Lưu trữ cho từ khóa: Tiết Niệu

Thai phụ mắc tiểu đường tăng gấp 3 lần nguy cơ bị nhiễm trùng

ANTĐ – Một nghiên cứu mới đây cho thấy phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường tăng gấp 3 lần nguy cơ bị các nhiễm trùng nguy hiểm so với thai phụ không mắc bệnh tiểu đường.

Dạng nhiễm trùng nguy hiểm có thể do MRSA (tụ cầu vàng kháng methicillin).

Nghiên cứu cho thấy tăng nguy cơ có liên quan với bệnh tiểu đường ảnh hưởng tới phụ nữ mang thai. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu thuộc đại học California, Los Angeles thì nguy cơ không xảy ra ở thai phụ không mắc bệnh tiểu đường.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Ảnh minh họa
Các kết quả này được đưa ra sau khi nhóm nghiên cứu phân tích dữ liệu gồm hơn 3,5 triệu phụ nữ tại một bệnh viện. Họ phát hiện 5% số bà mẹ bị tiểu đường trong thời gian mang thai và 1% bị tiểu đường trước khi mang thai. Có 600 ca nhiễm MRSA ở các bà mẹ sau khi sinh. Nguồn nhiễm hay gặp nhất là qua da, đường tiết niệu, cơ quan sinh dục, nhiễm trùng vết thương và nhiễm trùng máu.

Mặc dù nghiên cứu phát hiện ra mối liên quan giữa nguy cơ nhiễm MRSA ở thai phụ mắc bệnh tiểu đường song không chứng minh mối quan hệ nhân quả.

Linh Linh
Theo MM

Ayu Rol Điều trị Xơ vữa động mạch và Cao huyết áp

Ayu Rol Điều trị Xơ vữa động mạchCao huyết áp
Bệnh tim mạch là nguyên nhân chính gây tử vong ở hầu hết các quốc gia. Có nhiều yếu tố khác nhau có liên quan đến bệnh tim mạch.
Xơ vữa động mạch hoặc mảng bám xây dựng trong động mạch vành là nguyên nhân nổi bật nhất của bệnh động mạch vành
Xơ vữa động mạch là bệnh tác động đến động mạch. Về mặt đại thể, nó có biểu hiện là thành mạch máu trở nên “xơ cứng”, từ đó làm cho lòng của mạch máu bị hẹp hơn bình thường và sự đàn hồi của mạch máu bị giảm đi.
Các chất mỡ trong máu tích tụ dần ở lớp trong của thành động mạch và do chất mỡ làm cho thành động mạch dày hơn, kết quả là các động mạch bị hẹp dần lại và lưu thông máu bị cản trở. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ mạch máu nào và vùng nào của cơ thể, nó chính là nguyên gây đột quỵ, những cơn đau thắt ngực và thiểu năng tuần hoàn ở cẳng chân. Nếu tình trạng này không được chữa trị trong một thời gian dài, các mảng bám hoàn toàn có thể gây cản trở máu chảy vào cơ tim. Trong sự vắng mặt của oxy máu, các mô bị ảnh hưởng trong lòng cuối cùng cũng chết, do đó làm giảm hoạt động bơm của tim, mà trong trường hợp xấu nhất gây tử vong..
Nguyên nhân hàng đầu làm phát sinh, phát triển bệnh lý Xơ vữa động mạch là do cholesterol trong máu của cơ thể gây ra, mà chất này hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ ăn uống hàng ngày của chúng ta. Trong những bệnh khác như bệnh đái tháo đường cũng liên quan chặt chẽ với việc làm tăng tỉ lệ chất cholesterol cao trong cơ thể. Ngoài nguyên nhân là cholesterol trong máu cao còn có một số yếu tố khác cũng góp phần trong bệnh lý vữa xơ mạch máu như hút thuốc lá, không vận động thể lực, tăng huyết áp và tình trạng thừa cân, béo phì.
Những triệu chứng
Ở giai đoạn sớm của bệnh thường không thấy dấu hiệu bất thường nào nhưng dần dần về sau, các triệu chứng được phát sinh rõ hơn do dòng máu cung cấp cho các cơ quan trong cơ thể ngày càng giảm sút bởi lòng mạch máu bị hẹp lại, nếu nặng hơn có thể gây tắc hoàn toàn dòng máu.
Đặc biệt hơn, nếu động mạch vành bị vữa xơ và bị tắc dần thì lượng máu cung cấp cho cơ tim bị giảm sút khi đó sẽ xuất hiện những triệu chứng như đau nhói trước ngực, nếu nặng gây ta triệu chứng đau thắt ngực. Trong trường hợp động mạch vành bị tắc nghẽn hoàn toàn sẽ xảy ra cơn đau tim đột ngột gây tử vong. Nhiều cơn đột quỵ ở người già thường do mạch máu cung cấp máu cho não bị xơ cứng và bị hẹp cho nên lượng máu đến não không đủ để nuôi não.
Điều trị :
Chế độ ăn là hết sức quan trọng đối với việc phòng Bệnh xơ vữa động mạch ở NCT. Cần hạn chế ăn mỡ động vật như mỡ lợn, mỡ bò, mỡ gà mà thay thế vào đó là dùng dầu thực vật như dầu lạc, dầu vừng. Nên ăn các thức ăn có nguồn gốc từ đậu nành như đậu phụ. Không nên ăn các loại lòng như lòng lợn, lòng trâu, bò và hạn chế ăn tôm, trứng . Không nên ăn loại dầu dừa vì dầu dừa có nhiều axít béo bão hoà dễ gây nên hiện tượng xơ vữa động mạch.
Cần vận động cơ thể như tập thể dục dưỡng sinh, đi bộ, chơi thể thao tuỳ theo sức mình. Người ta thấy nếu vận động đều, có bài bản và phù hợp với từng cá thể thì có thể làm tăng lượng cholesterol tốt, giảm cholesterol xấu và đồng thời làm giảm huyết áp đối với người đang bị tăng huyết áp mạn tính.
Nếu đã áp dụng tất cả các biện pháp nhằm làm giảm cholesterolmà không đạt kết quả thì phải dùng thuốc. Tất nhiên dùng loại thuốc gì và liều lượng ra sao, trong thời gian bao lâu cần có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình, người bệnh không nên tụ động mua thuốc để dùng.
Giới thiệu AyuRol: một sản phẩm kết hợp của các loại thảo mộc quí, tác động đến lượng Cholesterol trong cơ thể bằng cách cải thiện và phục hồi chức năng gan, phá hủy cholesterol có hại, tăng cường tuần hoàn máu. Đồng thời làm giảm huyết áp đối với người đang bị Bệnh Cao huyết áp mạn tính.Điều trị rất hiệu quả cho người cao mỡ máu
Thành phần

-Cao Trầm Mukul (Commiphora Mukul ) chiết xuất Herb (Guggul Gum) đã được sử dụng trong một thời gian dài trong y học Ayurvedic để điều trị bệnh béo phì và trọng lượng khác có liên quan problems.Giờ đây Guggul thường được sử dụng để giúp giảm cholesterol và giảm Bệnh Cao huyết áp.
-Cao Long phụ (Terminalia Arjuma Extract) Arjunolic Acid: Nó làm tăng cholesterol HDL và làm giảm cholesterol LDL. Loại bổ các gốc tự do và chất ức chế để sản xuất axit hypochlorous.
-Terminalia Arjunacó thể ngăn chặn và kìm hãm tiến triển của Xơ vữa động mạch bằng cách làm giảm mức độ chất béo có hại trong máu .Phát hiện trong các nghiên cứu trên động vật cho thấy điều trị với Arjuna làm giảm cholesterol toàn phần, LDL và triglyceride và làm tăng lipoprotein mật độ cao (HDL). hoặc mức độ cholesterol tốt trong máu
-Arjuna Extract :Là một trong những thuốc mạnh nhất để bổ tim trong khuyến cáo của Ayurveda để điều trị bệnh tim mạch.
Hiện nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng Arjuna là một tác nhân chống thiếu máu cục bộ và bảo vệ timvà cũng có thể được sử dụng thành công trong Bệnh cao huyết áp.
Terminalia Arjuna cho thấy có chức năng bảo vệ tim. Nó ổn định các triệu chứng của cơn đau thắt ngực. Nó làm giảm huyết áp tâm thu và chỉ số khối cơ thể đến một mức độ đáng kể. (Ref. Dwivedi, S và Agarwal, MP, hiệu ứng Antianginal và bảo vệ tim của Terminalia Arjuna, một loại thuốc bản địa chữa bệnh mạch vành
-Cao xuyên tâm liên (Andrographis Paniculata Extract) có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết, tiêu thũng chỉ thống. Thường được dùng trị cảm sốt, cúm, trị ho, viêm họng, viêm phổi, sưng amidan, viêm đường tiết niệu, viêm âm đạo, khí hư, đau bụng kinh, viêm nhiễm đường ruột, huyết áp cao, đau nhức cơ thể, tê thấp
-Crateava Nurvala Extract : điều trị nhiễm trùng đường tiểu, sỏi thận, thấp khớp và cổ trướng ,các rối loạn tiết niệu gây ra bởi phì đại tuyến tiền liệt
-Bergenia Ligulata Extract : đặc tính chống viêm, giảm đau và lợi tiểu , điều trị sỏi thận. ức chế tối đa sự tăng trưởng tinh thể của calcium oxalate monohydrate, một loại khoáng chất trong hầu hết các sỏi thận ,Ngoài ra nó có tác dụng tán hàn, ôn trung, hồi dương, thông mạch, hạ khí, hoá đàm, trừ ho, trợ lực cho thuốc phát biếu và lợi tiểu. Giúp kiểm soát hàm lượng đường cao trong máu, vốn gây ra các biến chứng cho bệnh nhân tiểu đường cũng như ổn định HA với người bị Bệnh cao huyết áp
– Piper Longum : được dùng trị bụng dạ lạnh gây nôn thổ, đau bụng ỉa chảy, lỵ, âm sản đau đầu, đau lỗ mũi và hốc mũi; tim quặn đau; đau răng, động kinh. Rễ được dùng trị ăn uống không tiêu, màng tim trướng và ở Ấn Độ, người ta dùng cho phụ nữ không có con uống để làm nóng tử cung. Nước sắc rễ cũng được dùng trị viêm khí quản mạn tính, ho và cảm lạnh.
– Piper Nigrum :Hạt tiêu đen được dùng làm thuốc chữa nhiều thứ bệnh như hen suyễn, đau nhức, đau họng, trĩ, rối loạn đường tiết niệu, tả, sốt định kỳ và chứng khó tiêu. Trường phái y học Unani coi hạt tiêu là chất kích dục, thuốc xổ, thuốc giảm chướng bụng và các bệnh về lá lách, bạch biến, đau lưng, ợ hơi, liệt, sốt mãn tính.
Công dụng:
Giảm lượng Chlolesterol, Điều tiết giúp làm giảm huyết áp ở những người Bệnh cao huyết áp.
Giúp tăng cường cơ tim và giúp cải thiện hoạt động bơm của tim
Giúp giảm đau thắt ngực ở bệnh nhân bệnh động mạch vành
Giúp hạn chế sự tiến triển của Bệnh xơ vữa động mạch bằng cách hạ thấp mức cholesterol toàn phần, LDL và chất béo trung tính, giúp nâng cao trình độ HDL
Bảo vệ tim và các động mạch vành từ sự căng thẳng oxy hóa
Giúp giảm mức huyết áp tâm thu
Có lợi cho bệnh nhân suy tim sung huyết
Quy cách đóng gói : 6 vỉ x 10 viên nén bao phim
Liều dùng:2 viên/lần; 3 lần/ngày.
Xuất xứ:Ấn Độ
NSX,HSD: Xem trên bao bì sản phẩm. SĐK:14765/2011/YT-CNTC
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc

CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

“Tinh binh” khỏe nhất vào mùa đông và đầu xuân

“Tinh binh” nhìn chung khỏe nhất vào mùa đông và đầu xuân.

Đó là kết luận của các nhà nghiên cứu tại Đại học Ben-Gurion (Israel) sau khi khảo sát hơn 6.000 nam giới đang điều trị vô sinh.

Các nhà khoa học phát hiện thấy trong suốt mùa đông, tinh trùng trong cơ thể họ tăng rõ rệt về số lượng, tốc độ bơi, cũng như ít bị dị tật hơn. Tuy nhiên, chất lượng “tinh binh” giảm dần khi càng vào sâu mùa xuân.

Chuyên gia khoa tiết niệu – Tiến sĩ Edmund Sabanegh, người không tham gia nghiên cứu, cho biết một số nghiên cứu trước đó được tiến hành trên động vật cũng thu được kết quả tương tự, đúng theo mùa sinh sản của chúng.

tinh-binh-khoe-nhat-vao-mua-dong-va-dau-xuan

Ảnh minh họa.

Theo nhóm nghiên cứu, nếu yếu tố mùa ảnh hưởng tới chất lượng tinh binh thì các cặp đôi cần nắm được điều này. Biết khi nào cần tập trung nỗ lực để thụ thai có thể giúp các cặp đôi giải tỏa sự bức bối trong lòng và giúp họ tiết kiệm tiền bạc.

Trong khảo sát lần này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích mẫu tinh dịch của 6.445 bệnh nhân nam đăng ký điều trị vô sinh tại trung tâm hỗ trợ sinh sản của họ trong từ tháng 1/2006 – 7/2009.

Trong số này, 4.096 người có quá trình sản xuất tinh trùng diễn ra bình thường và 1.495 người xuất hiện các dị tật, chẳng hạn như có lượng tinh binh thấp. Tổ chức y tế thế giới (WHO) định mức 15 triệu tinh trùng/1 ml tinh dịch là bình thường.

Nhóm nghiên cứu phát hiện thấy những người đàn ông với quá trình sản xuất tinh trùng diễn ra bình thường có “tinh binh” khỏe nhất vào mùa đông.

Chẳng hạn, những người thuộc nhóm này sản xuất khoảng 70 triệu tinh trùng/1 ml tinh dịch trong suốt mùa đông. Khoảng 5% trong số “tinh binh” này có độ di động cao, bơi nhanh, giúp các cặp đôi cải thiện cơ hội thụ thai.

Trong khi đó, mức sản xuất tinh trùng vào mùa xuân của họ là xấp xỉ 68 triệu tinh trùng/1 ml tinh dịch và chỉ 3% trong số chúng có độ di động cao.

Ở những người đàn ông có mức sản xuất tinh trùng bất thường, tinh trùng lại có hơi hướng di động tốt hơn vào mùa thu và đạt tỷ lệ mức tinh trùng có hình dạng bình thường (khoảng 7%) trong suốt mùa xuân.

“Theo kết quả, “tinh binh” bình thường sẽ hoạt động tốt hơn vào mùa đông, trong khi đó, với những trường hợp vô sinh do có lượng “tinh binh” thấp nên tìm cơ hội cho mình vào mùa xuân và mùa thu” – Nghiên cứu nhận định.

Tuy nhiên, theo Sabanegh, trưởng khoa tiết niệu tại Cleveland Clinic ở Ohio (Mỹ), các bác sĩ không nên vội khuyến cáo những người đàn ông có lượng “tinh binh” thấp đợi tới mùa đông hoặc mùa xuân mới thụ thai.

“Chúng tôi vẫn tiếp tục khuyến cáo họ nỗ lực, dù là bất cứ mùa nào, họ có thể cải thiện được tình hình nhờ các biện pháp điều trị” – Sabanegh nói.

Trong các nghiên cứu về động vật, sự thay đổi chất lượng sản xuất tinh trùng theo mùa và khả năng sinh sản có liên quan tới một số yếu tố như nhiệt độ, độ dài quãng thời gian tiếp xúc với ánh sáng ban ngày và sự thay đổi của hormone.

Ở người, nghiên cứu trước đó cho thấy số lượng tinh trùng của đàn ông trên khắp thế giới đang giảm. Nguyên nhân cụ thể chưa được làm rõ, tuy nhiên, nhiều giả thuyết cho rằng đó là do lối sống tĩnh tại hoặc sự phơi nhiễm với các chất hóa học ảnh hưởng xấu tới chất lượng “tinh binh”.

(Theo TTVN)

Trái cây giúp giảm tổn thương thận

Bổ sung nhiều rau quả và trái cây trong chế độ ăn uống hằng ngày mang lại nhiều lợi ích cho những người mắc bệnh thận mãn tính, theo Medicalxpress.

Hai giáo sư tại Trường cao đẳng Y Texas A&M (Mỹ) là Nimrit Goraya và Donald Wesson cùng các cộng sự cho biết, nhiễm axit chuyển hóa là tình trạng bệnh phổ biến ở các bệnh nhân thận mãn tính, tình trạng này có thể khiến người bệnh thở nhanh, hôn mê và thậm chí có thể tử vong.

traicay
Táo là một trong những loại trái cây tốt cho thận – Ảnh: Shutterstock

Trong cuộc nghiên cứu mới được xuất bản trên chuyên san Clinical Journal of the American Society of Nephrology (CJASN), các nhà khoa học đã áp dụng chế độ ăn giảm axit cho 71 bệnh nhân nhiễm axit chuyển hóa dạng nặng.

Đây là chế độ ăn nhiều trái cây và rau quả hoặc uống thuốc bổ sung kiềm trong vòng 1 năm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung kiềm bằng thực phẩm hoặc thuốc đã mang đến những dấu hiệu tích cực ở thận với chỉ số tổn thương hệ thống thận – tiết niệu giảm đáng kể.

(Theo TNO)

Giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu ở nữ

Một điều không may là nhiễm trùng đường tiết niệu rất hay gặp ở phụ nữ. Bất cứ hành động nào tạo điều kiện cho vi khuẩn thâm nhập vào bàng quang đều có thể dẫn đến nhiễm trùng.

nhiem-trung-duong-tiet-nieu
Ảnh minh họa

Tuy nhiên hãy tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau để giảm thiểu nguy cơ bị nhiễm trùng đường tiết niệu:

– Đảm bảo uống đủ nước mỗi ngày.

– Đi tiểu sau khi quan hệ để loại bỏ vi khuẩn thâm nhập vào bên trong.

– Sử dụng nước ép nam việt quất (một hợp chất tên tannin có trong nước ép nam việt quất có tác dụng cản trở sự bám dính của vi khuẩn vào bàng quang).

– Lau khô theo chiều từ trước ra sau mỗi lần đại, tiểu tiện.

– Tuyệt đối không “yêu” qua đường âm đạo sau khi vừa quan hệ tình dục qua đường hậu môn.

Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể dẫn tới các dạng viêm nhiễm nghiêm trọng hơn, như viêm thận-bể thận hoặc nhiễm trùng máu. Vì vậy nếu chị em nghi ngờ mình bị bệnh này thì hãy đến gặp bác sĩ để điều trị kịp thời!

(Theo ANTD)

Bệnh nha chu có thể khiến nam giới bị rối loạn cương dương

 

Một nghiên cứu nhỏ của Thổ Nhĩ Kỳ phát hiện ra rằng nam giới độ tuổi 30 bị bệnh nha chu nặng tăng gấp hơn 3 lần nguy cơ bị rối loạn cương dương.

Nghiên cứu này cho thấy 53% số nam giới bị rối loạn cương dương là bị viêm lợi so với 23% số nam giới không có dấu hiệu bị bệnh lợi.

Tác giả nghiên cứu tiến sĩ Fatih Oguz, giáo sư trợ giảng tại khoa tiết niệu thuộc Trường Y Đại học Inonu ở Malatya (Thổ Nhĩ Kỳ) nói: “Chúng ta biết rằng bệnh nha chu gây rối loạn nội mô hệ thống, dẫn tới các bệnh lý mạch máu. Trong khi các bệnh về mạch máu lại là nguyên nhân hay gặp nhất gây rối loạn cương dương”.

Trong nghiên cứu này các tác giả đã so sánh 80 nam giới bị rối loạn cương dương với 82 nam giới không bị bệnh này. Các đối tượng tuổi từ 30-40 và là bệnh nhân tại khoa tiết niệu của tiến sĩ Oguz.

Tất cả các đối tượng được bác sĩ chuyên khoa kiểm tra bệnh nha chu. Kết quả cho thấy bệnh nha chu xảy ra thường xuyên hơn ở những người bị rối loạn cương dương so với những người không gặp phải tình trạng khó nói này.

Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Journal of Sexual Medicine ngày 4/12.

(Theo ANTD)

 

Tiểu tiện liên tục – Dấu hiệu cảnh báo một số căn bệnh

Theo nghiên cứu mang tên Mind Over Bladder (Hãy quan tâm hơn đến bàng quang của bạn) do Trường Cao đẳng Y khoa Albert Einstein, Mỹ thực hiện gần đây cho biết, bàng quang là bộ phận quan trọng. Bởi vậy, những dấu hiệu của bàng quang, nhất là tiểu tiện thường xuyên là cảnh báo một số căn bệnh nan y.

1. Ngưng thở khi ngủ

Những người mắc bệnh ngưng hay ngạt thở khi ngủ (có khi kéo dài tới trên 30 giây) nhưng khi khám lại không phát hiện ra, song nếu có dấu hiệu tiểu nhiều trong đêm thì đó chính là dấu hiệu mắc bệnh.

Tháng 3/2011, các nhà khoa học Israel đã kết thúc nghiên cứu ở nhóm đàn ông tuổi từ 55-75 bị bệnh phình đại tuyến tiền liệt lành tính (BPE), phát hiện thấy, có tới trên một nửa nhóm người này đi tiểu nhiều trong đêm và mắc chứng ngạt thở khi ngủ. Người mắc bệnh ngạt thở khi ngủ còn mắc phải một số căn bệnh khác như ngáy, buồn ngủ ban ngày. Với phát hiện trên, những người mắc bệnh tiểu nhiều trong đêm cần đi tư vấn bác sĩ, khám và điều trị bệnh ngừng thở khi ngủ.

2. Bệnh tiểu đường không kiểm soát

Khi lượng đường trong máu không được kiểm soát sẽ gây tổn thương đến hệ thần kinh, gây mất cảm giác, không điều khiển cơ bắp dẫn đến đi tiểu nhiều, són tiểu. Nhằm giúp bàng quang làm việc tốt, những người có dấu hiệu không kiểm soát tiểu tiện nên đi khám, thay đổi lối sống, ăn uống cân bằng khoa học và dùng thuốc để đưa lượng đường huyết về ngưỡng tối ưu, hạn chế các biến chứng nan y do tiểu đường gây ra cho sức khỏe.

3. Suy giáp

Suy giáp không điều trị sẽ làm giảm chức năng tuyến giáp, ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển hóa và gây ra nhiều biến chứng, trong đó có các loại bệnh về bàng quang. Một trong những dấu hiệu bị bệnh bàng quang là đi tiểu nhiều. Hiện tượng suy giáp chỉ là hội chứng thứ 2 của bệnh về bàng quang, hội chứng thứ nhất là mệt bã người, tăng cân, da khô và rụng tóc. Nếu xuất hiện tình trạng suy giáp nên can thiệp ngay để hạn chế bệnh tiểu tiện nhiều.

4. Bệnh tiền liệt tuyến

Tuyến tiền liệt có hình nón nằm ngược bao quanh niệu đạo, đảm nhận vai trò tiểu tiện và sinh sản ở đàn ông, nhưng do tuổi tác tuyến này ngày càng phình to, ép niệu đạo (đường nước tiểu thoát ra) và tạo ra căn bệnh có tên là tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (BPH), thường gặp ở độ tuổi 50, hay còn gọi là ung thư tuyến tiền liệt, ở nhóm trẻ tuổi hơn thì gọi là viêm tuyến tiền liệt.

Dấu hiệu dễ nhận thấy khi mắc bệnh là phải đi tiểu gấp, tiểu xong thường bị rơi rớt, khó đi tiểu, mót tiểu kể cả ban ngày lẫn ban đêm. Nên đi khám sớm và áp dụng phép kiểm tra PSA (phát hiện kháng thể tiền liệt tuyến đặc trưng).

5. Nhiễm trùng đường tiểu mạn tính

Nhiễm trùng đường tiểu mạn tính (Urinary tract infections) hay UTI là căn bệnh viêm nhiễm thường gặp thứ hai trên cơ thể con người, kể cả đàn ông lẫn đàn bà, nhưng thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn.

Dấu hiệu dễ nhận biết như buồn đi tiểu, đi tiểu buốt khó chịu, nước tiểu có màu đỏ, đục và đôi khi rất khai. Xuất hiện cả tình trạng sốt, đau cục bộ và buốt, áp lực cao. Nên đi khám bác sĩ nếu bị bệnh bác sĩ sẽ kê đơn dùng kháng sinh sẽ khỏi trong 1-2 ngày. Nếu vẫn tiếp tục mắc bệnh sẽ phải tăng liều. Những người mắc bệnh UTI lặp đi lặp lại cần khám kỹ để tìm ra nguyên nhân, có thể mắc bệnh tiểu đường hoặc dấu hiệu mang thai.

Phụ nữ mắc bệnh UTI mãn tính nên dùng băng vệ sinh, không nên dùng phương pháp thụt rửa, nên vệ sinh sạch sẽ sau khi đi tiểu tiện, sinh hoạt tình dục, tránh lạm dụng rượu bia, cà phê vì nó làm tăng bệnh cho bàng quang.

6. Tăng cân

Tăng cân đôi khi bị đổ lỗi cho nhiều lý do, nhưng người ta lại không biết rằng nó có liên quan đến sức khỏe bàng quang, bởi hai căn bệnh này lại có mối quan hệ mật thiết. Ví dụ, khi dư thừa trọng lượng, các cơ sàn chậu hông nơi đỡ hệ thống tiết niệu lại phải chịu áp lực quá lớn và lâu ngày bị suy yếu, đặc biệt là cơ tiết niệu, gây ảnh hưởng đến việc tiểu tiện, thậm chí nó bị vô hiệu ngay cả khi không đi tiểu, tạo ra hiện tượng rò rỉ nước tiểu (són tiểu) nhất là khi cười, hắt hơi…Hiện tượng này được chuyên môn gọi là són tiểu stress.

Ngoài ra những người dư thừa trọng lượng, béo phì cũng dễ mắc bệnh tiểu đường, tiểu nhiều trong ngày.

7. Viêm bàng quang kẽ

Viêm bàng quang kẽ hay còn gọi là hội chứng đau bàng quang, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống tình dục của phụ nữ, nguyên nhân đến nay khoa học vẫn chưa biết rõ. Nó đi kèm với hội chứng rối loạn giấc ngủ, đau nửa đầu, trầm cảm và các chứng đau khác, gây mệt mỏi kinh niên. Dấu hiệu dễ nhận thấy là đi tiểu liên tục, đau vùng chậu hông, tiểu tiện trên 7 lần/ngày. Ngoài ra nó còn gây đau khi có kinh, đau khi hoạt động tình dục, khi sức khỏe cơ thể suy giảm….

Cho đến nay căn bệnh này vẫn chưa có thuốc điều trị và vậy bác sĩ khuyến cáo nên thay đổi lối sống, duy trì cuộc sống khoa học, hạn chế thực phẩm gây kích thích bàng quang như rượu, bia và nhóm thực phẩm cay nóng.

8. Sa bàng quang

Sa bàng quang là căn bệnh thường gặp ở nhóm phụ nữ sau khi sinh, thường xuất hiện do cơ sàn chậu hông và dây chằng đỡ bàng quang bị suy yếu vì stress. Nếu mắc bệnh ho mạn tính như ở nhóm hút thuốc, nâng vật nặng béo phì, mãn kinh thì bệnh tình lại thêm trầm trọng. Hiện tượng thường thấy là đi tiểu liên tục, đi tiểu xong vẫn chưa thấy dễ chịu, đau bộ phận sinh dục, đau âm đạo và đau lưng.

Nếu ở thể nhẹ nên áp dụng liệu pháp luyện tập, ở thể nặng phải dùng liệu pháp thay thế estrogen, thậm chí cả phẫu thuật.

9. Ung thư

Ung thư có thể xuất hiện trong bàng quang, xương chậu thận, niệu đạo. Ung thư tế bào chuyển tiếp của bể thận và niệu đạo là căn bệnh khá phổ biến. Hiện tượng thường thấy của ung thư bàng quang là có máu trong nước tiểu, đau khi đi tiểu, cần đi tiểu gấp nhưng lại không có nước. Phần lớn ở đàn ông, khối u ung thư gây tắc đường nước tiểu và đôi khi đi tiểu không kiểm soát được. Khi xuất hiện các hiện tượng này cần đi khám bác sĩ và qua các phép thử test đặc biệt bác sĩ sẽ biết được khối u lành tính hay ác tính.

(Theo Nông nghiệp Việt Nam)

Xem phim “mát” chữa khỏi chứng xuất tinh sớm?

Những bộ phim “mát” được biết là gây nghiện “sex” vì nó tác động không tốt tới não bộ. Những một chuyên gia tiết niệu lại khuyên xem phim “mát” để chữa xuất tinh sớm.

Gần đây, một nam giới được chẩn đoán viêm tuyến tiền liệt, nghĩa là viêm ở tuyến tiền liệt gây ra hiện tượng xuất tinh sớm, đến điều trị tại một bệnh viện ở Hồ Bắc, Trung Quốc và được yêu cầu xem phim “mát”. Vậy xem phim mát có thật là điều trị được các vấn đề rối loạn cương dương không?

Theo Thestar, tiến sĩ Lin Fa Cai, chuyên gia tiết niệu từ Singapore: “Bệnh viện có thể muốn bệnh nhân thủ dâm trong khi xem phim “mát” để có thể xuất đi những tinh trùng không khỏe mạnh”.

Theo TS Cai, những phim “mát” thường được sử dụng trong điều trị là những phim được lựa chọn đặc biệt, không phải là những phim “đen” trên thị trường.

TS Yang Zhi Jian ở một phòng khám sức khỏe nam học tại Singapore cũng đề cập điều tương tự. Ông cho biết xem phim “mát” có thể giúp bệnh nhân học được các kỹ năng giúp cải thiện đời sống tình dục.

Chuyên gia tình dục, tiến sĩ Wei Siang Yu cũng ủng hộ phương pháp xem phim “mát”. Theo ông, phương pháp này có thể kích thích quá trình sản sinh các hormon tình dục ở nam giới.

Xuất tinh sớm hoặc rối loạn cương dương là một trong những điều khiến nam giới lo lắng nhất. Tránh được xuất tinh sóm có thể là rất có ích cho đời sống của một người đàn ông. Vì nam giới bị xuất tinh sớm được coi là không thể làm hài lòng đối tác và có thể dẫn tới căng thăng.

Xuất tinh sớm được chứng minh là một vấn đề tình dục hay gặp ở đàn ông. Ước tính có khoảng 30% nam giới trên thế giới bị xuất tinh sớm. Bất chấp tuổi tác, bất kể kinh nghiệm, kiến thức trong tình trường, xuất tinh sớm có thể xảy ra với bất cứ người đàn ông nào.

Những năm qua, đã có một số nguyên nhân của tình trạng xuất tinh sớm được mang ra mổ xẻ. Trong đó các vấn đề tâm sinh lý như là lo âu, mặc cảm, thói quen thủ dâm, dương vật quá nhạy cảm và thiếu kinh nghiệm tình trường là nguyên nhân chính dẫn tới cảnh “chưa đến chợ đã hêt tiền”.

BACSI.com (Theo ANTD)

 

Bệnh thận – tiết niệu khi mang thai: Không thể xem thường!

Bộ máy tiết niệu và bộ máy sinh dục của cơ thể con người có liên quan rất chặt chẽ với nhau. Vì vậy bệnh của hai bộ máy này có ảnh hưởng qua lại với nhau rất lớn. Điều này đã được thể hiện trong phân loại bệnh tật, y học đã xếp bệnh tiết niệu – sinh dục cùng chung một chương. Y học cổ truyền cũng có các thuật ngữ: thận âm hư, thận dương hư để chỉ sự suy giảm chức năng sinh dục. Trong bài này chúng ta sẽ bàn đến bệnh thận – tiết niệu với sức khỏe sinh sản.

Những thay đổi ở bộ máy tiết niệu khi mang thai

Khi phụ nữ có thai, y học quan sát thấy rằng hai thận tăng thể tích, thận dài thêm khoảng 1cm và nặng thêm khoảng 4,5gam. Các đài thận và bể thận giãn, đặc biệt ở thận phải. Niệu quản cũng giãn nhẹ do thai chèn ép. Có thể gặp hiện tượng trào ngược bàng quang – niệu quản. Điều này giải thích khi có thai phụ nữ dễ bị nhiễm khuẩn tiết niệu. Sau sinh 3 tháng vẫn còn hiện tượng này.

Khi có thai, thai phụ cũng gặp các thay đổi về huyết động toàn thân và huyết động tại thận. 3 tháng đầu khi có thai, huyết áp giảm do giảm sức cản mạch máu ngoại biên để tăng cung lượng tim, đảm bảo tưới máu tăng dần cho động mạch tử cung, cung cấp máu cho thai nhi phát triển bình thường. Thể tích huyết tương tăng từ 30-50%, trong khi đó dịch tổ chức kẽ tăng ít. Trong thay đổi huyết động tại thận, y học nhận biết hiện tượng lọc cầu thận tăng và lưu lượng tưới máu thận cũng tăng từ 30-50% trong thời gian mang thai. Vì máu bị pha loãng nên nồng độ albumin, áp lực keo và áp lực thẩm thấu huyết tương giảm.

Y học cũng cho rằng khi mang thai có sự bất thường trong tổng hợp các chất có tác dụng co mạch hay các thụ thể có ở vỏ thận (renin, prostaglandin…). Đây là nguyên nhân chính của thay đổi huyết động tại thận. Hậu quả của sự thay đổi huyết động ở phụ nữ có thai được thể hiện ở urê huyết giảm, creatinin huyết giảm, acid uric huyết giảm vì máu bị pha loãng và tăng thể tích và dịch ở các khoang, tổ chức kẽ (tăng cân, phù).

Khi mang thai có thể mắc bệnh gì ở bộ máy tiết niệu?

Khi có thai, người phụ nữ có thể bị các bệnh ở bộ máy tiết niệu sau:

Nhiễm khuẩn tiết niệu

– Nhiễm khuẩn tiết niệu thấp hay viêm bàng quang cấp với các triệu chứng: đái rắt, đái buốt, nước tiểu sẫm màu. Khi làm xét nghiệm nước tiểu phát hiện protein âm tính hoặc vết nhưng có nhiều hồng cầu và bạch cầu. Chỉ cần điều trị với thuốc sulfamid hoặc râu ngô, bông mã đề.

– Nhiễm khuẩn tiết niệu cao hay viêm thận – bể thận cấp với các triệu chứng như sốt cao, rét run, đái rắt, đái buốt, đái đục và nước tiểu sẫm màu. Làm xét nghiệm thấy bạch cầu, hồng cầu và có thể thấy vi khuẩn, thường là Escherichia Coli. Trong trường hợp này cần điều trị với kháng sinh nhóm betalactamin. Không dùng kháng sinh nhóm aminoglucosid và quinolon vì gây độc cho thận và có hại cho thai nhi.

Tăng huyết áp: Huyết áp động mạch trên 140/80 mmHg do thiếu máu cục bộ rau thai. Bệnh tăng huyết áp thường gặp ở 3 tháng đầu, 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ.

Trong điều trị dùng các thuốc ức chế trung ương giao cảm, chẹn bêta giao cảm. Không nên dùng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc chẹn canxi. Chế độ ăn nhạt và dùng thuốc lợi tiểu không được khuyến cáo vì có nguy cơ gây thiếu máu rau thai dễ gây đẻ non hoặc thai chết lưu.

Tiền sản giật hay nhiễm độc thai nghén có thể gặp ở phụ nữ trẻ có thai lần đầu vào 3 tháng cuối của thai kỳ với các triệu chứng phù nhiều, tăng huyết áp và protein niệu nhiều. Sản giật với các cơn co giật toàn thân gây nhiều biến chứng, kể cả tử vong cho sản phụ và thai nhi. Nguyên nhân của biến chứng này là do giảm cung lượng tim, thiếu máu cục bộ tử cung và rau thai. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất.

Đông máu rải rác trong lòng mạch. Nếu xảy ra tắc các tiểu cầu thận sẽ gây suy thận cấp nặng.

Thêm vào đó, những thập niên gần đây, y học còn đưa ra hội chứng Hellp ở phụ nữ có thai vào tháng cuối có tan máu, tăng men gan, giảm tiểu cầu và suy thận. Đây là biến chứng rất nặng, nguy cơ tử vong cao mặc dù được áp dụng các phương pháp điều trị tích cực, hiện đại như lọc máu liên tục chậm tĩnh mạch – tĩnh mạch.

Những biến chứng ở cơ quan sinh dục khi bị bệnh thận – tiết niệu

Khi bị bệnh thận – tiết niệu, đặc biệt đã có suy thận ở các mức độ, người bệnh cả nam và nữ đều bị giảm ham muốn tình dục, khả năng có con ít. Ở nữ giới sẽ bị nhiều khí hư, gặp nhiều tai biến sản khoa hơn người phụ nữ khỏe mạnh như: thống kinh, rong kinh, sảy thai, đẻ non, tiền sản giật hoặc sản giật.

Những lời khuyên

Khi nữ giới bị thống kinh, đa kinh, khí hư, sảy thai nhiều lần hoặc vô sinh cần khám bệnh để xác định có bệnh thận và suy thận hay không.

Khi có thai, người phụ nữ cần khám thai định kỳ, đầy đủ, theo dõi cân nặng, huyết áp và protein niệu kết hợp với thăm khám lâm sàng, siêu âm phụ – sản khoa để phát hiện sớm các bất thường về thận – sản với mục đích phòng ngừa, tiên lượng và xử trí kịp thời. Vấn đề phụ nữ bị bệnh thận – tiết niệu có thai cần được xem xét. Nếu bị viêm cầu thận cấp, sỏi thận và đường tiết niệu nhưng chưa có suy thận có thể mang thai được. Nếu bị hội chứng thận hư tiên phát, viêm cầu thận luput đang điều trị với các thuốc glucocorticoid và thuốc giảm miễn dịch, bị suy thận vừa và nặng thì không nên có thai, nếu có thai cần can thiệp cho ngừng thai sớm.

Theo – suckhoedoisong