở thông lòng mạch bị tắc, cứu sống bệnh nhân.

Hiện nay, phương pháp cơ học kéo huyết khối hoặc cục nghẽn ra khỏi động mạch não để phục hồi dòng máu nuôi não đã được thực hiện với kết quả tốt tại Bệnh viện T.Ư Quân đội 108, Hà Nội.

Theo Kienthuc.net.vn