Lưu trữ cho từ khóa: bạch cầu

Các tế bào ung thư sẽ hợp nhất với bạch cầu để phát tán

Các nhà khoa học có một khám phá đột phá về bệnh ung thư rằng: Các tế bào ung thư sẽ hợp nhất với bạch cầu để phát tán.

cac-te-bao-ung-thu-se-hop-nhat-voi-bach-cau-de-phat-tan

Các tế bào ung thư phát tán. Ảnh minh họa.

Một trong những bí ẩn lớn nhất về bệnh ung thư là cách các tế bào ung thư phát tán thế nào và lây lan khắp cơ thể ra sao. Các nhà khoa học của ĐH Yale (Mỹ) đã có một khám phá quan trọng có thể giải mã khúc mắc này: Các tế bào ung thư sẽ hợp nhất với bạch cầu để phát tán.

Các nhà khoa học đã phát hiện sự di căn trong não của bệnh nhân ung thư xuất phát từ phần lai giữa tế bào ung thư và bạch cầu của cả người bệnh và người hiến tủy. Nghiên cứu này được thực hiện trên một bệnh nhân ung thư bị di căn vào não được cấy tủy của em trai.

Tủy sinh ra đại thực bào, một dạng bạch cầu. Trong khi đó, đại thực bào này lại khác với đại thực bào trong tủy của người hiến. Chính vì vậy, tế bào ung thư di căn sẽ chứa gen của cả 2 anh em.

Phát hiện này có thể giúp cho việc nghiên cứu thuốc ngăn ngừa sự lây lân của tế bào ung thư. Tuy nhiên, điều gì khiến tế bào ung thư di căn vẫn là vấn đề cần được nghiên cứu thêm.

Theo Kienthuc.net.vn

Yếu tố nào gây bệnh ung thư máu?

Hút thuốc lá, tiếp xúc với benzen, tiền sử điều trị với hóa chất, hội chứng down và một số bệnh di truyền khác … cũng là yếu  tố  nguy cơ gây ung thư máu.

Bạn tôi không có triệu chứng gì, chỉ sốt cao kéo dài và nhập viện phát hiện ung thư máu, sau 1 tháng thì tử vong. Xin hỏi, yếu tố nào gây ung thư máu và có thể phòng ngừa được không? Bệnh có di truyền không?Phạm Thị Hiền (Cầu Giấy, Hà Nội).

yeu-to-nao-gay-benh-ung-thu-mau

Ảnh chỉ mang tính minh họa.

GS.TS Nguyễn Bá Đức, Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam trả lời:

Tiếp xúc với tia phóng xạ liều cao hoặc có tiền sử dùng xạ trị có nguy cơ cao hơn bị bạch cầu (ung thư máu). Hiện tại, vẫn chưa xác định mối liên quan giữa tiếp xúc với nồng độ tia thấp (khi chụp X-quang và cắt lớp) với bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em và người lớn. Hút thuốc lá, tiếp xúc với benzen, tiền sử điều trị với hóa chất, hội chứng down và một số bệnh di truyền khác, hội chứng rối loạn sinh tủy và một số bệnh bất thường về máu khác cũng là yếu  tố  nguy cơ.

Rất hiếm khi có hai người trong gia đình bị bệnh bạch cầu. Nếu có thì chủ yếu là thể bệnh bạch cầu lymphô mạn tính. Khi một người có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ trên không có nghĩa là chắc chắn sẽ bị bệnh bạch cầu. Tuy nhiên, mọi người cần biết các yếu tố nguy cơ đó để phòng tránh tiếp xúc, hạn chế tối đa nguy cơ bị bệnh.

Theo Kienthuc.net.vn

Những cơn đau nam giới không nên xem thường

 

Do giỏi chịu đựng, lại ngại khám sức khỏe, nam giới thường bỏ qua những dấu hiệu đau thông thường mà không ngờ rằng chúng có thể là thông điệp của chứng bệnh nguy hiểm.

Đau lưng

Ai bị đau lưng nếu sử dụng các biện pháp trị liệu thông thường như nghỉ ngơi, áp nhiệt, uống thuốc giảm đau mà không khỏi, hãy nghĩ đến bệnh có nguồn gốc sâu xa hơn. Đặc biệt đáng lo ngại là chứng phình mạch ở bụng, khi đó phần động mạch chủ ngay phía trên thận bị suy yếu ở mức độ nguy hiểm và có thể vỡ ra. Khả năng ít nguy hiểm hơn là sỏi thận nhưng trường hợp này cơn đau tưởng như khó chịu nổi. Nguyên nhân đau lưng nếu chụp CT sẽ giúp chẩn đoán chính xác.

Đau quặn bụng

Khu vực từ giữa xương sườn với hông này khi bị đau có thể là triệu chứng của: Viêm ruột thừa – đau ở bụng dưới bên phải và số lượng bạch cầu tăng; Viêm tụy –  đau dưới xương ức và một số enzym trong máu tăng; Viêm túi mật – đau ở vùng bụng trên với số lượng bạch cầu tăng đột biến. Cả 3 trường hợp này giống nhau ở chỗ, nếu đúng cơ quan đó gặp rắc rối, dẫn đến nhiễm trùng, thậm chí có thể gây tử vong. Vì thế, nên đến gặp bác sỹ càng sớm càng tốt.

Đau ngực thoáng qua

Nếu cơn đau ngực xảy ra đột ngột sau đó biến mất một cách nhanh chóng, có thể nghĩ tới chứng khó tiêu hoặc một cơn đau tim. Thậm chí, dù nó diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn, đó có thể là một dấu hiệu rất nghiêm trọng. Chẳng hạn, chỉ cần một cục máu đông có thể thu hẹp động mạch vành, cắt đứt hoàn toàn việc lưu thông máu đến tim. Đáng chú ý 50% các trường hợp tử vong vì đau tim xảy ra trong vòng từ 3 đến 4 giờ xuất hiện triệu chứng đầu tiên. Nghĩa là không nên trì hoãn việc kiểm tra sức khỏe trước dấu hiệu này. Kết quả xét nghiệm máu sẽ biểu hiện mô tim có bị tổn thương hay không.

Đau nhói ở háng

Không nặng như bị đá vào háng nhưng một số đàn ông  cảm giác gần như vậy, đôi khi còn bị sưng. Khả năng đầu tiên nghĩ đến là bị xoắn tinh hoàn. Nếu tìm ra nguyên nhân trong 4 đến 6 tiếng, việc “giải cứu” được tinh hoàn là hoàn toàn có thể, nhưng để sau 12 đến 24 tiếng, e rằng sẽ làm tổn thương tinh hoàn vĩnh viễn. Hiện tượng trên cũng có thể do một bệnh nhiễm trùng ở mào tinh hoàn – kho lưu trữ tinh trùng của nam giới. Về giải pháp, siêu âm có thể tìm ra nguyên nhân đích xác của triệu chứng trên.

Tiểu buốt

Trường hợp xấu nhất có lẽ là ung thư bàng quang, bác sỹ Joseph A. Smith – Chủ nhiệm Khoa phẫu thuật tiết niệu tại Đại học Vanderbilt, bang     Tennessee, Hoa Kỳ nhận định. Cảm giác đau và có máu trong nước tiểu là triệu chứng ung thư bàng quang, căn bệnh ung thư phổ biến thứ 4 ở nam giới. Tuy vậy, nhiễm trùng bàng quang cũng có dấu hiệu tương tự. Xét nghiệm phân tích nước tiểu kết hợp với nội soi sẽ làm rõ rắc rối này.

Chân trái đau và sưng

Một số dấu hiệu bất thường khác đi kèm là phần chân sưng đó khi sờ vào thấy rất mềm, cảm giác nóng ở bên trong. Đó có thể là kết quả của việc ngồi nguyên một chỗ trong nhiều giờ liền, cục đông máu hình thành ở bắp chân đủ lớn tới nỗi nó chặn luôn phần tĩnh mạch tại đó, gây nên hiện tượng đau và sưng. Thật không may, nếu bị như vậy mà cứ xoa bóp chân có khi vô tình đẩy cục máu đông lớn chạy lên phổi, điều này cực kỳ nguy hiểm. Sau khi phát hiện đúng hiện tượng huyết khối tĩnh mạch sâu này qua chụp X-quang, các bác sỹ sẽ cho bệnh nhân dùng thuốc để hòa tan và phòng ngừa các cục máu đông.

(Theo ANTD)

 

Hôi miệng – Coi chừng bệnh nguy hiểm

Các bác sĩ khẳng định, ngoài nguyên nhân do vệ sinh răng miệng kém, hôi miệng còn là dấu hiệu cảnh báo nhiều bệnh nội tạng nguy hiểm.

Chồng lạnh nhạt vì miệng vợ hôi

Suốt mấy tháng nay, thấy chồng hững hờ chuyện chăn gối, thậm chí né tránh vợ, chị Thúy (Hai Bà Trưng, Hà Nội) nghi ngờ chồng có bồ nhí. Hậm hực nhưng chưa có chứng cứ để “vạch mặt”, chị âm thầm chịu đựng.

Một hôm, tình cờ chị nghe chồng tâm sự với ông bạn thân rằng anh không thể gần gũi hay đối diện với vợ bởi vì thời gian gần đây hơi thở của chị có mùi hôi rất khó chịu.

Nghe thấy những tâm sự của chồng, chị Thúy bất ngờ và thấy khó tin vì hàng ngày chị vẫn vệ sinh răng miệng rất chu đáo, còn sử dụng nước súc miệng. Tự kiểm nghiệm và chị phải thừa nhận đúng là hơi thở mình có vấn đề thật.

Cẩn thận chị Thúy đến bệnh viện Răng – Hàm – Mặt tìm hiểu nguyên nhân. Bác sĩ xác nhận răng lợi của chị vẫn bình thường và khẳng định không phải nguyên nhân gây hôi miệng. Bác sĩ còn cảnh báo chứng hôi miệng của chị có thể do mắc các bệnh nội tạng.

Chị đi khám sức khỏe tổng thể, bác sĩ kết luận chị bị viêm xoang rất nặng, cần điều trị kịp thời để tránh các biến chứng nguy hiểm khác.

Ngoài chị Thúy, còn rất nhiều người bất ngờ bị hôi miệng mà nguyên nhân lại xuất phát từ viêm amidan, viêm xoang, viêm phổi, phế quản hoặc do các bệnh lý toàn thân như bệnh tiểu đường, bệnh suy thận, bệnh gan…

Bác sĩ còn cảnh báo chứng hôi miệng của chị có thể do mắc các bệnh nội tạng.

Coi chừng bệnh nguy hiểm

Hôi miệng là bệnh khá phổ biến của người Việt. Ngoài nguyên nhân do các bệnh về răng miệng như vệ sinh răng miệng kém, lưỡi bẩn, bênh nha chu, khô miệng, chân răng nhiễm trùng… thì hôi miệng còn là biểu hiện của nhiều bệnh nguy hiểm khác.

Nếu như trước đây, ngoài các vấn đề về răng miệng, chứng hôi miệng còn được cho là do hở van tâm vị thực quản thì ngày nay, nguyên nhân hôi miệng phức tạp hơn nhiều. Triệu chứng này còn là biểu hiện khi cơ thể bị viêm nhiễm ở một số bộ phận như viêm dạ dày, viêm thực quản, hẹp môn vị, loét dạ tràng… Ngoài các bệnh dạ dày, các nguyên nhân khác như viêm amiđan, viêm mũi, viêm họng… cũng có thể gây hôi miệng.

Các bác sĩ cho biết, ngoài các triệu chứng để nhận biết cơ thể bị nhiễm trùng như sốt, môi khô, lưỡi bẩn, bạch cầu tăng… thì cũng phải kể đến dấu hiệu hôi miệng. Vì vậy mà những bệnh nhân bị loét hoặc có khối u thì miệng có mùi hôi là điều rất dễ hiểu. Đó là biểu hiện các chất hoại tử trong cơ thể đang chuyển sang giai đoạn lên men nên gây hôi.

Điều đáng nói là đa phần người bị hôi miệng không tự phát hiện ra bệnh của mình. Hầu hết họ chủ quan nghĩ rằng chỉ cần vệ sinh răng miệng sạch là khỏi chứ không nghĩ đến nguy cơ các bệnh nguy hiểm khác.

Điển hình như trường hợp của chị Thúy, dù hơi thở có mùi hôi từ nhiều ngày nhưng chị không hề hay biết. Cũng may chị là người cẩn thận nên khi phát hiện sự thật này chị đã đi khám thật kỹ để tìm hiểu rõ nguyên nhân nên điều trị kịp thời.

Bác sĩ  Bùi Thị Thu Huyền, Khoa Răng – Hàm – Mặt, Bệnh viện Xanh Pôn cho biết: Ngoài nguyên nhân phổ biến là các bệnh về răng miệng, bệnh hôi miệng còn do nhiều nguyên nhân khác gây ra. Nhiều người dù đã giữ gìn vệ sinh răng miệng rất tốt nhưng vẫn bị chứng hôi miệng thì càng cần phải cẩn thận vì có thể đó là dấu hiệu của những bệnh lý nghiêm trọng khác.

Khi đột ngột bị hôi miệng nặng, tốt nhất bạn nên đi khám xác định rõ nguyên nhân, chữa trị tận gốc, tránh những tai biến đáng tiếc. Không nên tìm đến các loại nước thơm để xử lý vì đó chỉ là giải pháp khắc phục tạm thời, sau đó mùi hôi sẽ tăng lên.

Vì vậy, trước mắt, những gì bạn có thể làm để hạn chế mùi hôi từ miệng hiệu quả nhất là thực hiện vệ sinh răng miệng một cách đầy đủ và hiệu quả như đánh răng thường xuyên (ngày 2 lần sau bữa ăn), cạo sạch bẩn ở lưỡi, dùng dung dịch sát trùng miệng, thay đổi thói quen ăn uống (giảm bớt tỏi, hành, các chất gia vị, rượu), không nên hút thuốc lá, đi khám răng miệng tại các cơ sở y tế chuyên khoa, chăm sóc các răng sâu, thay răng giả bị hỏng, điều trị bệnh nha chu…

(Theo Tri thức trẻ)

 

Biếng ăn, suy giảm miễn dịch do thiếu kẽm và selen

Tình trạng thiếu Kẽm và Selen ở trẻ em đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Con số điều tra đáng báo động tại Việt Nam cho thấy có trên 50% trẻ từ 6 tháng đến 7 tuổi thiếu Kẽm huyết thanh và Selen tương đối, trong đó nhóm gặp nguy cơ cao nhất là nhóm trẻ từ 6 tháng đến 17 tháng tuổi và nhóm trẻ gặp vấn đề về suy dinh dưỡng và tiêu chảy. Một số nghiên cứu khác cũng cho ra những con số báo động khi hàm lượng Selen huyết thanh thấp ở học sinh THCS là 15,9%, học sinh tiểu học là 75,6%, và trẻ mẫu giáo, mầm non là 62,3%.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng:

–          26,5% trẻ từ 11-17 tuổi thiếu thiếu kẽm

–          50%-90% trẻ bị suy dinh dưỡng kéo dài thiếu kẽm

–          51,9% trẻ từ 6 tháng đến 75 tháng tuổi thiếu kẽm

–          15,9% trẻ em từ 11-17 tuổi thiếu selen

–          75,6% trẻ em cấp 1 thiếu selen

–          62,3% trẻ em từ 12-72 tháng tuổi ở nông thôn thiếu selen

Kẽm và Selen đối với tăng trưởng và miễn dịch

Đối với tăng trưởng

Kẽm giúp duy trì và bảo vệ các tế bào vị giác và khứu giác, vì thế thiếu kẽm sẽ gây biếng ăn do rối loạn vị giác, làm suy thoái quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường ở trẻ. Kẽm tham gia vào thành phần của trên 300 enzym kim loại; kẽm là chất xúc tác không thể thiếu được của ARN-polymeraza, có vai trò quan trọng trong quá trình nhân đôi AND, tổng hợp protein, thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp và điều hòa chức năng của trục hormone dưới đồi như GH (Growth hormone), IGF-I là những hormone tăng trưởng và kích thích tăng trưởng.

Selen cần cho chuyển hóa i-ốt và có chức năng như một loại enzyme trong quá trình tạo hormone tuyến giáp nhằm kích thích đầu vào năng lượng, cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì.

Đối với miễn dịch

Thiếu kẽm làm tổn thương chức năng miễn dịch, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, từ đó làm giảm tăng trưởng, phát triển của trẻ, làm tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ. Trong một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy bổ sung kẽm cho trẻ giúp làm giảm 18% trường hợp tiêu chảy, 41% trường hợp viêm phổi và làm giảm tỷ lệ tử vong trên 50%.

Thiếu Selen gây ức chế khả năng đề kháng chống nhiễm trùng, hậu quả của suy giảm chức năng bạch cầu và tuyến ức bởi Selen đóng vai trò thiết yếu trong men Glutathione peroxidase ảnh hưởng tới mọi thành phần của hệ miễn dịch, không loại trừ sự phát triển và hoạt động của bạch cầu.  

Dấu hiệu của thiếu Kẽm và Selen

Thiếu kẽm, dấu hiệu thường thấy là ăn không ngon, vị giác bất thường, rụng tóc, tiêu chảy kéo dài, thương tổn ở da và mắt, chậm lớn, cơ quan sinh dục chậm trưởng thành, sụt cân, thiếu máu, chậm lành vết thương và kém minh mẫn.

Thiếu selen ở mức trầm trọng có liên quan đến bệnh Keshan – một bệnh rối loạn ở tim và tổn thương cơ tim nặng nề, xuất hiện chủ yếu ở trẻ em và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Thiếu selen mức độ nhẹ thường khó thấy các triệu chứng đặc biệt, tuy nhiên nó góp phần làm xuất hiện các tổn hại tế bào quan trọng cũng như thúc đẩy quá trình lão hóa và nguy cơ mắc các bệnh thoái hóa. Thiếu selen trong chế độ ăn lâu dài dẫn đến nguy cơ ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch.

Nhu cầu Kẽm và Selen khuyến nghị cho trẻ em Việt Nam

Nhu cầu kẽm ở trẻ dưới 1 tuổi vào khoảng 5mg/ngày, ở trẻ 1-10 tuổi khoảng 10mg/ngày, thanh thiếu niên và người trưởng thành khoảng 15mg/ngày đối với nam và 12mg/ngày đối với nữ.

Nhu cầu selen ở trẻ 0-6 tháng là 6 mcg/ngày, trẻ 7-12 tháng là 10 mcg/ngày, trẻ 1-3 tuổi là 17 mcg/ngày, trẻ 4-9 tuổi khoảng 20 mcg/ngày, đối với thanh thiếu niên 10-18 tuổi nhu cầu là 26 mcg/ngày ở nữ và 32 mcg/ngày ở nam (Nguồn: FAO/WHO 2002 và 2004)

(Ảnh do Biolife cung cấp)

Nguồn cung cấp Kẽm và Selen cho cơ thể

Thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng…). Với trẻ nhũ nhi, để có đủ kẽm, nên cố gắng cho bú mẹ vì kẽm trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò. Lượng kẽm trong sữa mẹ ở tháng đầu tiên là cao nhất (2-3 mg/lít), sau 3 tháng thì giảm dần còn 0,9mg/l. Lượng kẽm mà người mẹ mất qua sữa trong 3 tháng đầu ước tính khoảng 1,4 mg/ngày. Do đó, người mẹ cần ăn nhiều thực phẩm giàu kẽm để có đủ cho cả hai mẹ con.

Hàm lượng Selen cao trong cá, hải sản (20,8 – 40,5 đến mcg/100g) và trứng (40,2 mcg đến 14,9 mcg/100g), vừa phải ở thịt gia cầm, đậu hạt và thấp ở sữa bò, ngũ cốc, rau và hoa quả.

Hàm lượng Kẽm và Selen từ hạt đậu xanh nảy mầm tự nhiên(Ảnh do Biolife cung cấp)

Hạt đậu xanh nảy mầm tự nhiên với công nghệ Bio-Enrich (Ảnh do Biolife cung cấp)

 

Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu thành công công nghệ Bioenrich tăng hàng nghìn lần hàm lượng khoáng vi lượng như Kẽm, Selen, Sắt… trong mầm các loại đỗ. Với các thành tựu của khoa học và công nghệ, con người ngày càng chủ động hơn với các nguồn bổ sung khoáng vi lượng tự nhiên cần thiết hàng ngày. Gần đây nhất, công ty CP Biolife đã cho ra đời sản phẩm UpKid từ công nghệ Bioenrich (www.biolife.vn) điều khiển quá trình nảy mầm của hạt đỗ xanh, giúp chuyển hóa với hiệu suất tối đa khoáng chất vi lượng Kẽm và Selen vô cơ sang cấu trúc hữu cơ tự nhiên thân thiện với cơ thể của trẻ nhỏ, tăng khả năng hấp thu hoàn toàn tới 90%, không để lại dư thừa trong cơ thể. 

Những dấu hiệu bệnh tật biểu hiện ra bên ngoài

Nói đến sức khỏe, thì đôi khi những biểu hiện thấy ngay bên ngoài lại vô cùng quan trọng, bởi nó cảnh báo sức khỏe của một người đang có vấn đề.

Khi được hỏi về những tiêu chí đánh giá một người, hầu hết mọi người thường cho rằng những biểu hiện bên ngoài không quan trọng bằng các yếu tố khác, chẳng hạn như những tính cách hay vẻ đẹp tâm hồn. Nhưng khi nói đến sức khỏe, thì đôi khi những biểu hiện thấy ngay bên ngoài lại vô cùng quan trọng, bởi nó cảnh báo sức khỏe của một người đang có vấn đề.

Dưới đây là 8 dấu hiệu bên ngoài báo hiệu vấn đề sức khỏe tiền ẩn bên trong.

Viêm da

Một khi hệ tiêu hóa có vấn đề hoặc đang phải chịu áp lực thì nó sẽ biểu hiện ra bên ngoài da, rõ nhất là những bất thường ở mao mạch ở khu vực cằm. Một số các dấu hiệu khác bao gồm eczema, viêm da, bong da dọc theo trán và chân tóc… có thể liên quan đến các vấn đề đường ruột.

Loét miệng

Loét miệng là tình trạng rất thường gặp ở nhiều người. Loét miệng thường xuất hiện khi bạn căng thẳng hoặc cơ thể mệt mỏi, thiếu chất. Tuy nhiên, tình trạng loét miệng lặp đi lặp lại có thể có liên quan đến tình trạng nghiêm trọng như bệnh celiac, và thậm chí cả ung thư cổ họng và ung thư miệng

Quầng thâm dưới mắt

Có tới 110 nguyên nhân có thể gây ra quầng thâm dưới mắt. Phổ biến nhất là do thiếu ngủ, có thể do căng thẳng hoặc trầm cảm. Biểu hiện này cũng có thể chỉ ra sự thiếu hụt chất phenol sulfotransferase, có thể gây ra các vấn đề ảnh hưởng đến thể trạng và hành vi. Nếu quầng thâm của bạn vẫn tồn tại kéo dài, nên đi khám bác sĩ để đảm bảo rằng không có điều gì nguy hiểm đang diễn ra trong cơ thể.

Có tới 110 nguyên nhân có thể gây ra quầng thâm dưới mắt. (Ảnh minh họa)

Móng tay lồi lõm

Nếu bạn nhận thấy có những lằn gợn trên móng tay, nhất là khi đánh bóng móng thì những gợn này càng thấy rõ thì bạn hoàn toàn có thể nghĩ đến khả năng bạn bị nhiễm trùng. Móng tay lồi lõm cũng có thể là do rối loạn thận, thiếu sắt hoặc một xu hướng bị viêm khớp.

Rụng tóc

Rụng tóc hàng ngày là bình thường, nhưng rụng tóc quá nhiều có thể gây ra bởi một số bệnh bao gồm sốt cao, các vấn đề về tuyến giáp, tình trạng da, căng thẳng, thay đổi trọng lượng, và thiếu máu. Đối với phụ nữ, rụng tóc có thể ảnh hưởng đến sáu trong mười phụ nữ tại cùng một số điểm.

Chảy máu nướu răng

Chảy máu nướu răng có thể là một dấu hiệu rõ ràng của bệnh nướu răng. Tuy nhiên, nếu nướu răng bị chảy máu dai dẳng thì nên đi khám bác sĩ, vì đó, rất có thể có liên quan đến bệnh nghiêm trọng như bệnh bạch cầu và rối loạn tiểu cầu máu.

Rụng lông mi mất

Bạn có thể mất một hoặc hai lông mi khi bạn đi uốn lông mi hoặc tự nhiên mà nó rơi ra. Tuy nhiên, nếu thấy lông mi rụng nhiều một cách vô cớ thì bạn nên xem xét lại. Bởi nếu một người gặp vấn đề về tuyến giáp thì cũng có thể có dấu hiệu là rụng lông mi liên tục.

Đốm trắng trên móng tay của bạn

Đốm trắng trên móng tay thường được gây ra bởi thiếu một loại vitamin nào đó hoặc thiếu khoáng sản, đặc biệt là thiếu canxi. Trước khi các đốm trắng xuất hiện, có thể các kẽ tay bạn đã bị viêm mà bạn không hề biết.

Meo.vn (Theo Eva)

Tăng tuổi thọ cho bệnh nhân bị ung thư

Thời gian sống sót của những người mắc một số loại ung thư, đặc biệt là ung thư vú và ruột kết, tăng đáng kể trong 40 năm qua.

Dựa trên phân dữ liệu liên quan tới 20 loại ung thư, các nhà nghiên cứu Anh thấy rằng thời gian sống thêm trung bình của những bệnh nhân ở Anh và xứ Wales tăng lên 5,8 năm trong giai đoạn 1971 – 2007.

Các nhà nghiên cứu cho rằng con số này sẽ giúp các bệnh nhân lạc quan hơn về thời gian sống, thay vì chỉ nghĩ đến các mốc như 1, 5 hay 10 năm.

Thời gian sống thêm của bệnh nhân của 6 loại ung thư, trong đó có ung thư ruột kết, ung thư vú và ung thư hạch bạch huyết là hơn 10 năm. Những người bị ung thư ruột kết còn sống thêm được hơn 17 năm, ung thư hạch bạch huyết 10 năm và ung thư trực tràng 7 năm.

Thời gian sống thêm của những người bị ung thư vú cao gấp đôi so với giai đoạn trước.

Tế bào ung thư dưới kính hiển vi. (Nguồn: Guardian)

Thời gian sống lâu hơn của những người mắc 5 loại ung thư là hơn 5 năm, nhưng với 9 loại ung thư khác thì người bệnh chỉ sống thêm được chưa tới 3 năm.

Thời gian sống thêm của người bị ung thư phổi và não tăng rất ít, chỉ từ 11 – 28 tuần. Người mắc ung thư tuyến tụy cũng chỉ sống thêm được 3 tuần.

Người bị bạch cầu và ung thư tủy chỉ sống thêm được 2 – 3 năm. Người mắc ung thư dạ dày và ung thư thực quản không sống thêm được nhiều sau khi bị chẩn đoán ung thư.

Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các loại ung thư. Vì thế, các nhà khoa học cho rằng cần đầu tư hơn nữa cho việc nghiên cứu, phẫu thuật và điều trị các loại ung thư ít được chẩn đoán chính xác.

Meo.vn (Theo Baodatviet)

Khi trẻ bị nổi hạch ở cổ

Hạch có ở nhiều nơi trong cơ thể, thường không sờ được. Chúng thực ra là các tổ chức lympho có chức năng sản xuất bạch cầu và kháng thể chống lại các tác nhân gây bệnh: vi trùng, vi sinh vật, virut…

Vì sao trẻ bị hạch ở cổ?

Hạch lympho đóng vai trò quan trọng đối với khả năng đề kháng của cơ thể. Hạch thường sưng lên khi cơ thể chống chọi với sự viêm nhiễm gây ra do vi trùng gây bệnh tại chỗ hoặc bệnh toàn thân.

Các hạch sau tai bị sưng thường là kết quả của cảm cúm, viêm họng, viêm da đầu, hoặc một số bệnh nhiễm như Rubella, tăng đơn nhân nhiễm khuẩn. Trong một số trường hợp nhất định, sưng hạch là dấu hiệu của những nguy cơ tiềm ẩn lớn hơn. Những vị trí hạch dễ bị sưng sờ được là vùng 2 bên cổ, sau tai, nách và bẹn. Trong đó, hạch sưng thường làm các bậc phụ huynh lo lắng khi sờ thấy là ở vùng cổ, sau tai.

Hạch cũng sưng lên trong trường hợp do vết côn trùng cắn hay vết thương rách da. Chúng có thể sưng kể cả đối với những bệnh truyền nhiễm thông thường mà trẻ em thường hay mắc phải.

Khi hạch sưng to, kéo dài, trẻ sốt cao thì cần đưa trẻ đi khám bác sĩ

Khi hạch bị viêm

Viêm hạch có thể do siêu vi trùng gây ra, cũng có thể do vi trùng lao. Một số trường hợp trẻ có viêm amiđan, viêm tai, viêm xoang, các hạch vùng quanh tai, dưới cằm và quanh cổ cũng to ra và hơi đau, nhưng sau khi điều trị các bệnh lý trên, hạch vùng lân cận sẽ nhỏ lại, hết đau.

Trường hợp viêm hạch nhiễm trùng, trẻ sẽ có sốt cao, hạch sưng to, đỏ, nóng đau, có thể bị áp xe do có mủ bên trong hạch hay bị rò mủ ra ngoài. Trẻ cần được trị liệu với kháng sinh thích hợp, khoảng 7-10 ngày sẽ khỏi bệnh và không để lại di chứng gì. Nếu có tụ mủ, trẻ sẽ được rạch và dẫn lưu mủ.

Hạch mới phát hiện thường chỉ to bằng hạt đậu, di động dưới da, không đau hoặc chỉ đau ít. Viêm nhiễm nặng có thể làm các hạch sưng lên thành những khối u to chắc và rất đau. Các hạch lympho có thể tiếp tục sưng lên khá lâu kể cả khi hết bị viêm nhiễm.

Cảm giác đau ở hạch sưng là do sự phồng lên nhanh chóng của hạch trong thời kỳ đầu chống chọi với bệnh truyền nhiễm và sẽ biến mất sau vài ngày. Thời gian hạch nhỏ lại thường lâu hơn thời gian chúng bị sưng lên.

Bệnh không nguy hiểm nếu trẻ được khám và chữa trị kịp thời. Ngược lại, nếu trẻ không được điều trị, vi trùng sẽ lan vào máu gây nhiễm trùng toàn thân, nguy hiểm cho tính mạng.

Chăm sóc và điều trị

Nếu hạch sưng nhỏ đi kèm với cảm lạnh, viêm họng, viêm tai hay viêm nhiễm nhẹ, và các hạch không có dấu hiệu đỏ đau không cần điều trị cụ thể. Bạn có thể tiếp tục theo dõi tại nhà dưới sự hướng dẫn của y tế.

Kháng sinh đường uống có thể dùng để điều trị bệnh nhiễm vi khuẩn. Nếu trẻ có sốt hoặc sưng đau nhiều ngay vị trí hạch viêm, có thể cho trẻ dùng thuốc giảm đau hạ sốt Acetaminophen, với liều 10 – 15 mg cho mỗi kilogram cân nặng. Tuy nhiên, trẻ cần uống thuốc theo toa bác sĩ chỉ định và tiếp tục uống cho đủ liều ngay cả khi triệu chứng bệnh có giảm bớt hoặc hết triệu chứng.

Thời gian này, bạn nên cho trẻ uống càng nhiều nước càng tốt. Bên cạnh đó, bạn cần cung cấp chất bổ dưỡng chủ yếu là chất đạm (thịt, cá, tôm cua, đậu đỗ), các vitamin và chất khoáng có nhiều trong hoa quả, rau xanh.

Ngoài ra, bạn cũng cần quan sát kích thước hạch. Ba mẹ có thể dùng bút vẽ lại đường kính của hạch và so sánh với những lần sau xem hạch có tăng kích thước hay không. Khi bệnh đã hết nhưng hạch chưa nhỏ lại. Với những hạch này thì bạn không phải lo lắng và không cần điều trị hạch cũng tự mất đi.

Nên cho trẻ tái khám theo hẹn của bác sĩ điều trị.

Lưu ý

Bạn nên đưa trẻ đến bác sĩ khi trẻ có những dấu hiệu sau:

– Trẻ sốt trên 38oC mà không tìm thấy nguyên nhân khác.

– Hạch sưng to, có màu đỏ, sờ thấy rất chắc và đau.

– Sưng hạch có liên quan đến những dấu hiệu nhiễm trùng khác ở các vết thương.

– Da có những vết thương bị chảy máu, bị sưng và đau.

– Các hạch tiếp tục sưng to hoặc xuất hiện không rõ nguyên nhân và kéo dài trên 2 tuần.

Khi thấy trẻ bị rất nhiều hạch ở nhiều nơi như gáy, chẩm, sau tai, góc hàm, sau cơ ức đòn chũm… thì phải đưa trẻ đi khám bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ chuyên khoa lao để xem trẻ có bị bệnh lao sơ nhiễm, hay lao hạch, bệnh về máu…

Meo.vn (Theo Meyeucon)

Mướp đắng chữa bệnh tiểu đường

Mướp đắng được tìm thấy ở nhiều vùng nhiệt đới trên khắp thế giới. Từ lâu trong lịch sử, mướp đắng đã được sử dụng như là một loại thực phẩm và được dùng trong y học.

Mướp đắng còn có tên là khổ qua, là họ nhà dưa hay mướp. Quả nướp đắng có u sần sùi, ăn có vị đắng. Mướp đắng chứa phong phú nhiều loại vitamin và khoáng chất như vitamin C.

Mặc dù chưa có công trình nghiên cứu nào được tiến hành nghiên cứu đầy đủ về tác dụng chữa bệnh của mướp đắng nhưng cũng có một số nghiên cứu nhỏ chứng minh rằng mướp đắng có thể có tiềm năng chữa nhiều loại bệnh khác nhau.

Tuy nhiên, mướp đắng chống chỉ định nếu bạn đang mang thai hoặc cho con bú. Hạt mướp đắng có thể gây ra độc tính đối với trẻ em.

Vì vậy, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng mướp đắng.

Điều trị bệnh tiểu đường

Mướp đắng có tác dụng làm giảm ảnh hưởng của đường đối với cơ thể, vì vậy, từ lâu nó đã được sử dụng để điều trị tiểu đường trong một loạt các hệ thống y học cổ truyền. Về bản chất, mướp đắng làm giảm lượng đường trong máu, vì vậy, khi tiêu thụ mướp đắng, bạn nên thận trọng nếu đang dùng bất kì loại thuốc nào cũng ảnh hưởng đến lượng đường trong máu, để tránh làm giảm tới mức nguy hiểm.

Mướp đắng có tác dụng làm giảm ảnh hưởng của đường đối với cơ thể. (Ảnh minh họa)

Ức chế ung thư

Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chỉ ra rằng mướp đắng làm chậm lại sự gia tăng của một số bệnh ung thư. Bởi trong nghiên cứu tại phòng thí nghiệm thì thấy, mướp đắng có khả năng giết chết các tế bào ung thư bạch cầu trong ống nghiệm. Một nghiên cứu về ung thư được công bố vào tháng 3 năm 2010 cho thấy mướp đắng giết chết tế bào ung thư vú mà không ảnh hưởng đến tế bào bình thường theo ghi nhận của trưởng nhóm nghiên cứu Ratna Ray.

Tuy nhiên, những nghiên cứu này chưa thực sự liên quan trực tiếp đến con người và cộng đồng khoa học sẽ cần phải tiến hành nghiên cứu thêm để xem những lợi ích dịch đối với con người.

Chống lại virus

Các nhà nghiên cứu cho rằng, mướp đắng có thể hoạt động kháng virus, ngăn chặn virus lây nhiễm cho các tế bào của con người, có thể giúp kiểm soát quá trình của bệnh.

Công dụng khác

Về mặt truyền thống, mướp đắng còn có một loạt các tác dụng chữa bệnh khác, ví dụ như làm giảm cholesterol, bệnh tăng nhãn áp, vô sinh, bệnh về da như bệnh vẩy nến, sốt, nhiễm trùng và các vấn đề kinh nguyệt.

Meo.vn (Theo Eva)

Phương pháp điều trị đông lạnh có thể giúp bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối kéo dài thời gian

Hiện nay, trong số những bệnh nhân ung thư đến khám, có khoảng 70 – 80% bệnh nhân đã vào giai đoạn cuối, không thể phẫu thuật, thông thường những bệnh nhân này chỉ còn thời gian rất ngắn. Nhưng thực tế họ hoàn toàn có cơ hội tiếp tục sống.


Hy vọng mới

Lấy hai bệnh phát nhiều nhất hiện nay là ung thư gan và ung thư phổi làm ví dụ, chỉ cần tích cực điều trị, ứng dụng phương pháp đông lạnh mà y học quốc tế đã công nhận để điều trị thì có khoảng 35% bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối không những có thể sống khỏe hơn, mà còn có thể sống thêm nhiều năm nữa.

Được biết Quảng Châu, Trung Quốc là nơi tiếp nhận phương pháp dao Ar-He đông lạnh khối u sớm vào hàng đầu châu Á, và là nơi đã thành công ca điều trị ung thư gan bằng phương pháp dao Ar-He. Vài năm trước, có một bệnh nhân 60 tuổi, ung thư gan thời kỳ cuối, đáng lý bệnh nhân này chỉ sống được thời gian tính bằng tháng, nhưng sau khi thông qua phương pháp điều trị đông lạnh, đến nay đã sống hơn 3 năm, tinh thần rất tốt, còn có thể ở nhà trông cháu.

Thống kê hiệu quả từ lâm sàng, sau khi điều trị bằng phương pháp đông lạnh, bệnh nhân ung thư gan, phổi giai đoạn cuối sống thêm nhiều năm so với bệnh nhân ung thư giai đoạn đầu sau khi phẫu thuật thông thường, cho tỷ lệ gần như bằng nhau, khoảng 35%.  

Quá trình điều trị

Cụ thể về quá trình điều trị của dao đông lạnh Ar-He: dao đông lạnh không cần thiết phải mổ, chỉ cần thông qua định vị của máy CT tiến hành điều trị là được.

Sau khi vị trí được xác định sẽ tiến hành khử trùng, gây mê cục bộ, tiếp đó sử dụng cây kim đâm xuyên da đưa thẳng vào giữa khối u. Sau khi đến đích, thông qua máy CT có thể thấy được cây kim đã được đưa thẳng vào vị trí trung tâm của khối u, do vậy quá trình này không gây ảnh hưởng đến các cơ quan khỏe mạnh xung quanh.

Sau đó tiến hành đông lạnh khối u, khí lạnh argon được mở nhanh chóng làm nhiệt độ ngay tổ chức khối u hạ xuống -140 độ C. Kết thúc, bệnh nhân sẽ không cảm thấy khác lạ gì nhiều, không cần khâu vết thương, phần lớn bệnh nhân có thể đi lại được ngay một thời gian ngắn sau đó.

Phần lớn các kết quả thống kê lâm sàng cho thấy, sau khi tiến hành điều trị bằng phương pháp dao đông lạnh, hầu hết bệnh nhân đều có phần cải thiện về mặt ăn uống, ngủ nghỉ; đau nhức và sốt giảm… Thể trạng dần hồi phục, tế bào bạch cầu tăng dần, ở một vài bệnh nhân dịch trong ngực, bụng dần dần rút đi, sự sinh trưởng của khối u hầu như bị khống chế, một số bệnh nhân khối u được thu nhỏ lại, mềm hơn hoặc dần teo đi, thời gian sống được kéo dài rõ rệt. (D.C)

Meo.vn (Theo Thanhnien)