Tất cả bài viết của bstuanlong

Bệnh trĩ – Thuốc chữa bệnh trĩ Preparation-H-S

Bệnh trĩThuốc chữa bệnh trĩ Preparation-H-S
Trĩ là bệnh được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ. Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện. Người mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề, bệnh nhân thường bỏ qua và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại ngùng, nhất là phụ nữ.
Có hai dấu hiệu chính của bệnh trĩ làm chúng ta đến khám là chảy máu và sa búi trĩ.
Chảy máu là triệu chứng khiến mọi người bấn loạn nhất. Có người nghĩ mình bị ung thư sắp từ giã cõi đời. Có người dùng giấy chùi thấy máu đỏ, có người bị táo bón lâu ngày, ngồi rặn mãi phân ra được lại thấy máu tưới lên trên. Đây là lý do khiến mọi người phải đến khám ở bệnh viện.
Sa búi trĩ là hiện tượng khi đi cầu bạn thấy một khối lồi ra ở hậu môn, sau khi đi cầu nếu trĩ nhẹ nó tự tụt vào. Nếu trĩ nặng bạn phải dùng tay ấn nó chui vào bên trong. Động tác này khiến nhiều người ngại ngần, bối rối. Cuối cùng là búi trĩ ở hẳn bên ngoài, ấn vào nó cũng tự “chạy ra”.
Ngoài ra, có thể có kèm theo các triệu chứng khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn. Thông thường trĩ không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biến chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, ápxe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm da quanh hậu môn làm bạn cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.

Những yếu tố sau đây được coi là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh:
Táo bón kinh niên: Có người nín đi cầu, ăn ít rau nên bị táo bón. Bị táo bón nên khi đi cầu phải rặn đỏ mặt tía tai, áp suất trong hậu môn tăng vọt lên. Các tĩnh mạch ở đây cũng bị tăng áp lực nên dãn ra mỗi lúc một ít. Lâu dần sinh ra những tĩnh mạch ngoằn ngoèo, phồng to. Đó là trĩ.
Hội chứng lỵ mãn tính: Những người bị bệnh lỵ, mỗi lần đi cầu đều đau quặn bụng và rặn rất mạnh. Động tác rặn làm tăng áp suất trong ổ bụng, làm phồng tĩnh mạch. Thành tĩnh mạch gồm nhiều sợi cơ trơn nên dãn rồi không co lại được. Thế là bị lỵ nhiều lần cũng dễ bị trĩ. Một số chị sinh thường, động tác rặn để đẩy em bé ra cũng làm hậu môn bị lồi ra ngoài. Thông thường sau đó nó sẽ tụt vào.
Những người làm công việc đứng nhiều ngày, lao động nặng như khuân vác. Những người ngồi lì ở bàn giấy, tư thế ngồi cũng gây đè ép tĩnh mạch vùng hậu môn gây trĩ.
Sau cùng phải kể đến cấu trúc của hệ tĩnh mạch hậu môn có vấn đề. Chúng rất yếu, dễ dãn nên bệnh trĩ có tính gia đình. Cha mẹ bị trĩ, con cái cũng dễ mắc bệnh.
Hiện có nhiều cách chữabệnh trĩ:
Có thể chích thuốc làm xơ búi trĩ nó sẽ không chảy máu được. Khi đã xơ hóa thì làm gì có cơ hội để mà phồng lên.
Thắt trĩ bằng vòng cao su: tức là thắt hẹp lòng tĩnh mạch để chúng không phồng, không gây chảy máu nữa. Sau khi thắt tổ chức xơ cũng phát triển và làm tĩnh mạch không có cơ hội phồng được.
Phẫu thuật cắt bỏ búi trĩ: bây giờ dùng laser nên sẽ không thấy đau.
Giới thiệu Thuốc chữa bệnh trĩ mới :PreparationH Suppositories viên đặt chữa bệnh trĩ
Hoạt chất:
Phenylephrine HCl, dầu gan cá mập.
Chỉ định:
Bệnh trĩ , Trĩ nội , trĩ ngoại ,đi ngoài ra máu , nứt hậu môn do trĩ
Làm giảm các triệu chứng đau, sưng, ngứa gây ra bởi bệnh trĩ. Bảo vệ tĩnh mạch chống chảy máu
Là thuốc đăc Trị Bệnh trĩ, Viêm Tĩnh Mạch & Giãn Tĩnh Mạch chống co thắt., trợ tĩnh mạch và có tác dụng bảo vệ mạch máu. ôn định nhu đông ruôt chủ tri trĩ nội,trĩ ngoại
Liều dùng:
Có thể sử dụng đến 6 lần/ ngày hoặc sau mỗi lần đi cầu hoặc theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Liều dùng là dựa trên tình trạng sức khỏe của bạn và đáp ứng điều trị. Không sử dụng thường xuyên hơn hoặc trong một thời gian dài hơn chỉ dẫn.
Cách dùng:
Trước khi sử dụng, làm sạch các khu vực bằng xà phòng nhẹ và nước, rửa sạch và vỗ cho khô.
Số đăng ký: VN-4579-00
Dạng bào chế: Viên đạn
Quy cách đóng gói: Hộp 7 vỉ x 8 viên
Công ty đăng ký: Whitehall Robins Healthcare
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học nhấp chuột vào đây >>>: Thày thuốc giỏi
Website chuyên Thuốc và biệt dược nhấp chuột vào >>>: Thuốc chữa bệnh
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội : Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc

CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Thuốc chữa bệnh suy nhược thần kinh

Thuốc chữa bệnh suy nhược thần kinh
Suy nhược thần kinh là một hội chứng bệnh lý thuộc nhóm loạn thần kinh chức năng, do những rối loạn chức năng vỏ não và một số trung khu dưới vỏ gây nên. Bệnh suy nhược thần kinh được xác định là do căn nguyên tâm lý gây nên (có tác giả gọi là bệnh tâm căn suy nhược).
Căn nguyên tâm lý (chấn thương tâm thần, stress) rất đa dạng, là những căng thẳng tâm lý cấp tính hay mạn tính kéo dài như những tổn thất về người và của đột ngột, những mâu thuẫn kéo dài trong gia đình và trong công tác hay lao động trí óc căng thẳng kéo dài, tham vọng không thành…
Dấu hiệu thường gặp nhất của suy nhược thần kinh là mệt mỏi. Mệt mỏi là trạng thái cơ thể mà mọi người đều có: vận động thể lực quá độ, lao động thể lực quá nặng nề dẫn đến mệt mỏi. Mệt mỏi bình thường thì dễ phục hồi, chỉ cần có thời gian nghỉ ngơi điều chỉnh, bổ sung dinh dưỡng, ngủ một giấc sẽ lấy lại sức lực như cũ. Mệt mỏi do suy nhược thần kinh thì dường như không có nguyên nhân, nghỉ ngơi bồi dưỡng thế nào cũng không thể phục hồi được thể lực, thậm chí càng ngủ càng cảm thấy suy yếu, không có sức. Đi kèm với mệt mỏi là trạng thái tinh thần bực bội khó chịu, không yên, nằm trên giường cứ suy nghĩ tạp loạn, khó đi vào giấc ngủ. Các cơ quan khác của cơ thể cũng thường cảm thấy khó chịu, như tim hồi hộp đập nhanh, tức ngực thở gấp, chán ăn, khó chịu ở dạ dày, đôi khi tiêu chảy, táo bón, kinh nguyệt không đều v.v… khiến người bệnh hoài nghi có bệnh nặng trong cơ thể, nhưng khi kiểm tra kết quả nhiều lần chỉ phát hiện một vài vấn đề rất nhỏ, không tương xứng với mức độ mệt mỏi mà họ cảm nhận được.
Một biểu hiện rất thường gặp nữa của suy nhược thần kinh là người bệnh luôn nghi ngờ mình có bệnh. Chứng nghi bệnh có thể phát sinh chính từ cảm giác mệt mỏi khó giải thích được của họ. Có thể do những cảm giác khó chịu nào đó trong cơ thể, hoặc từ những kiến thức đọc được trong sách báo y học mà lo sợ mình mắc bệnh, như khi đau đầu cho là bị khối u não, hồi hộp cho là bị bệnh tim, đầy hơi khó chịu trong dạ dày cho là bị viêm loét hoặc ung thư dạ dày. Mặc dù đã được khám toàn diện cẩn thận xét nghiệm nhiều lần, thậm chí chụp CT, điện não đồ, kiểm tra cộng hưởng từ… đều cho thấy các tổ chức cơ quan hoàn toàn tốt, nhưng vẫn không thể loại bỏ được hoài nghi trong đầu người bệnh, họ cho rằng bệnh của mình rất đặc biệt, hoặc kiểm tra có thể bị nhầm, cho nên vẫn tiếp tục tìm bác sĩ nổi tiếng để kiểm tra bằng những phương pháp cao cấp hơn, hy vọng có thể biết được mình bị bệnh gì.
Người bình thường có nghi bệnh không? Có. Người bình thường lúc này hay lúc khác cũng có khi nghi mình bị bệnh, chẳng hạn trong đợt dịch viêm gan A, gặp lúc chán ăn thì sinh nghi không biết mình có viêm gan không. Hoặc qua tiếp xúc trong đám bạn có người lao phổi, về nhà bị ho vài tiếng do trúng gió, liền lo sợ mình đã lây bệnh lao. Nhưng những ý nghĩ sai lầm này gạt bỏ được ngay khi nghe bác sĩ giải thích, và người ta hiểu đúng vấn đề đã được làm sáng tỏ bằng các kết quả xét nghiệm khách quan, người ta thường không có thái độ cố chấp và không có ý định kéo dài thời gian kiểm tra thêm.
Mất ngủ cũng là một trong những triệu chứng chủ yếu của suy nhược thần kinh. Có một số người ngủ ít, nhưng ban ngày họ vẫn có thể tràn trề tinh thần làm việc, học tập, đầu óc rất sáng suốt, tình cảm rất bình ổn, rất ít bực bội, tức giận. Còn mất ngủ do suy nhược thần kinh thì thời gian ngủ ban đêm không phải là ít, nhưng ban ngày họ thường mệt mỏi và ngủ gật. Ngồi muốn ngủ, nhưng nằm xuống lại không ngủ được và dùng thuốc an thần không có kết quả hoặc kết quả không đáng kể.
Người bị suy nhược thần kinh thường không được can thiệp sớm do đó để lại hậu quả tâm lý thêm nặng nề và gây tốn kém cho người bệnh. Chẳng hạn người bị đầu óc quay cuồng, đau đầu dữ dội thường đi đến khoa thần kinh; người tim hồi hộp tức ngực, mạch nhanh thở gấp thường đến khoa tim mạch; người ăn không tiêu, đầy bụng, ợ hơi thường đến khoa tiêu hoá; người kinh nguyệt không đều, giảm ham muốn tình dục thường đến khoa phụ sản hoặc khoa tiết niệu; người tinh thần mệt mỏi, ngày càng sụt cân thường đến khoa nội tiết; người mất ngủ nghiêm trọng, lo lắng không yên thường đến khoa nội v v… Các khoa ở bệnh viện đa khoa, dường như đều có thể tìm thấy bệnh nhân bị suy nhược thần kinh, mặc dù các bác sĩ luôn cho biết kiểm tra chưa phát hiện có bệnh ở cơ quan nào.
Điều trị bệnh ra sao?
Bệnh nhân suy nhược thần kinh có nguồn gốc tâm lý cho nên điều trị chủ yếu là tâm lý liệu pháp. Các biện pháp điều trị nhằm giải quyết và loại trừ căn nguyên tâm lý. Trong điều trị tâm lý liệu pháp cần giải thích hợp lý về bệnh tật cho bệnh nhân hiểu. Sử dụng ám thị điều trị cho bệnh nhân. Hướng dẫn bệnh nhân tập khí công dưỡng sinh.
Các thuốc tác động lên cơ chế sinh bệnh có tác dụng lên quá trình hưng phấn hệ thần kinh như: sulbutiamine (arcalion) hoặc asthenal uống sau ăn sáng. Nếu uống vào buổi trưa hoặc tối có thể gây mất ngủ, nếu uống vào lúc đói có thể gây cồn cào, khó chịu vùng thượng vị.
Các thuốc khác có tác dụng chữa triệu chứng, tuỳ từng bệnh nhân khác nhau có thể chỉ định cho các thuốc khác nhau. Các thuốc hay được các bác sĩ khuyên dùng là:
– Tăng cường tuần hoàn và dinh dưỡng não: piracetam, ginkgo biloba…
– Thuốc an thần, trấn tĩnh: nên dùng các thuốc có tác dụng an thần nhẹ, trấn tĩnh. Tuy nhiên nhóm thuốc này thường gây quen thuốc nên sử dụng cần thận trọng.
– Thuốc giảm đau: hay dùng là các dẫn chất của paracetamol và acetaminophen: các thuốc này có đặc điểm là tác dụng nhanh nhưng có tác dụng bất lợi là độc với gan, thận, tác dụng lên đường tiêu hoá. Khi sử dụng nên dùng xa bữa ăn, uống với nhiều nước.
– Các vitamin: đừng quan niệm vitamin là các thuốc bổ mà sử dụng tuỳ tiện. Đây là nhóm thuốc cung cấp các yếu tố vi lượng, có tác dụng tới quá trình chuyển hoá của cơ thể đồng thời nó cũng có tác dụng phụ không tốt nếu ta dùng quá liêu và không đúng chỉ định.
Giới thiệu thuốc Arcalion 200mg : Thuốc chữa bệnh suy nhược thần kinh
Arcalion 200 thuộc nhóm Hệ Thần Kinh – Thuốc Hướng Thần Kinh & Bồi Bổ Thần Kinh.
Thành Phần: Sulbutiamine
Chỉ Định: Điều trị triệu chứng suy nhược chức năng: các biểu hiện của suy nhược như mệt mỏi, suy giảm hoạt động, giảm trí nhớ, suy nhược trí tuệ & suy nhược tình dục.
Liều Dùng: 2 viên mỗi ngày, uống 1 lần vào bữa điểm tâm. Trường hợp suy nhược nặng có thể tăng liều 3 viên/ngày.
Nên dùng kết hợp với Tảo xoắn Spirulina hoặc Golden Valley SOD hiệu quả sẽ cao hơn
Chứng suy nhược thần kinh là do căng thẳng tâm lí lâu ngày gây ra nên việc điều trị không chỉ dựa vào thuốc mà người bệnh cũng cần phải rèn luyện để kiểm soát cảm xúc và giữ thăng bằng tâm lí như: thường xuyên tập thể dục, thư giản đầu óc, giải trí sau những ngày làm việc mệt mỏi, tránh stress và các sang chấn tâm lí như thế mới có thể điều trị bệnhtận gốc.
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Phân phối bởi Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Tư vấn sản phẩm TsQuang: ĐT :0972.690.610
Tham khảo thêm về sản phẩm tại website chuyên nghành :
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: Thuốc chữa bệnh
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
Sản Phẩm được phân phối tại các Bệnh viên và nhà thuốc trên toàn quốc

CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC NẾU BN CÓ YÊU CẦU

Bệnh Rối Loạn Tuần Hoàn Não và thuốc điều trị

Bệnh Rối Loạn Tuần Hoàn Não và thuốc điều trị
Rối Loạn Tuần Hoàn Não( RLTHN) hay còn gọi Thiểu năng Tuần Hoàn Não.Là từ chuyên môn để chỉ một trạng thái bệnh lý, có rất nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau nhưng cùng chung một cơ chế sinh bệnh là thiếu máu nuôi não. do mạch máu nuôi dưỡng não bị chèn ép, tắc, hẹp… làm cho lượng máu đến nuôi dưỡng não bị thiếu.
Thiểu năng tuần hoàn não là một bệnh hiện nay gặp ở nhiều đối tượng, lứa tuổi khác nhau. Bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của bệnh nhân và nguy hiểm hơn là dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như nhũn não, xuất huyết não
Biểu hiện của Bệnh Rối Loạn Tuần Hoàn Não là gì?
Đối với RLTHN cấp tính) thường có một số biểu hiện như đau đầu (đau ê ẩm, nặng đầu, khó chịu), ù tai, giảm thính lực tạm thời, chóng mặt, hoa mắt, mất thăng bằng, hay quên đột ngột, giảm trí nhớ, nặng hơn có thể có cơn đột quỵ kèm theo mất ý thức, xây xẩm mặt mày, buồn nôn, nôn, nặng đầu khi thay đổi tư thế… Những triệu chứng này thường gặp vào lúc nửa đêm hoặc gần sáng. Ngoài các triệu chứng điển hình khi cơn cấp tính xảy ra người bệnh còn có thể thấy kém tập trung tư tưởng, giảm khả năng tư duy, chậm hiểu, lười suy luận và đãng trí. Rối loạn tuần hoàn não còn được chia theo vị trí tổn thương như ở vùng não bán cầu, vùng trán, vùng thái dương, vùng chẩm, vùng thân não, tiểu não…
Rối Loạn Tuần Hoàn Não ít nhiều đều có phù não, gây ra các rối loạn về tâm lý, như người bệnh dễ nóng giận, buồn vui, hay quên, thậm chí không gọi tên được người thân ngồi trước mặt. Các rối loạn khác có thể gặp nữa là rối loạn thần kinh thực vật (cảm giác nóng bừng bừng, toát mồ hôi, nghẹt thở, lạnh các ngón chi, nổi da gà…), rối loạn kích thích, rối loạn đại tiểu tiện…
Chóng mặt: (gặp 87% trường hợp) hoặc có cảm giác hơi loạng choạng khi đi hoặc đứng, bập bềnh như say sóng. Có người cảm thấy hoa mắt, tối sầm mặt lại nhất là khi chuyển tư thế nằm sang tư thế đứng đột ngột. Điển hình là cơn chóng mặt, thấy mọi vật như chao đảo quay chung quanh mình. Hiện tượng này xảy ra mỗi khi thay đổi tư thế làm cho bệnh nhân phải nằm nhắm mắt nằm im, hễ cử động là chóng mặt, buồn nôn. Các cơn chóng mặt kiểu này có thể chỉ ngắn vài phút, có khi dài đến vài ngày.
Nhức đầu: Là triệu chứng hay gặp (chiếm 90%) đồng thời cũng là triệu chứng xuất hiện sớm nhất. Nhức đầu lan tỏa khắp đầu, có cảm giác căng nặng trong đầu, nhất là mỗi khi phải suy nghĩ nhiều. Người bệnh thường có thói quen xoa trán, vuốt hoặc gãi đầu, có người bóp trán, đấm nhẹ vào trán.
Rối loạn về giấc ngủ: Rất hay gặp và có đặc điểm là dai dẳng, khó chịu, khó chữa. Biểu hiện rất đa dạng; một số người biểu hiện chính là mất ngủ, ở người khác lại là rối loạn nhịp ngủ, lúc tối ngủ được, nửa đêm trằn trọc không ngủ, gần sáng lại ngủ. Đêm không ngủ được, ngày lại ngủ gà ngủ gật..
Dị cảm: Là những cảm giác không thật, bất thường do bệnh nhân tự cảm thấy. Ví dụ như cảm giác tê tê, bì bì ở đầu ngón, cảm giác kiến bò. Có bệnh nhân xuất hiện cảm giác đau dọc các xương sườn, đau ở cổ theo hai đường ở phía gáy, cảm giác lạnh ở dọc xương sống. Có cảm giác như có tiếng ve kêu, cối xay lúa trong tai, tiếng này tồn tại cả ban ngày lẫn ban đêm, có khi ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt, giấc ngủ và sức khỏe người bệnh.
Chúng ta đã biết: Não là cơ quan quan trọng bậc nhất của cơ thể.Do quan trọng nên não được tạo hóa tổ chức nuôi dưỡng chu đáo. Não bộ được nuôi bởi hai hệ động mạch cảnh và hai động mạch đốt sống ( động mạch thân nền ) ở hai bên cổ .Giữa chúng còn có hệ thống kết nối, liên kết với nhau trên bề mặt vỏ não và nền sọ để hỗ trợ bù trừ nhau khi một nhánh nào đó không hoàn thành nhiệm vụ ( do bị co thắt ,chít hẹp hay bị tắc ) . Bình thường não có lượng lớn máu đi qua , thường xuyên tiếp nhận khoảng 15% lượng máu tim cung cấp cho toàn cơ thể .Không những thế não là cơ quan “ quí phái “ luôn luôn đòi hỏi được cung cấp đủ chất dinh dưỡng nhất là oxy mới làm việc tốt được.Não sử dụng tới 25% tổng lượng oxy cung cấp cho toàn cơ thể. Trong thực tế không phải lúc nào não cũng được đáp ứng đủ nhu cầu trên không chỉ với bệnh nhân mà ngay cả một số người đang làm việc sinh hoạt bình thường. Khi không được đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng , không đủ oxy, não không chỉ làm việc năng suất thấp mà còn phát sinh nhiều bệnh. Một trong những bệnh hệ thần kinh thường gặp là Thiểu năng Tuần Hoàn Não hay còn gọi là thiếu máu não. Bệnh thiếu máu não thực chất là bệnh thiếu oxy não.Bệnh không chỉ ảnh hưởng tới sinh hoạt , công việc mà dễ dẫn tới Tai biến mạch máu não..Bệnh thường diễn ra rất nhanh chỉ trong vài giây đôi khi kéo dài đến vài giờ .Các triệu chứng cuả bệnh tùy thuộc vào mức độ thiếu máu của động mạch não nhưng thường gặp nhất là vắng ý thức nhất thời ,chóng mặt, rối loạn thăng bằng , giảm hoặc mất thị lực tạm thời một bên mắt , liệt nhẹ nửa người , rối loạn cảm giác ,khó nói , rối loạn ngôn ngữ nhất thời …
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới Bệnh Rối Loạn Tuần Hoàn Não :
Do các động mạch não bị hẹp có thể do xơ vữa lòng mạch , dị dạng bẩm sinh ; bị chèn ép do khối u , thoái hóa các đốt sống cổ . Cũng có khi mạch máu bị tắc ,bán tắc do cục máu đông trong lòng mạch .
Do không được cung cấp đủ oxy : Khi mạch máu không bình thường , không thông suốt , não không được cung cấp đủ máu về lượng . Đây là nguyên nhân thường được chú ý tới . Đương nhiên đây là lý do quan trọng vì não cần lượng máu 50ml cho 100 g não đi qua mỗi phút .Khi lưu lượng máu chỉ đạt 40ml /100g não /phút tổ chức não bắt đầu bị ức chế do thiếu oxy và sẽ bị tổn thương không hồi phục sau 2-3 phút khi lượng máu này chỉ còn 10ml .
Nguyên tắc điều trị Rối Loạn Tuần Hoàn Não :Thầy thuốc tùy theo loại và mức độ rối loạn tuần hoàn não để chọn thuốc, liều dùng thích hợp để đủ lập lại cân bằng não bị suy giảm .Việc điều trị chủ yếu nhằm tái lập cung cấp máu bình thường với đầy đủ oxy cho não
Hiện nay có rất nhiều thuốc có tác dụng tăng cường tuần hoàn não như citicoline ,cinnarizin 25mg, vinpocetin 5mg, piracetam 400-800-1000mg.
Đặc biệt gần đây trên thị trường có 3 loại SP mới là Neurozan .GoldenValley SOD va GinkoVita với thành phần là ginko leat Extract có tác dụng hỗ trợ tăng cường tuần hoàn não, giảm cholesterol trong máu, Magnesi oxid có tác dụng tăng dẫn truyền thần kinh giảm lo âu căng thẳng, vitamin B6 tăng cường các hoạt động thần kinh với tác dụng kép trong cùng một sản phẩm tạo nên hiệu quả rất tốt, cải thiện hội chứng Thiểu năng Tuần Hoàn Não, ngăn ngừa các nguy cơ tai biến cho bệnh nhân bị thiểu năng tuần hoàn não
Providing flavones 9,8mg.Hawthom Frui Extact 30mg .Protein 0,8g.Cacbonhydrat 23,7g.Calci 30mg.Photpho 30mg.itamin A 70UI.Vitamin C 150mg ….Các Flanovoid này có tác dụng thu dọn các gốc tự do .Bảo vệ ,chống thương tổn mô não và các chứng phù não do thương tổn bởi các chất độc hại thần kinh gây ra như Triethyltin .Làm giảm các tổn thương ở ốc tai ,có tác dụng cải thiện chức năng về tiền đình ,thính giác .
Công dụng chính
Suy Tuần Hoàn NãoRối Loạn Tuần Hoàn Não và các biểu hiện chức năng chóng mặt ,nhức đầu ,giảm trí nhớ ,giảm khả năng nhận thức .rối loạn vận động ,rối loạn cảm xúc
-Di chứng Tai biến mạch máu não và chấn thương sọ não
-Phòng ngừa và làm chậm quá trình tiến triển của bệnh Alzheimer
-Hỗ trợ điều trị bệnh gan nhiễm mỡ
-Rối loạn thần kinh cảm giác,tuần hoàn ở mắt ,tai ,mũi ,họng
-Hỗ trợ giúp tăng vững bền thành mạch ngoại vi ,Cải thiện hội chứng Raynaud tê lạnh và tím tái đầu chi ,bệnh động mạch chi dưới, điều hoà huyết áp
Cách dùng : 01 viên/ngày Hoặc theo chỉ dẫn của bác sỹ
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc
CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Bệnh Gút: Bệnh GOUT VÀ Thưốc Chữa Bệnh Gút

Bệnh Gút: Bệnh GOUT VÀ Thưốc Chữa Bệnh Gút
Nửa đêm thức giấc vì ngón chân cái nóng như lửa đốt, sưng to và rất đau, đặc biệt khi sờ vào. Rất có thể bạn đang bị cơn gút cấp tính.
Người bị gút có biểu hiện viêm khớp. Giai đoạn đầu viêm một cách đột ngột, có thể tối hôm trước vẫn đi bình thường, nửa đêm về sáng khớp đã bị sưng vù, nóng đỏ, bệnh nhân đau rất dữ dội, đến mức không đi lại được. Những cơn gút đầu tiên có thể tự hết, sau đó 1 năm có thể tái phát một, hai lần.
Bệnh Gút là gì?
Bệnh gút (tiếng Anh là gout, gọi theo âm Hán-Việt là thống phong), hay viêm khớp do gút, là một dạng viêm khớp được đặc trưng bởi cơn đau khớp dữ dội và đột ngột, kèm theo đó là sưng đỏ khớp. Gút là một bệnh khớp phổ biến ở đàn ông trung niên, do khớp bị lắng đọng các tinh thể muối urate trong ổ khớp và các tổ chức quanh khớp. Dù gặp ở đàn ông nhiều hơn, nhưng phụ nữ sau mãn kinh cũng có thể bị bệnh này. Rất may, bệnh gút có thể khỏi hẳn nếu được điều trị đúng. Hơn nữa, gút là một bệnh có thể được dự phòng
Bệnh Gút :Triệu chứng biểu hiện
Gút hầu như luôn biểu hiện cấp tính, xảy ra một cách đột ngột, thường là vào lúc nửa đêm và không có dấu hiệu gì báo trước. Các triệu chứng thường gặp là:
Đau khớp dữ dội. Thường xảy ra ở khớp ngón chân cái nhưng các khớp khác cũng có thể bị là khớp bàn chân, cổ chân, bàn tay và cổ tay. Khớp bị ảnh hưởng bị sưng đỏ, đau khi sờ vào.. Nếu không được điều trị, đau có thể kéo dài 5 – 10 ngày rồi tự mất đi. Khó chịu lui dần trong 1 – 2 tuần, khớp trở lại bình thường.
Tiêu biểu nhất là việc sưng tấy, đỏ ngón chân cái
Thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp. Thường bắt đầu vào tuổi 35 đến 45. Khởi bệnh đột ngột, diễn biến từng đợt, giữa các đợt đau các khớp hoàn toàn khỏi (những năm đầu).
Yếu tố nguy cơ
Bệnh Gút dường như dễ xảy ra ở những người có nồng độ acid uric tăng. Một số yếu tố có thể làm tăng nồng độ acid uric là:
Lối sống. Ăn nhiều chất đạm động vật (đặc biệt là tôm, cua) cùng với uống nhiều bia rượu có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh gút.
Một số bệnh. Có thể gia tăng nguy cơ bị bệnh gút khi mắc một số bệnh nội khoa như: tăng huyết áp không được điều trị, đái tháo đường, tăng lipid máu và xơ vữa động mạch.
Một số thuốc. Một số thuốc có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh gút là thuốc lợi tiểu nhóm thiazide (thường được sử dụng điều trị tăng huyết áp) và dùng aspirin liều thấp kéo dài. Các thuốc khác cũng có thể làm tăng nguy cơ bị gút là: pyrazinamide (dùng trong điều trị bệnh lao), cyclosporine (được sử dụng ở những người được ghép tạng với mục đích chống thải ghép), một số thuốc điều trị ung thư.
Điều trị Bệnh Gút:
Với cơn đau cấp tính. Sử dụng thuốc kết hợp với các biện pháp nghỉ ngơi cho khớp bị đau. Có 3 nhóm thuốc thường được sử dụng trong điều trị gút cấp tính là: các loại thuốc kháng viêm như colchicine và các thuốc kháng viêm không steroid như indomethacin, thuốc làm giảm acid uric máu và các thuốc corticosteroid (uống hoặc chích thẳng vào khớp).
Với những bệnh nhân bị tăng acid uric trong máu. Bệnh nhân cần theo một chế độ ăn đặc biệt. Thêm vào đó, bệnh nhân cần sử dụng một số thuốc làm giảm acid uric máu (như allopurinol, sulphinpyrazone và probenecid) cho đến khi nồng độ acid uric máu trở về bình thường. Trong thời gian uống thuốc làm giảm acid uric máu, bệnh nhân cần uống nhiều nước để giúp thải acid uric qua đường tiểu được dễ dàng hơn.
Phẫu thuật. Phẫu thuật hiếm khi được sử dụng trong điều trị Bệnh Gút. Thi thoảng, dùng phẫu thuật để lấy đi tophi bị nhiễm trùng hay tophi ảnh hưởng vào cử động khớp. Một số trường hợp khớp bị biến dạng do gút, phẫu thuật giúp cho khớp cải thiện chức năng và cử động của khớp.
Phác đồ điều trị Bệnh Gútmới nhất là kết hợp hai loại Thưốc Chữa Bệnh Gút :
-KBiogreen : Xuất xứ Malaisya –gồm 60 dưỡng chất đặc biệt giúp phục hồi các tế bào đang bị thương tổn , đào thải acid uric qua đương tiêu hoá . Cân bằng và ổn định tối đa acid uric về mức an toàn 430 micromol/l
nhằn ngăn chặn sự lắng đọng urat tránh nguy cơ mắc thêm bệnh thận
-Kinotakara : Xuất xứ từ Nhật Bản-Hút và Đào thải acid uric trong máu ngăn chặn các biến chứng vào thận và khớp . Ưc chế Enzim xanthin õydase (đây là enzym gây ra sự hình thành axid uric trong niệu đạo và acid uric trong máu
Kết thúc điều trị, bệnh nhân sẽ trở lại chế độ sinh hoạt ăn uống như người bình thường, khả năng tái phát bệnh rất thấp nếu có chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi điều độ.
Các bệnh nhân Gout đã bị mãn tính lâu năm, những bệnh nhân đã bị biến chứng sang thận, tiểu đường, béo phì đều có khả năng đáp ứng khi được điều trị theo chương trình này.
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc
CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Bệnh Đau dạ dày : bệnh loét dạ dày tá tràng và cách điều trị

Bệnh Đau dạ dày : bệnh loét dạ dày tá tràng và cách điều trị
Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng (DD-TT) là một bệnh đã được biết từ thời cổ đại. Bệnh xảy ra ở mọi quốc gia, mọi lứa tuổi. Tỉ lệ bệnh ở các nước là 1 – 3% dân số, và trong suốt một đời người khả năng mắc bệnh loét là 10%. Việc điều trị loét dạ dày tá tràng đã có những thay đổi lớn trong ba thập niên trở lại đây với việc phát triển các thuốc chống loét thế hệ mới từ thập niên 1970 và việc phát hiện và xác định vai trò gây bệnh loét của vi khuẩn Helicobacter Pylori từ thập niên 1980.
Viêm loét dạ dày – tá tràng thường gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em. Đặc điểm của bệnh là tùy theo các vị trí của viêm và loét khác nhau mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ hoặc loét bờ cong nhỏ, loét hang vị, loét tiền môn vị, viêm tá tràng, loét tá tràng hoặc cả dạ dày và hành tá tràng đều bị viêm.
I. Nguyên nhân và các yếu tố gây ra bệnh loét dạ dày tá tràng là gì?
1. Quan niệm về sự sinh bệnh loét được hình thành từ những năm đầu của thế kỷ 20. Đó là do sự mất quân bình giữa 2 lực đối kháng tác động lên niêm mạc DD-TT:
(1) Lực tấn công làm phá hủy niêm mạc DD-TT mà tiêu biểu là HCl và pepsin của dịch dạ dày
(2) Lực bảo vệ đảm bảo sự nguyên vẹn của thành DD-TT do hàng rào nhày và lớp tế bào niêm mạc DD-TT. Theo quan niệm này, bất cứ một tác nhân nào làm gia tăng lực tấn công hoặc làm giảm lực bảo vệ đều có thể gây bệnh loét dạ dày tá tràng. Có thể minh họa quan niệm này bằng sơ đồ dưới đây:
Giảm Lực Bảo Vệ Tăng Lực Tấn Công
– Giảm tưới máu – Vi khuẩn H.Pylori niêm mạc DD-TT – Các stress
– Thuốc lá – Thuốc AINS , Steroids …
– Bệnh gan mạn tính – Rượu .
( xơ gan ) Hàng rào nhày Lớp tế bào niêm mạc
2. Trong số các tác nhân gây bệnh nêu trên, H. Pylori là nguyên nhân quan trọng nhất. Hai nhà bác học Úc Marshall và Warren đã được trao tặng giải Nobel nhờ đã có công khám phá ra loại vi khuẩn này. Các thuốc AINS, Steroides có thể gây loét ở người phải điều trị dài ngày với các thuốc này. Các stress về tâm lý thần kinh cũng có thể gây bệnh loét. Thuốc lá làm tăng nguy cơ bị loét, tăng tỉ lệ tái phát và biến chứng của bệnh loét. Rượu cũng tăng tỉ lệ tái phát loét.
II. Triệu chứng của bệnh loét dạ dày tá tràng như thế nào?
Chỉ khoảng 50% bệnh nhân loét DD-TT là có triệu chứng điển hình, 40 – 45% có triệu chứng mơ hồ, không điển hình, những trường hợp này rất khó chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác của DD-TT như viêm DD-TT, ung thư DD. Có 5 – 10% bệnh nhân loét hoàn toàn không có triệu chứng (loét câm), hay gặp ở người lớn tuổi.
1. Cơn đau loét: là triệu chứng điển hình của bệnh loét dạ dày tá tràngvới các đặc điểm (1) Đau thượng vị (vùng trên rốn và dưới mỏm xương ức). (2) Đau có chu kỳ theo bữa ăn và theo mùa. (3) Đau xuất hiện hoặc tăng khi ăn các thức ăn chua, cay hay khi bị căng thẳng thần kinh và giảm khi uống các thuốc kháng axit hay thuốc băng niêm mạc dạ dày.
2. Các triệu chứng không điển hình như đầy bụng, ợ hơi, ợ chua, chậm tiêu hóa… rất khó phân biệt là do loét hay do một bệnh khác của dạ dày như viêm DD, ung thư DD, hay chứng loạn tiêu hóa không do loét. Trường hợp này phải chụp Xquang hoặc nội soi DD-TT mới chẩn đoán chắc chắn.
3. Các trường hợp loét câm thường chỉ được chẩn đoán khi xảy ra biến chứng.
4. Bệnh thường hay tái phát. Trước đây, sau khi được chữa lành, có 60 – 80% tái phát trong vòng 2 năm. Từ thập niên 80, khi xác định được vai trò gây bệnh của vi khuẩn H. Pylori, việc điều trị tiệt trừ H. Pylori đã làm giảm tỉ lệ tái phát còn khoảng 10%.
III.Các biến chứng của bệnh loét dạ dày tá tràng là gì?
1. Xuất huyết tiêu hóa (chảy máu đường tiêu hóa): xuất huyết hay chảy máu thường rầm rộ với ói ra máu, có hoặc không có đi tiêu phân đen. Bệnh nhân cần được nhập viện ngay để điều trị cấp cứu.
2. Thủng DD-TT: xuất hiện cơn đau bụng đột ngột , dữ dội vùng thượng vị như dao đâm, thường có nôn ói và bụng cứng như gỗ. Biến chứng này phải được mổ cấp cứu, nếu không bệnh nhân sẽ tử vong.
3. Hẹp môn vị: lúc đầu ăn chậm tiêu, đầy bụng, nặng bụng, ợ nước chua nhất là về buổi chiều; tiếp theo bệnh nhân bị nôn ói sau ăn ngày càng thường hơn. Bệnh nhân thường gầy sút do bị nôn ói. Biến chứng này phải được điều trị bằng phẫu thuật.
4. Hóa ung thư: ngày nay người ta thấy có chứng cứ nhiễm H. Pylori gây viêm loét dạ dày lâu dài có thể dẫn đến ung thư dạ dày.
IV. Làm cách nào để xác định bị bệnh loét dạ dày tá tràng?
1. Chẩn đoán xác định loét DD-TT: trước đây khi bệnh nhân có cơn đau loét điển hình, bác sĩ có thể tiến hành điều trị với thuốc chống loét. Trường hợp các triệu chứng không điển hình, phải chụp Xquang hoặc nội soi để xác định bệnh loét và loại trừ các bệnh khác của dạ dày, nhất là ung thư dạ dày.
Các triệu chứng giúp nghĩ đến ung thư dạ dày là (1) Sụt cân, chán ăn. (2) Đi cầu phân đen và có các triệu chứng của thiếu máu mạn như xanh xao, mệt mỏi. (3) Đau bụng âm ỉ vùng thượng vị. (4) Người lớn tuổi (> 50 tuổi). (5) Có người thân trong gia đình bị ung thư dạ dày
2. Chẩn đoán nhiễm H. Pylori: hiện nay do cần xác định có nhiễm H. Pylori hay không để quyết định việc điều trị tiệt trừ nên cần làm xét nghiệm chẩn đoán nhiễm H. Pylori cho bệnh nhân. Có nhiều phương pháp chẩn đoán nhiễm H. Pylori như chẩn đoán qua nội soi và các xét nghiệm không phải làm nội soi như test huyết thanh học, test thở urease Phương pháp xét nghiệm hiện đại nhất hiện nay là Pytest (xét nghiệm dạ dày bằng hơi thở) khắc phục được nhược điểm gây nôn ói của nội so, kỹ thuật PCR…
V.Điều trị bệnh loét dạ dày như thế nào?
Hiện nay việc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng có thể phân ra hai nhóm chính: nhóm bệnh loét DD-TT do nhiễm H. Pylori và nhóm không do nhiễm H. Pylori. Nhóm sau thường do dùng các thuốc kháng viêm, thuốc trị đau nhức,do stress, do bệnh gan mạn tính. Thuốc điều trị là kháng sinh mà chủ yếu là Metronidazole hoặc Clarithromycin, nhưng hiện nay hiện tượng đề kháng thuốc đã dần xuất hiện (47 – 86% với Metronidazol, 20% với Clarithromycin và 69% với Amoxiciclin) làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả điều trị. Clarithromycin có tỷ lệ thành công cao hơn hẳn so với Metronidazol, nhưng hiệu quả của thuốc sẽ tăng hơn nếu ức chế tiết acid đầy đủ bằng các thuốc ức chế bơm proton để làm tăng độ pH của dạ dày. .Các phác đồ điều trị chủ yếu hiện nay là sự phối hợp của 3 hoặc 4 loại thuốc trong số : thuốc ức chế bơm proton – Amoxcycilin – Metronidazol – Clarithromycin và Bismuth hay Tetracyclin.
Hội Tiêu hóa Việt Nam đã họp bàn nhiều về cách diệt trừ chúng và thống nhất một phương thức chung để điều trị Helicobacter Pylori ở bệnh nhân dạ dày tá tràng có hiệu lực nhất theo tóm tắt như sau:
– Chỉ định tiệt trừ HP: loét hành tá tràng; loét dạ dày; viêm teo dạ dày mạn tính hoạt động; u lympho bào dạ dày hoạt hóa thấp; ung thư dạ dày chẩn đoán rất sớm; điều trị lâu dài với thuốc chống viêm không steroid (NSAID) hay có tiền sử loét trước khi điều trị.
– Có thể dùng trong các trường hợp: Ung thư dạ dày chẩn đoán muộn và đã phẫu thuật; trào ngược dạ dày thực quản; viêm dạ dày đã điều trị nhiều lần không giảm hay con cái những người bị ung thư dạ dày.
– Công thức điều trị: chọn một trong các phác đồ sau:
1. Ức chế bơm proton (PPI) + Clarithromycin (C) 500mg + Amoxiciclin (A) 1000mg dùng ngày 2 lần trong ít nhất 7 ngày
2. [ PPI + C 500mg + Metronidazol (M) 500mg] x 2 lần x 7 ngày
3. [ PPI + Bismuth (B)200 – 400mg + Tetracyclin (T) 1000mg + M 500mg] x 2 lần x 7ngày
4. [ PPI + B 200 – 400 mg +T 1000mg + A 1000mg] x 2 lần x 7 ngày
5. PPI 2 lần/ngày + [ T 250mg + M 200mg + B 108mg ] x 5lần x 10 ngày
Các thuốc trung hòa axít trước đây được coi là thuốc chính trong điều trị VLDDTT. Nhưng hiện nay chỉ còn sử dụng như thuốc hỗ trợ để làm giảm các triệu chứng của bệnh VLDDTT, như đau bụng, ăn không tiêu…Toa thuốc trị viêm loét dạ dày nếu chỉ có thuốc giảm đau, chống co thắt, kháng acid… thì trên thực tế chỉ có lợi cho thầy thuốc vì bệnh nhân thế nào cũng phải tái khám, và có lợi cho nhà thuốc vì thân chủ sớm muộn cũng trở thành “khách hàng thân thiết”! Vậy phải làm cách nào?
Sản phẩm tốt nhất và thông dụng nhất trong điều trị hiện nay là CLROPHILL nhập khẩu từ Malaisya (trung hoà HCl và pepsin của dịch dạ dày)
-Kết hợp với K-Borini hoặc Zarnizo-K nhập khẩu từ Hà Lan (đặc trị khuẩn H.pylori)
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc
CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Bệnh vẩy nến và Thuốc chữa Bệnh Vẩy Nến

Bệnh Vẩy NếnThuốc chữa bệnh vẩy nến
Bệnh Vẩy Nến do sự rối loạn điều tiết tạo nên một màng ngăn bám chặt trên da. Màng bám này sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết. Nhưng thay vì mất đi như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên thành từng vẩy trắng.
Bệnh Vẩy Nến thường xuất hiện ở đầu gối, khuỷu tay, da đầu nhưng đôi khi cả ở thân thể, gan bàn tay, bàn chân và các ngón chân. đôi khi xuất hiện toàn thân, các vảy trắng bong ra khi gãi và để lại một lớp dưới màu hồng, đôi khi có rớm máu
Vẩy Nến được xem như một tình trạng tăng sinh quá mức của các keratinocyte ở thượng bì dưới sự kích thích của các lymphocyte ở bì. Cơ chế chính xác và dây chuyền tương tác giữa các keratinocyte và các tế bào miễn dịch vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho thấy các tế bào T hoạt hóa là những chất điều chỉnh miễn dịch chủ yếu trong sinh bệnh học của vẩy nến.Thoạt đầu, các tế bào T hoạt hóa xâm nhập vào lớp bì ở vùng da tổn thương nhờ các phân tử kết dính tế bào và cytokine tiền viêm interleukin-8 (IL-8). Đa số tế bào T ở thượng bì là loại CD4+helper. Các tế bào T bị kích hoạt bởi các tế bào nhận diện kháng nguyên. Quá trình này sản xuất ra nhiều loại cytokine. Các tế bào T sản xuất IL-2 và interferon-y (INE-y) được gọi là tế bào Th1 và miễn dịch trung gian tế bào. Ngược lại, các tế bào T sản xuất IL-4, IL-5 và IL-10 được gọi là các thế bào Th2 và góp phần trong miễn dịch cơ thể. Các cytokime Th1 là những chất tiền viêm, còn các cytokine Th2 là những chất chống viêm. Trong vẩy nến, loại Th1 chiếm ưu thế còn Th2 ít hơn.
Triệu chứng cua Bệnh Vẩy Nến
Bệnh thường xuất hiện từ từ, tồn tại một thời gian rồi thuyên giảm. Sau đó bệnh tái phát, nhất là khi có chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng thuốc. Dấu hiệu đặc biệt nhất là những mảng vết thương trên da khô, hình bầu dục hoặc tròn, mầu hồng đỏ phủ lên trên là nhiều lớp vẩy mầu bạc. Các vết này rất ngứa và đau. Ngứa vì da khô và dây thần kinh dưới da bị một vài hóa chất kích thích, khiến cho não phát ra cảm giác ngứa, muốn gãi. Ngoài ra, dấu vết trên da có thể là:
Vẩy Nến giọt mầu đỏ hình bầu dục.
Vẩy Nến đảo ngược ở nếp gấp trên da như cơ quan sinh dục, nách.
Vẩy Nến mủ với bóng nước chứa mủ.
Vẩy Nến từng mảng lớn mầu đỏ với hậu quả trầm trọng như rối loạn thân nhiệt, mất cân bằng chất điện giải cơ thể.
Vẩy Nến khớp xương, gây trở ngại cho cử động.
Bệnh thường có trên da đầu, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị ảnh hưởng. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể.
Khi lành, vết thương thường không để lại sẹo và ở trên đầu, tóc vẫn mọc.
Trong 60% các trường hợp, móng tay móng chân cũng bị bệnh: móng chẻ, mất mầu dầy cộm nom như bị bệnh nấm.
Khoảng từ 10 tới 30% bệnh nhân bị viêm khớp-vẩy nến, thường thường ở tuổi 30 tới 50.
Xác Định Bệnh Vẩy Nến
Không có thử nghiệm máu hoặc phương thức khoa học nào để chẩn đoán bệnh. Bác sĩ xác định bệnh qua hình thù, mầu sắc của vẩy trên da, đôi khi lấy một chút mô ở vùng bệnh để tìm tế bào đặc biệt vẩy nến.
Tiên lượng bệnh Bệnh Vẩy Nến là bệnh không lây lan. Trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc, vẩy nến thường không gây ra ảnh hưởng xấu cho sức khỏe tổng quát. Nếu có, chỉ là một chút ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền lo âu vì da chẳng giống ai.
Bệnh nhẹ khi dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung bình khi da có dấu hiệu bệnh từ 3 đến 10% và nặng khi vẩy bao phủ 10% da.
Tế bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, chưa kịp rụng đã ra lớp khác nên các vẩy chùm đè lên nhau. Bệnh gây khó chịu nhất khi xuất hiện ở da đầu, bìu dái, bàn tay, bàn chân và móng tay. Vẩy nến ở lòng bàn tay, bàn chân gây nhiều khó khăn cho người bệnh khi đi đứng, lao động chân tay. Xương khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối, lưng quần và cổ cũng thường bị ảnh hưởng và gây ra trở ngại di động, làm việc cho người bệnh.
Điều trị Điều trị Bệnh Vẩy Nến là cả một thách thức với mục đích chính là gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của tế bào biểu bì, giảm viêm da, vẩy nến.
Có nhiều phương thức trị liệu khác nhau. Bác sĩ sẽ lựa phương thức thích hợp cho từng bệnh nhân và tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Điều trị tại chỗ bạn có thể tắm gội bằng Sastid hoặc Polytar. Bôi mỡ Salicylé 5% hoặc mỡ BenzoSaly vào tổn thương có nhiều vẩy. Nếu tổn thương bớt vảy hoặc hết vảy thì bạn có thể bôi các chế phẩm có chứa steroid như Temprosone, Flucinar, Synalar, Fucicort, Diprosalic…Song song là điều trị toàn thân khi bệnh trong giai đoạn bùng phát thì bạn nên dùng một đợt kháng sinh như Ampicilline hoặc Rovamycin. Có thể dùng thêm thuốc chống ngứa, chống dị ứng như Phenecgan hoặc Chlorpheniramine lúc đi ngủ.
Các phương thức điều trị đó là:
1- Thuốc thoa ngoài da:
Thuốc Chữa Bệnh Vẩy Nến :Với dạng bệnh nhẹ, thuốc thoa trên da có thể giải quyết vấn đề. Bệnh nặng hơn, cần phối hợp với thuốc uống hoặc chích.
a-Thuốc Corticosteroids như Ultravate, Tenovate, Psorcon, rất công hiệu và thường được dùng ở trường hợp bệnh nhẹ hoặc trung bình.
b-Thuốc Donovex thuộc nhóm Vitamin D tổng hợp làm giảm viêm và ngăn sự tăng sinh tế bào da.
c-Thuốc Retinoid từ sinh tố A như Tazorac.
2- Quang trị liệu với ánh sáng mặt trời, các tia tử ngoại B (UBV), quang hóa trị liệu PUVA (Psoralen Plus Ultraviolet A), laser xung nhuộm màu tía (Pulsed Dye Laser).
3- Dược Phẩm – Có nhiều dược phẩm đặc trị bệnh vẩy nến:
a- Rheumatrex (Methotrexate). Thuốc này được dùng trong trường hợp bệnh nặng, tái phát và không bớt sau khi dùng các phương thức khác. Thuốc phải do bác sĩ quyết định và theo dõi sau khi đã chẩn định bệnh bằng sinh thiết mô bào. Thuốc có nhiều tác dụng phụ mạnh.
b- Neoral (Cycloporine) Thuốc dùng khi bệnh nặng, không thuyên giảm với PUVA, Retinoid hoặc Methotrexate. Thuốc có thể gây ra cao huyết áp và bệnh thận.
c- Retinoid uống (Acitretin), Tegison cho các trường hợp vẩy nến trầm trọng.
d- Dược phẩm sinh học Alefacept (Amevive), etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade). Đây là các loại thuốc chích có tác dụng trên tế bào miễn dịch T cell để trị bệnh được nghi là do miền dịch gây ra và được dùng khi các trị liệu khác không thành công.
Giới thiêu sản phẩm tốt nhất HT chữa Bệnh Vẩy Nến và Á sừng :Kliquidclorophyll-A
-Kliquidclorophyl-A ức chế phát triển của vi khuẩn và nấm, kích thích việc phục hồi các mô đã bị hư hại, trị – Bệnh Vẩy Nến vô cùng hiệu nghiệm, kết quả thật nhanh chóng không ngờ.Thực tế cho thấy, rất nhiều bệnh nhân đã được chữa dứt bệnh vẩy nến trong vòng 30 ngày đến 90 ngày (với trường hợp nặng nhất ).Chlorophyll giúp thải độc cho gan,lọc máu, tiêu diệt nấm và vi khuẩn trên da giúp cho da nhanh chóng phục hồi các tổ chức mô . Kết hợp với diposalic,Glovate hoặc Flucinar bôi ngoài hiệu quả đáp ứng càng cao. Tại nhiều nước châu Âu (Đức, Anh, Pháp …) và FDA tại Mỹ coi chlorophyll và chlorophyllin như một thực phẩm-thuốc an toàn, không có giới hạn về liều lượng uống (Báo cáo của FAO-WHO số 557, năm 1974).
-Kliquidclorophyl-A đã được áp dụng rất nhiều trong việc điều trị các bệnh thoái hoá da,Viêm da, nhiễm trùng da, tăng huyết áp, tiểu đường, alzhermer,vẩy nến , á sùng …
Các lợi điểm chính của việc sử dụng chlorophyllin:
– Nguồn gốc tự nhiên, có thể sử dụng lâu dài, không có tác dụng phụ và không tương tác với các thuốc khác.
– Ức chế sự phát triển của các vi khuẩn, đặc biệt là các vi khuẩn kỵ khí (có nhiều trong đường tiêu hoá và khoang miệng, mảng bám răng,các lớp tế bào da bị chết) các vi khuẩn này bị ức chế bởi oxy được sinh ra từ chlorophyllin. Chất diệp lục còn có khả năng sát khuẩn, khử mùi trong các vết thương, vết loét. Năm 1948, cố DS. Đỗ Tất Lợi là người đầu tiên sử dụng chất diệp lục chiết suất từ cây xanh vào mục đích chữa trị các vết thương nhiễm trùng.Các vết lở loét ngoài da cho bộ đội.
Hướng dẫn sử dụng: Ngày uống từ 1 đến 3 lần, mỗi lẫn pha 1 thìa dung dịch vào 250 ml nước, lắc kỹ trước khi sử dụng .Dùng bôi ngoài: vào buổi tối trước khi đi ngủ
K-Liquid ChlorophyllA: Chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số: 2050/2006/YT-CNTC
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc

CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC