Lưu trữ cho từ khóa: phát hiện sớm

Vi khuẩn HP (Helicobacter pylori) – thủ phạm gây bệnh dạ dày

Đau dạ dày là một triệu chứng thường gặp ở nhiều người và nó có thể là dấu hiệu cho biết chúng ta đã bị viêm loét dạ dày. Căn bệnh này rất dai dẳng, gây khó chịu trong nhiều năm liền và có thể gây nên những những đợt cấp tính rất nguy hiểm, thậm chí có thể phát triển thành ung thư dạ dày.

Ảnh: Imagine

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến viêm loét dạ dày nhưng nhìn chung có 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất là do dùng các thuốc giảm giảm đau, chống viêm không chứa steroid, aspirin và một số loại thuốc khác. Thứ hai là do stress tâm lý, thói quen sử dụng rượu bia, thuốc lá, các loại thực phẩm gây kích thích niêm mạc dạ dày như trà, cà phê, ớt, tiêu, chanh, giấm… dẫn tới việc dạ dày tiết nhiều axít. Thứ ba và là nguyên nhân quan trọng nhất, là sự xuất hiện của một loại vi khuẩn có tên là Helicobacter Pylori trong dạ dày.

Phần lớn các ca viêm dạ dày – tá tràng đều do vi khuẩn HP gây ra và có thể tiến triển thành ung thư. Chúng có mặt trong cơ thể của một nửa dân số thế giới.

HP là một loại xoắn khuẩn gram âm, dài khoảng 2,5 mm và rộng 0,5 mm, có 4-6 roi nên dễ di chuyển trong lớp chất nhầy của niêm mạc dạ dày và đây cũng là môi trường trú ngụ của chúng. Chính lớp chất nhầy dạ dày đã bảo vệ cho vi khuẩn khỏi sự tác động của axit có trong dịch vị. HP có nhiều men để giúp chúng tồn tại, phát triển và gây bệnh tại dạ dày như men urease, một loại men thủy phân ure (chất có sẵn trong dạ dày) thành ammoniac và từ đó tạo ra môi trường acid thích hợp cho vi khuẩn phát triển, nhưng lại gây tổn thương loét cho niêm mạc dạ dày.

Khoảng 65 – 85% bệnh nhân viêm loét dạ dày có nhiễm HP và khi dùng thuốc diệt HP thì phần lớn khỏi viêm loét. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy HP là thủ phạm chính gây tổn thương niêm mạc dạ dày. Đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu trên thế giới khẳng định, HP không chỉ gây viêm loét mà còn có vai trò trong nhiều bệnh lý khác ở dạ dày – hành tá tràng như rối loạn tiêu hóa không loét, u lympho ác tính, ung thư…

Ở giai đoạn sớm, ung thư dạ dày hầu như không có triệu chứng. Khi bệnh đã tiến xa, bệnh nhân thường cảm thấy khó chịu vùng thượng vị, cảm giác đầy bụng sau ăn, buồn nôn và ói mửa, sụt cân nhanh. Các dấu hiệu này không phải là triệu chứng đặc hiệu của ung thư nên bệnh nhân dễ nhầm lẫn với các bệnh khác ở dạ dày như viêm loét dạ dày hay rối loạn tiêu hóa nên khi bệnh được phát hiện thì ung thư đã di căn xa. Vì thế khi có các triệu chứng trên kéo dài, người bệnh nên đi khám để tìm nguyên nhân và điều trị càng sớm càng tốt.

Để phát hiện sớm ung thư dạ dày

Phải tầm soát bằng chụp X-quang dạ dày hoặc nội soi dạ dày thì mới có thể phát hiện được ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Nội soi phát hiện thương tổn thương sớm tốt hơn X-quang. Người có yếu tố nguy cơ cần phải tầm soát ung thư dạ dày là các đối tượng: bị viêm teo dạ dày hoặc thiếu máu ác tính, loét khổng lồ, nhiễm HP mạn tính, đã cắt bán phần dạ dày, polyp dạ dày, trong gia đình có người bị ung thư đường tiêu hoá, có triệu chứng rối loạn tiêu hoá thường xuyên… Nếu có điều kiện thì mọi người trên 40 tuổi đều nên nội soi dạ dày tầm soát ít nhất 1 lần trong đợt kiểm tra sức khoẻ định kỳ hằng năm.

Gói khám tầm soát ung thư dạ dày & đại tràng

Các gói tầm soát ung thư dạ dày & đại tràng bao gồm: tư vấn & nội soi với bác sĩ chuyên gia, xét nghiệm máu, xét nghiệm tìm vi trùng HP, bữa ăn nhẹ hồi sức, tìm hiểu tiền sử & báo cáo bệnh án.

  • Gói tầm soát Ung thư dạ dày: 1.400.000 VNĐ
  • Gói tầm soát Ung thư đại tràng: 2.000.000 VNĐ
  • Gói tầm soát Ung thư dạ dày & đại tràng: 3.000.000 VNĐ

Đồng thời phòng khám dành tặng tất cả khách hàng “Phiếu khám bệnh trị giá 250.000 VNĐ”, phiếu có thể sử dụng được tất cả các dịch vụ tại phòng khám.

Các bạn quan tâm vui lòng liên hệ (08) 3925 9772 để đặt lịch hẹn và được hướng dẫn chi tiết.

Phòng khám chuyên khoa Á Châu (Gan – Nội tiêu hóa) đã đầu tư thiết bị máy móc hiện đại để đảm bảo bệnh nhân nội soi luôn an toàn và khâu tiệt trùng máy luôn được chú trọng, máy nội soi luôn được ngâm thuốc đủ thời gian và sấy khô để tiệt trùng sau mỗi ca nội soi. Mô hình phòng nội soi và giường nằm bệnh lưu trú trong ngày được đầu tư với chất lượng tương đương như phòng khám Singapore và thực hiện nội soi cũng do chính bác sĩ người Singapore phụ trách nhưng chi phí phù hợp với người Việt.

Phòng khám chuyên khoa Á Châu (Gan – Nội tiêu hóa)

Địa chỉ: 201 Nguyễn Thị Minh Khai, P. Nguyễn Cư Trinh, Q.1, TP.HCM.

Điện thoại: (08) 3925 9772 – Website: www.alc.vn

 

Bệnh viêm não mô cầu cần phát hiện sớm

Bộ Y tế vừa ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh truyền nhiễm não mô cầu thay cho cách điều trị theo kinh nghiệm trước đây. Tuy nhiên, theo các bác sĩ, để điều trị thành công, quan trọng nhất là phát hiện và dùng kháng sinh sớm.

Bệnh viêm não mô cầu cần phát hiện sớm
Bệnh não mô cầu với các ban xuất huyết điển hình. Ảnh: Cấp Nguyễn

Về chẩn đoán, hướng dẫn điều trị mà Bộ Y tế ban hành mới đây nêu rõ: nếu một bệnh nhân mà có các yếu tố dịch tễ như có tiếp xúc với bệnh nhân hoặc sống trong tập thể có người đã được xác định viêm não mô cầu, lại có các biểu hiện lâm sàng như sốt cao đột ngột, có thể có rét run, ho, đau họng, mệt mỏi, nhức đầu, rồi thêm các triệu chứng màng não – não như đau đầu dữ đội, buồn nôn, rối loạn ý thức, li bì, vật vã, kích thích… thì cần nghĩ đến nguy cơ viêm não mô cầu.

Theo một bác sĩ có kinh nghiệm điều trị bệnh viêm não mô cầu tại bệnh viện Bệnh nhiệt đới TƯ, việc chẩn đoán xác định sớm, điều trị kháng sinh sớm rất quan trọng. Bởi với những trường hợp viêm não mô cầu thể tối cấp sẽ khiến bệnh nhân nhanh chóng bị nhiễm trùng nhiễm độc nặng, rơi vào tình trạng sốc, suy đa thể tạng và có thể tử vong nhanh trong vòng 24h.

Về nguyên tắc điều trị, Bộ Y tế nêu rõ là cần sử dụng kháng sinh sớm (chọn và liều lượng các loại thuốc kháng sinh cụ thể như PenicillinG, Ampicillin, hoặc Cefotaxin, Ciprofloxacin…), hồi sức tích cực và cách ly người bệnh.

Bác sĩ trên cho rằng hướng dẫn cụ thể về loại thuốc và liều lượng cho cả bệnh nhi và người lớn sẽ rất hữu ích cho bác sĩ tuyến dưới điều trị đúng phác đồ, giảm nguy cơ tử vong. Bởi trước khi có hướng dẫn, phác đồ điều trị chuẩn mà Bộ Y tế ban hành, các ca bệnh gặp rải rác vẫn được bác sĩ phát hiện dựa trên những dấu hiệu được mô tả trên lý thuyết và bệnh học và điều trị theo kinh nghiệm thực tế. Còn khi đã có dấu hiệu ban xuất huyết điển hình và các dấu hiệu viêm não… thì đã chậm.

Tuy nhiên, bác sĩ này một lần nữa khẳng định, với các ca não mô cầu bình thường, thì điều trị kháng sinh rất hiệu quả. Nhưng với thể tối cấp, việc phát hiện, điều trị vô cùng khó khăn vì bệnh diễn tiến cực nhanh, khởi bệnh sốt cao đột ngột và có thể dẫn đến sốc, tử vong chỉ ngay trong ngày đầu biểu hiện bệnh.

Về phòng bệnh, Bộ Y tế cũng hướng dẫn người dân phòng bệnh trong cộng đồng bằng cách thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, súc miệng, họng bằng các dung dịch sát khuẩn mũi họng thông thường. Thực hiện tốt vệ sinh nơi ở, thông thoái nơi ở, nơi làm việc. Khi phát hiện có dấu hiệu nghi ngờ cần đến viện sớm. Còn tại bệnh viện, cần cách ly bệnh nhân, đeo khẩu trang khi tiếp xúc người bệnh… và với những người tiếp xúc trực tiếp cần dùng thuốc dự phòng. Các loại thuốc dự phòng, liều lượng cũng được hướng dẫn chi tiết để tạo điều kiện thuận lợi cho tuyến cơ sở trong việc phát hiện, điều trị dự phòng cho những người tiếp xúc bệnh nhân.

Tuy nhiên, với căn bệnh này, để phòng đặc hiệu nhất là tiêm phòng vắc-xin. Người dân nên đi tiêm vắc-xin phòng bệnh não mô cầu nhóm A,B và C. Vắc xin này có thể tiêm cho trẻ từ 2 tuổi trở lên, tiêm 1 liều duy nhất, nhắc lại 3 năm một lần.

(Theo Dantri)

Hiểu và vượt qua chứng trầm cảm sau sinh

(Webtretho) Những ngày sau khi sinh em bé, các bà mẹ bỗng trở nên vui, buồn bất chợt, dễ rơi nước mắt, tủi thân, hay lo âu, chán ăn, khó ngủ… đó chính là những biểu hiện của chứng trầm cảm sau sinh. 

Hiểu về trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh là bệnh mô tả một loạt những biểu hiện suy giảm về tinh thần lẫn thể chất, xảy ra với một số sản phụ trong thời kỳ hậu sản. Triệu chứng có thể xuất hiện vài ngày hoặc thậm chí vài tuần sau sinh, có thể xảy ra sau bất cứ lần sinh nào, không chỉ có ở đứa con đầu, có thể tự bớt trong một khoảng thời gian ngắn hoặc cũng có thể kéo dài.

Nếu sau khi sinh bé, mẹ cảm thấy suy sụp và bắt đầu có những ý nghĩ tiêu cực về bản thân và con, rất có thể mẹ đang ở trong tình trạng trầm cảm sau sinh. Ảnh: Inmagine.

Trầm cảm sau sinh có thể ở mức độ nhẹ qua những biểu hiện như tâm trạng đau buồn, suy sụp sau sinh, đánh giá thấp bản thân. Một số trường hợp biểu hiện ở mức độ nguy hiểm như có ý tưởng muốn tự sát hoặc những hành động làm chết chính con mình. Trầm cảm sau sinh dễ làm người phụ nữ mất khả năng chăm sóc trẻ an toàn, và nếu không điều trị, các triệu chứng có thể ngày càng xấu hơn và kéo dài thậm chí cả năm. Những bé có mẹ bị trầm cảm thường có nguy cơ phát triển không tốt về sức khỏe cũng như tâm lý về sau. 

Có vài yếu tố kết hợp làm tăng bệnh suất như: sinh con ở tuổi thành niên (dưới 20 tuổi), bà mẹ đơn thân hoặc sinh con ngoài ý muốn, mẹ hút thuốc lá hoặc có sử dụng thuốc gây nghiện trong thai kỳ. Trầm cảm sau sinh còn thường xuất hiện ở những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn về tài chính, thất nghiệp, không hài lòng với công việc, cô độc, không được giúp đỡ, có mối quan hệ không tốt với cha đứa trẻ hoặc người thân, hoặc gặp phải biến cố tâm lý lớn trong thời gian mang thai (như mất người thân)…

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy những yếu tố nguy cơ về tiền sử sản khoa đã đóng vai trò đáng kể trong việc hình thành những rối loạn trên như: tiền căn khi có thai, sẩy thai, tình trạng phát triển của một thai kỳ khó khăn từ các bệnh lý của mẹ và từ sự phát triển không bình thường của thai nhi như thai dị tật, thai suy dinh dưỡng, sanh con nhẹ cân.

Các triệu chứng điển hình của trầm cảm sau sinh

Triệu chứng của trầm cảm sau sinh cũng tương tự với triệu chứng của bệnh trầm cảm (rối loạn trầm cảm) gặp phải ở những thời điểm khác trong cuộc sống:

  • Khí sắc trầm cảm: Người bệnh hay than phiền rằng mình cảm thấy buồn, chán nản, trống rỗng, vô vọng hoặc “không còn tha thiết điều gì nữa”.
  • Mất hứng thú với bất kỳ hình thức hoạt động nào mà trước đó họ rất thích như hoạt động tình dục, sở thích các công việc hàng ngày.
  • Ăn mất ngon: khoảng 70% có triệu chứng này và kèm theo sụt cân.
  • Rối loạn giấc ngủ: khoảng 80% bệnh nhân than phiền có một loại rối loạn nào đó của giấc ngủ.
  • Rối loạn tâm thần vận động: khoảng 50% bệnh nhân trở nên chậm chạp, trì trệ.
  • Mất sinh lực: hầu hết biểu hiện mệt mỏi mặc dù không làm gì nhiều, đa số bệnh nhân mô tả cảm giác cạn kiệt sức lực.

    Ngoài chán nản, cảm giác kiệt quệ dai dẳng là dấu hiệu thường gặp của chứng trầm cảm. Ảnh: Inmagine.

  • Mặc cảm, tự ti, thấy mình vô dụng và có lỗi: đánh giá thấp bản thân, thường tự trách mình và khuếch đại các lỗi lầm nhỏ nhặt của mình. Nặng hơn có thể đi đến hoang tưởng thậm chí có cả ảo giác.
  • Thiếu quyết đoán và giảm tập trung: 50% bệnh nhân than phiền suy nghĩ của mình quá chậm, tập trung kém và rất đãng trí. Ứng xử trở nên lúng túng do họ không thể đưa ra các quyết định.
  • Ý tưởng tự sát: nghĩ về cái chết, 1% bệnh nhân trầm cảm tự sát trong vòng 12 tháng kể từ khi phát bệnh; với các trường hợp tái diễn, 15% chết do tự sát.
  • Lo âu: căng thẳng nội tâm, lo sợ, đánh trống ngực, mạch nhanh, cồn cào bao tử. Các triệu chứng lo âu và trầm cảm đi kèm và đôi khi rất khó phân biệt.
  • Triệu chứng cơ thể: đau đầu, đau lưng, chuột rút, buồn nôn, táo bón, thở nhanh, thở sâu, đau ngực. Thường các triệu chứng này làm bệnh nhân trầm cảm đến với các cơ sở khám bệnh đa khoa thay vì tâm thần.
  • Các triệu chứng thường gặp như bồn chồn, khó chịu và dễ kích động, khó ngủ, mệt mỏi và những than phiền về cơ thể. Cảm xúc không ưa trẻ hay nghi ngờ trẻ cũng là những triệu chứng thường gặp và là triệu chứng phổ biến ở những phụ nữ bị trầm cảm.

Một bà mẹ bị trầm cảm sau sinh cũng có thể có các triệu chứng và biểu hiện sau sau:

  • Không thể tự chăm sóc cho bản thân và chăm sóc cho em bé.
  • Sợ hãi khi ở một mình cùng con.
  • Có những cảm xúc và ý nghĩa tiêu cực về con, thậm chí có suy nghĩ đến việc làm tổn hại chính con mình. Tuy những xúc cảm này là đáng sợ nhưng hầu hết họ sẽ không thực hiện. Gia đình cần phát hiện sớm để người mẹ được điều trị tâm lý kịp thời.
  • Lo lắng quá nhiều về bé hoặc tỏ ra không đoái hoài gì đến bé.

Chẩn đoán và điều trị

Các lời khuyên hữu ích cho bà mẹ trầm cảm sau sinh:

  • Yêu cầu bạn đời, người thân và bạn bè giúp chăm sóc bé và làm việc nhà.
  • Đừng che giấu cảm xúc với những người thân yêu nhất.
  • Không thực hiện những thay đổi lớn trong thời gian mang thai và ngay sau sinh (như chuyển việc, chuyển nhà… )
  • Đừng cố làm quá nhiều và quá cầu toàn.
  • Dành thời gian riêng tư với bạn đời hoặc đi thăm người thân.
  • Nghỉ ngơi bất kỳ lúc nào có thể và hãy cố ngủ khi em bé ngủ.

Trầm cảm sau sinh có thể điều trị bằng thuốc và qua sự giúp đỡ, hướng dẫn, tư vấn về tâm lý từ thầy thuốc và những người thân. Nhiều bà mẹ thường biểu hiện những triệu chứng trầm cảm kéo dài nhiều tháng trước khi bắt đầu điều trị. Mặc dù những triệu chứng trầm cảm có thể tự khỏi, nhưng nhiều bà mẹ vẫn còn trầm cảm đến một năm sau khi sinh con.

Trầm cảm sau sinh không thể được chẩn đoán chỉ qua một xét nghiệm đơn giản, hơn nữa bệnh còn có các triệu chứng tương đồng với một số bệnh khác, do vậy, bệnh nhân cần được xét nghiệm để loại trừ các bệnh trước khi có thể chẩn đoán mắc trầm cảm. Cùng vì thế, trầm cảm sau sinh thường được chẩn đoán ở cơ sở y tế thông thường chứ không phải là trong một phòng khám chuyên khoa tâm thần. Bên cạnh việc đánh giá các biểu hiện đặc trưng của trầm cảm, bác sĩ cũng có thể cho bệnh nhân trả lời một bảng hỏi để kiểm tra về xúc cảm, suy nghĩ và tâm lý.

Nếu được chẩn đoán trầm cảm, bạn sẽ được theo dõi ít nhất 6 tháng. Với các bà mẹ đang nuôi con bằng sữa mẹ, bác sĩ sẽ lưu ý để kê đơn thuốc trầm cảm đặc biệt có thể áp dụng cho bà mẹ đang cho con bú. Y bác sĩ nơi bạn thăm khám cũng có thể cho bạn lời khuyên khi nào nên đi khám tâm thần và còn có thể giới thiệu địa chỉ khám phù hợp cho bạn. 

Để khỏi hoàn toàn rối loạn tính khí, bất chấp có yếu tố thúc đẩy, việc điều trị bằng thuốc và/ hoặc liệu pháp choáng điện và liệu pháp tâm lý là cần thiết.

Phát hiện lao phổi qua hơi thở

Các nhà nghiên cứu Ấn Độ cho biết họ đã tiến gần hơn đến việc chế tạo một chiếc mũi điện tử có thể phát hiện bệnh lao phổi qua hơi thở, cung cấp sự chẩn đoán nhanh chóng giúp bảo vệ hàng ngàn sinh mạng.

Ảnh: AFP

Theo hãng tin AFP, E-Nose là sản phẩm cầm tay vận hành bằng pin, tương tự thiết bị thử nồng độ rượu qua hơi thở mà cảnh sát hay dùng để “bắt giò” tài xế say xỉn.

Một bệnh nhân thổi vào thiết bị và các cảm biến ghi nhận các dấu hiệu bệnh lao trong những “giọt” hơi thở, dẫn đến việc phát hiện bệnh ngay lập tức với độ chính xác cao.

E-Nose là dự án hợp tác giữa Trung tâm kỹ thuật di truyền và Công nghệ sinh học quốc tế ở New Delhi (Ấn Độ) và Công ty Next Dimension Technologies ở bang Californina (Mỹ).

“Chúng tôi hy vọng có một nguyên mẫu sẵn sàng cho thử nghiệm lâm sàng vào tháng 10.2013”, ông Ranjan Nanda, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết.

Bệnh lao phổi cướp đi sinh mạng của gần 1,7 triệu người trên thế giới mỗi năm, và các nhà nghiên cứu ước tính E-Nose có thể bảo vệ khoảng 400.000 sinh mạng mỗi năm ở các nước đang phát triển thông qua chẩn đoán sớm, chữa trị và giảm truyền bệnh.

Bệnh lao phổi hiện được phát hiện thông qua các cuộc thử nghiệm đờm dãi vốn tốn kém và mất nhiều ngày.

Dự án nhận được khoản tài trợ 950.000 USD của Quỹ Bill & Melinda Gates và Grand Challenges Canada, một tổ chức phi chính phủ hỗ trợ các vấn đề y tế tại các nước đang phát triển.

“Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có thể sử dụng công nghệ này để phát hiện sớm các bệnh khác như ung thư phổi và viêm phổi”, ông Nanda nhấn mạnh.

Mỗi E-Nose sẽ có giá khoảng 20-30 USD và với kích cỡ nhỏ gọn, vận hành bằng pin, thiết bị này sẽ rất hữu dụng ở những khu vực nông thôn tại các nước đang phát triển vốn thường thiếu hoặc không có điện sinh hoạt.

“Mục tiêu của chúng tôi là làm cho sản phẩm E-Nose trở nên sẵn dùng ở những vùng sâu, vùng xa, nghèo khổ, nơi bệnh lao phát sinh và lây lan, tàn phá cuộc sống của nhiều người”, ông Nanda nói.

Bệnh lao là bệnh truyền nhiễm lây lan qua không khí. Nếu không được chữa trị, mỗi người bị lao đang tiến triển có thể lây nhiễm bình quân 10-15 người mỗi năm, theo Tổ chức Y tế Thế giới.

Meo.vn (Theo TNO)

Bó bột chân – Cách chăm sóc tại nhà

Bó bột chân được chỉ định trong các trường hợp bệnh nhân bị gãy xương, sai khớp,… với mục đích bất động phần bị tổn thương, giúp đẩy nhanh quá trình liền xương, là một trong những phương pháp điều trị gãy xương bên cạnh điều trị phẫu thuật. Sau bó bột chân, phần lớn bệnh nhân được theo dõi và chăm sóc tại nhà theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị. Ðể chăm sóc tốt bệnh nhân và người nhà cần chú ý như sau:

Sau khi bệnh nhân xuất viện người nhà cần chuẩn bị giường, các vật dụng cần thiết như đệm lót, gối,…

– Người bệnh cần nằm trên giường có mặt phẳng cứng, người bệnh kê cao chân bó bột, khi bột chưa khô không được che phủ làm bột lâu cứng.

– Cử động thường xuyên các ngón của chân bó bột. Nếu cần di chuyển phải dùng nạng gỗ và sự giúp đỡ của người nhà để tránh bị ngã.

– Chăm sóc, vệ sinh da sạch sẽ hàng ngày, lau sạch các đầu ngón chân. Thay quần áo thường xuyên. Thay đổi tư thế tránh loét điểm tỳ.

– Không làm ướt, bẩn bột, không dùng que chọc vào trong bột,…

Bó bột là một phương pháp điều trị gãy xương. Ảnh: MH

– Do tình trạng bất động bột kéo dài nên bệnh nhân có tình trạng loãng xương cục bộ dẫn đến triệu chứng đau, nhức mỏi. Vì vậy, cần có chế độ dinh dưỡng đầy đủ và bổ sung canxi, kể cả sau khi tháo bột để nâng cao thể trạng, đề phòng loãng xương và cải thiện nhanh các triệu chứng đau nhức mỏi. Chống táo bón bằng cách ăn thêm rau, hoa quả, uống nhiều nước.

– Không được tự ý cắt bột, tháo bột, phải giữ bột đủ thời gian theo quy định.

– Đến cơ sở y tế khám lại theo đúng lịch hẹn của bác sĩ.

Theo dõi nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu để đến cơ sở y tế xử trí kịp thời:

– Bột: chặt, lỏng, gãy

– Có tình trạng chèn ép bột,dị ứng bột: biểu hiện chân băng bột đau nhức, tê bì, tím lạnh, mất cảm giác, nốt phỏng, ngứa,…

– Nếu có vết thương thấm dịch mùi hôi,…

Bác sĩ Trọng Nghĩa

Meo.vn (Theo SK&ĐS)

Không có văcxin ngừa bệnh, viêm gan C bùng phát

5% dân số Việt Nam, tương đương gần 4,5 triệu người đang bị bệnh viêm gan siêu vi C, tăng 3% so với 8 năm trước.

Dự báo năm 2011, khoảng 500.000 bệnh nhân viêm gan C bị biến chứng sang xơ gan và ung thư gan.

Xét nghiệm máu là một trong những cách đơn giản có thể phát hiện viêm gan C

Thông tin được các chuyên gia cảnh báo tại hội thảo khoa học về bệnh viêm gan siêu vi C vừa tổ chức tại TPHCM. Giáo sư Phạm Hoàng Phiệt – Chủ tịch Hội Gan Mật TPHCM cho biết, nếu năm 2004 tần suất nhiễm bệnh ở Việt Nam là 2% ở những người trên 20 tuổi, thì nay đã tương đương 5%.

Các thống kê chuyên khoa cho thấy, trong vòng 10 năm qua, số lượng bệnh nhân bị xơ gan do viêm gan C tăng hơn 4 lần. Dự báo đến năm 2011 có khoảng 500.000 bệnh nhân mạn tính không đáp ứng với điều trị của thuốc gây nên biến chứng xơ gan và ung thư gan.

Nguyên nhân dẫn đến bệnh ngày càng tăng, theo giáo sư Phiệt ngoài việc chưa có văcxin tiêm phòng, một phần còn do người bệnh chưa nhận biết tác hại về bệnh nên chưa có ý thức khám chủ động, một số bệnh nhân không theo điều trị đến hết phác đồ.

Theo các số liệu thống kê, hiện nay trên toàn thế giới ước tính có 200 triệu người nhiễm siêu vi viêm gan C (3% dân số), mỗi năm có 3-4 triệu ca nhiễm mới. Khoảng 50-90% trường hợp khởi bệnh cấp tính không có triệu chứng và 50-90% trường hợp đó sẽ chuyển sang viêm gan siêu vi C mạn tính.

Tùy thuộc các yếu tố nguy cơ đi kèm, tỷ lệ bệnh nhân bị viêm gan siêu vi C mạn tính chuyển sang xơ gan dao động từ 10 đến 40%, chuyển sang ung thư là 1-5% mỗi năm. Số tử vong hằng năm do xơ gan sau viêm gan siêu vi mạn khoảng 4%.

BV Bệnh nhiệt đới TPHCM thường xuyên tiếp nhận điều trị các bệnh nhân bị viêm gan siêu vi B và C, các bệnh nhân xơ gan sau viêm gan. Hầu hết bệnh nhân đều nhập viện muộn và không có kiến thức về việc phòng bệnh.

BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu, giám đốc bệnh viện cho biết, hằng tháng trung bình khoảng 2.400 lượt bệnh nhân đến khám, điều trị bệnh viêm gan siêu vi C mạn tính, 90 trường hợp nhập viện vì bệnh đã diễn tiến đến giai đoạn xơ gan nặng. Trong số đó, phần lớn bệnh nhân mắc bệnh nặng mới hay mình bị viêm gan.

Theo ông Châu, đây là lý do khiến việc điều trị trở nên khó khăn và tốn kém. Nhiều người thậm chí phải phá sản vì bệnh mà vẫn không giữ được tính mạng. Bệnh lây chủ yếu qua đường máu. Do đó việc phát hiện sớm để điều trị viêm gan siêu vi C là cần thiết để đẩy lùi căn bệnh, phòng ngừa diễn tiến xơ gan, ung thư gan.

Siêu vi viêm gan C là loại virus có khuynh hướng xâm nhập tế bào gan, gây ra bệnh viêm gan. Bệnh viêm gan siêu vi C mới được phát hiện từ năm 1989, xét nghiệm chẩn đoán bệnh chỉ có thể làm được trong những năm gần đây.

Siêu vi viêm gan C lưu hành trong máu, do đó bệnh viêm gan C lây truyền chủ yếu qua đường máu. Những đường lây nhiễm siêu vi C chủ yếu là người nhận máu hoặc chế phẩm máu nhiễm siêu vi C.

Mặc dù các biện pháp lựa chọn người cho máu đang được áp dụng, siêu vi C vẫn có thể lọt lưới và được truyền sang người nhận. Dùng chung kim tiêm nhiễm siêu vi C; quan hệ tình dục; mẹ truyền sang con; là những con đường lây nhiễm viêm gan C.

Các nguyên nhân khác như xăm mình, xỏ lỗ tai với vật dụng không tẩy trùng tốt có thể lây truyền siêu vi C. Ngoài ra, có đến 30-40% trường hợp không rõ đường lây nhiễm.

Meo.vn (Theo VnExpress)

Bất thường ‘của quý’ của bé trai: Chậm chữa là nguy

Phát hiện chậm hoặc không có biện pháp điều trị kịp thời bất thường ‘của quý’ sẽ ảnh hưởng đến ‘khả năng đàn ông’ của bé trai khi trưởng thành.

Vùi dương vật, hẹp bao quy đầu, tinh hoàn ẩn là những bệnh lý thường gặp ở bé trai. Tuy nhiên, không phải bậc cha mẹ nào cũng có hiểu biết đúng đắn để nhờ đến sự can thiệp sớm của thầy thuốc.

1.    Vùi dương vật

Vùi dương vật là dị dạng bẩm sinh của bộ phận sinh dục ngoài. Trong dị vật này, thân dương vật và quy đầu bị vùi trong lớp da quy đầu liên tục với bìu và/hoặc thành bụng, nên không nhô lên khỏi lớp da trước xương mu, gây khó khăn khi tiểu tiện. Nếu không được điều trị, dị tật này sẽ gây ra những ảnh hưởng về tiết niệu như nhiễm trùng tiểu tái phát, viêm quy đầu xơ và tắc.

Ngay sau khi chào đời, nếu được bác sĩ nhi khoa có kinh nghiệm thăm khám, sẽ phát hiện được ngay bất thường của dương vật với đặc trưng là ống dương vật rất ngắn hay không có. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp được phát hiện rất muộn, có lẽ do lầm lẫn với biểu hiện của hẹp bao quy đầu và do thiếu sự quan tâm của cha mẹ.

Khi phát hiện ‘của quý’ của bé có dấu hiệu bất thường, cha mẹ nên đưa bé đi khám ngay. (Ảnh minh họa).

Vì vậy, nếu không thấy dương vật hoặc ấn ngón tay vào gốc dương vật để kéo da dương vật và bao quy đầu thì thấy thân dương vật bình thường, nhưng khi buông tay lại thấy dương vật ‘biến mất’ vào ngấn da thì cha mẹ nên đưa ngay bé đến bác sĩ chuyên khoa để thăm khám và có biện pháp điều trị hoặc phẫu thuật kịp thời.

2.    Hẹp bao quy đầu

Chít hẹp bao qui đầu là tình trạng vòng bao qui đầu bị hẹp ở các mức độ khác nhau nên không thể lộn được bao qui đầu. Đa số chít hẹp bao qui đầu là do bẩm sinh. Trẻ có dấu hiệu tiểu khó và phải rặn mạnh, tia nước tiểu nhỏ trong khi bao qui đầu chứa đầy nước tiểu căng phồng lên, vuốt nhẹ da bao qui đầu ra phía sau không nhìn thấy lỗ đái.

Thường khi bé vài ba tháng tuổi thì chưa cần quan tâm nhiều đến vấn đề này nhưng bé từ 5 – 6 tháng tuổi trở lên, bố mẹ cần lưu ý. Bạn có thể phát hiện bằng cách vạch da quy đầu của bé xem lỗ có hẹp không hoặc quan sát lúc đi tiểu xem tia nước ra sao (nếu tia nước nhỏ như cái kim, bé khó tiểu, thậm chí da phần quy đầu phồng lên do nước và chất cặn bã tích lại thì chắc chắn bé bị bệnh này).

Hẹp bao quy đầu nếu không được xử lý sớm sẽ khiến bé đi tiểu khó, thậm chí thấy đau, khóc, nước tiểu ra không hết cộng với chất cặn đọng lại bên trong lâu dần thành những cục to, gây viêm nhiễm.

Cách khắc phục nếu bị bệnh: Khi bé 5 – 6 tháng tuổi, mỗi lần tắm cho con, bố mẹ có thể dùng tay nhẹ nhàng kéo lộn phần da quy đầu xuống, cứ thế mỗi lần một chút có thể khiến bao quy đầu rộng dần và trở về bình thường. Tuy nhiên, nếu sau một thời gian mà tình hình không cải thiện hoặc do lỗ quá hẹp thì phụ huynh nên đưa con đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn.

3.    Tinh hoàn ẩn

Tinh hoàn là nơi sản xuất chất nội tiết sinh dục và tinh trùng cho bé trai. Trước khi đứa bé ra đời, tinh hoàn di chuyển từ trong ổ bụng xuyên qua thành bụng ở vùng bẹn vào vị trí bình thường là bìu. Nếu sự di chuyển này gặp “sự cố”, tinh hoàn sẽ nằm đâu đó trên đường đi của nó.

Đây là bệnh dễ phát hiện, vì chỉ cần sờ bìu của trẻ là có thể biết. Tuy nhiên, nhiều cha mẹ dù biết bệnh của con phải mổ nhưng cũng không đưa đến viện sớm. Lý do là vì sợ trẻ còn nhỏ, động dao kéo vào thì không tốt nên cố đợi con lớn mới đến viện.

Thực tế, ở những trẻ có tinh hoàn ẩn, trước 1 tuổi, tinh hoàn có thể tự di chuyển dần xuống bìu. Nhưng sau 1 tuổi, khả năng này là rất thấp. Vì thế các bác sĩ thường khuyên cha mẹ đưa trẻ đi mổ lúc 15-18 tháng tuổi.

Bé bị tinh hoàn ẩn không quá nguy hiểm, điều quan trọng là phải phát hiện sớm và mổ kịp thời để tránh những biến chứng như teo nhỏ hoặc xoắn tinh hoàn.

Meo.vn (Theo Eva)

Những dấu hiệu cảnh báo trẻ bị viêm phổi

Khi trẻ em bị viêm phổi nếu được phát hiện sớm thì hầu như không có trường hợp tử vong xảy ra. Nhưng nếu phát hiện muộn khi bệnh đã nặng thì tỉ lệ tử vong gần như là 100% , nhất là lứa tuổi sơ sinh và trong 2 năm đầu.

Vậy những dấu hiệu nào được cho những dấu hiệu nặng và bắt buộc phải đưa trẻ đến cơ sở y tế? Theo các bác sĩ trẻ bị viêm phổi nặng thường có các dấu hiệu sau:

– Trẻ sốt rất cao và dai dẳng. Sốt cao thường là do virus và vi khuẩn gây ra. Sốt cao sẽ gây ra co giật, mệt mỏi, mất nước, trẻ quấy khóc, bỏ bú, ngủ không sâu. Sốt cao chính là nguyên nhân góp phần làm nặng thêm các rối loạn của bệnh. Khi đang điều trị thuốc mà liên tục từ 3 ngày trở lên trẻ có biểu hiện sốt cao trên 39 độ C thì nên đưa ngay đến bệnh viện để kiểm tra.


– Thở nhanh. Quan sát nhịp thở của bé bằng cử động của lồng ngực. Bạn có thể đặt tay lên lồng ngực của trẻ để đếm từng nhịp thở. Nếu tần số thở trong 1 phút là trên 60 lần/phút với trẻ sơ sinh thì hãy coi chừng, đó là dấu hiệu bệnh đang tiến triển nặng và rất nặng. Không chần chừ, đưa trẻ đến gặp bác sĩ ngay.

– Tím tái. Tím tái là biểu hiện cơ thể bé từ mặt, chân, tay cho đến thân mình đều có biểu hiện da nhợt nhạt và tím lại thì đó là dấu hiệu của rối loạn hô hấp. Viêm phổi lúc này đã xảy ra khá nặng, cần đưa bé đi cấp cứu càng sớm, càng tốt.

– Bé không mở mắt phản ứng với mẹ hay không có cảm giác tiếp xúc với mẹ. Như thế là bé đang quá mệt hoặc là bé đang rơi vào trạng thái thần kinh u ám. Không có lí do gì giữ bé ở nhà trong trường hợp này.

– Các biểu hiện của bệnh diễn ra nhanh, cấp tập, trầm trọng và chỉ trong một thời gian ngắn khoảng 1-2 ngày.

Meo.vn (Theo Laodong)

Xem màu lưỡi, biết sức khoẻ

Bạn có biết, “xem màu lưỡi – biết sức khoẻ” không? Các bác sĩ răng-hàm-mặt Anh đã mô tả chi tiết những bệnh gì bạn đangcó vấn đề mà bạn có thể phát hiện sớm nếu bạn cẩn thận quan sát chiếc lưỡi của mình.

Chiếc lưỡi có thể báo cho bạn biết về tình trạng sức khỏe của mình.

Bạn muốn biết tình trạng sức khoẻ của mình? Rất đơn giản. Chỉ việc soi gương, thè lưỡi ra và cẩn thận nhìn vào chiếc lưỡi của mình xem màu sắc và bề ngoài của nó.

Nếu lưỡi của bạn có màu hồng nhạt, bạn có thể yên tâm- sức khoẻ của bạn hoàn toàn ổn. Nếu nó có màu trắng, bạn có vấn đề ở hệ tiêu hoá. Nó cho biết bạn dinh dưỡng kém, thiếu vitamin, đang có một bệnh mạn tính nào đó, có thể cả thiếu máu nữa.

Nếu lưỡi của bạn có ánh vàng, bạn bị bệnh đường ruột. Màu tím hoặc xanh da trời, nó thể hiện có vấn đề ở phổi và tim. Màu xanh đậm một chút nói lên bệnh ở thận. Còn khi lưỡi bị phủ màu trắng thì cơ thể bạn ở tình trạng mất nước, bị nhiễm trùng do nấm, cũng như bị cúm và cảm lạnh.

Không chỉ màu sắc mà những nét ngoại hình của lưỡi cũng liên quan bệnh tật. Nếu bạn nhìn thấy ở phần giưa lưỡi những vach tựa như nếp gấp thì bạn hãy đến bác sĩ kiểm tra lại xuơng sống của mình, thấy lưỡi có vẻ sần sùi, không trơn nhẵn thì các bộ phận bạn thường rất ít quan tâm là mật đang có một cái gì đó trục trặc. Tình trạng thiếu vitamin làm lưỡi dường như sưng lên và đỏ lên.

Một vài vùng trên lưỡi tương ứng với hoạt động chức năng của các cơ quan nội tạng. Những chỉ số đánh giá chức năng của tim và gan (do các nhân viên xét nghiệm cung cấp cho ban) liên quan đến phần chót đầu của lưỡi, chức năng của ruột già và dạ dày tương ứng với phần giữa của lưỡi, còn chức năng của gan và thận  thể hiện ở hai bên cạnh lưỡi.

Lưỡi là một quyển “Tự điển bách khoa” về sức khoẻ của chúng ta. Bạn hãy lưu ý đến nó, không coi thường những dấu hiệu, chỉ điểm tình trạng sức khoẻ đáng tin cậy của nó, để bạn có thể giúp đỡ kịp thời cho cơ thể của bạn.

Meo.vn (Theo Vietnamnet)

Chớ xem thường tiền đái tháo đường

Điều cần báo động hiện nay là đang có khoảng 27% dân số trưởng thành (từ 30 đến 69 tuổi) tại TP.HCM và cũng là tỷ lệ trên cả nước, đang ở dạng tiền đái tháo đường (TĐTĐ).


Thường xuyên tầm soát TĐTĐ

Theo BS CKII Đỗ Thị Ngọc Diệp, Giám đốc Trung tâm dinh dưỡng (TTDD) TP.HCM, đây là con số quá lớn tại TP.HCM cũng như cả nước. Vì thế, nếu không có những biện pháp khống chế các yếu tố nguy cơ thì trong vài năm tới, số người TĐTĐ sẽ trở thành người bệnh ĐTĐ và kéo theo nhiều hệ lụy cho xã hội.

Nhiều nguy cơ với người mắc TĐTĐ

Theo BS Diệp, TĐTĐ là giai đoạn sớm của bệnh ĐTĐ, với mức đường huyết cao hơn mức bình thường (90 -110mg) nhưng chưa đến mức được chẩn đoán là ĐTĐ (từ 126 mg). Tức người trong dạng TĐTĐ có mức đường huyết trong khoảng từ 111-125 mg.

Tất cả mọi người đều có thể mắc TĐTĐ. Tuy nhiên, với những người có các yếu tố sau sẽ có nhiều nguy cơ cao đang ở giai đoạn TĐTĐ, cụ thể trong gia đình có người thân (ruột thịt) đã mắc bệnh ĐTĐ, những người trên 45 tuổi, những người thừa cân béo phì, người ít vận động, người mắc bệnh tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, phụ nữ sanh con trên 4 kg.

Những người TĐTĐ nếu không được phát hiện sớm sẽ tiến triển thành bệnh ĐTĐ, dẫn đến việc điều trị rất tốn kém và có nguy cơ gây nhiều biến chứng nặng nề như: những biến chứng ở mắt (mù lòa), suy thận, suy gan, tai biến mạch máu não, thiếu máu cơ tim, tăng huyết áp, tê bì chân tay, các biến chứng thần kinh, vết thương lâu lành…

Do đó, những người trong dạng có nguy cơ cao với TĐTĐ cần xét nghiệm máu định kỳ để phát hiện sớm TĐTĐ, và nếu đo thấy chỉ số đường huyết nằm trong khoảng từ 111- 125 mg, hãy đến ngay các cơ sở y tế để được tư vấn về lối sống cũng như về dinh dưỡng,

Có thể phòng chống TĐTĐ

Người ở dạng TĐTĐ cần phải có sự rất kiên nhẫn cùng một quyết tâm thay đổi lối sống cách bền bỉ thì mới giúp cuộc sống quay trở lại bình thường.
Để thay đổi lối sống người TĐTĐ cần có 3 yếu tố sau, vận động thường xuyên, dinh dưỡng hợp lý và sống điều độ.

Trong đó, các môn thể dục thể thao phù hợp và rất hữu ích cho việc tập luyện, vận động thân thể thường xuyên là đi bộ, chạy bộ, đạp xe, làm vườn, bơi lội, cầu lông, tuy nhiên chú ý việc tập luyện vận động cần phù hợp với sức khỏe của từng cá nhân. Đối với việc điều độ trong lối sống, người TĐTĐ cần tránh rượu bia, tránh các căng thẳng, sống lạc quan yêu đời.

Dinh dưỡng hợp lý đặc biệt quan trọng

Vấn đề dinh dưỡng hợp lý đặc biệt quan trọng, cơ bản là dinh dưỡng giống như người ĐTĐ, nhưng với chế độ ăn thích hợp với từng cá thể như năng lượng cho người già khác với người trẻ.

Người TĐTĐ cần chú ý hạn chế dùng muối (dưới 6gram/ngày), đường (dưới 10gram/ngày), không uống nước ngọt, nước có gas, giảm chất béo động vật, tăng cường rau xanh, các loại đậu, trái cây

Meo.vn (Theo Infonet)