Lưu trữ cho từ khóa: chống viêm

Bài thuốc chữa bệnh từ hồng hoa

Hồng hoa là hoa khô của cây hồng hoa (Carthamus tinctorius L.) còn gọi cây rum. Hồng hoa có tác dụng làm hạ huyết áp và mỡ máu, tăng cường khả năng miễn dịch, chống viêm. Theo y học cổ truyền, hồng hoa vị cay, tính ôn; vào tâm can, có tác dụng hoạt huyết khứ ứ, thông kinh chỉ thống. Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh có dùng vị thuốc hồng hoa.

Hoạt huyết thông kinh

Bài 1: hồng hoa 12g, dùng rượu sắc, chia uống làm 3 lần. Trị đau bụng kinh.

Bài 2: hồng hoa 6g, xuyên khung 4g, đương quy 12g, hương phụ 12g, diên hồ sách 12g. Sắc uống hoặc ngâm rượu để uống. Uống trước khi thấy kinh. Trị đau bụng kinh.

bai-thuoc-chua-benh-tu-hong-hoa

Hồng hoa.

Bài 3: hồng hoa 4g, ích mẫu thảo 20g, sơn tra 20g. Thêm lượng đường đỏ vừa đủ. Sắc uống. Trị sau khi đẻ huyết hôi không ra hết.

Bài 4: hồng hoa 10g, xuyên khung 10g, ngưu tất 10g, ngâm với 500ml rượu trong 7 ngày. Uống sáng chiều, mỗi lần không quá 15ml trước bữa ăn 15 – 30 phút. Dùng cho các trường hợp đau đầu, đau mỏi toàn thân, đau tức ngực, đau quặn bụng, đau bụng kinh.

Bài 5: hồng hoa 4g, đương qui 12g, đan sâm 15g, tất cả sắc lấy nước bỏ bã; cho 100g gạo nếp vào nấu cháo. Khi cháo chín cho thuốc vào, nấu cho vừa mức ăn là được. Cho ăn khi đói. Dùng cho các trường hợp kinh nguyệt không đều do huyết hư huyết ứ.

Bài 6: hồng hoa 12g, hương phụ 18g, gạo nếp 60g. Dược liệu sắc lấy nước bỏ bã; gạo nấu cháo. Khi cháo chín cho thuốc vào, nấu cho vừa mức ăn là được. Mỗi ngày 1 lần, cho ăn khi đói. Cho uống trước kỳ kinh, do kinh nguyệt kéo dài sau kỳ, kinh ít, sẫm tím, có huyết khối, đau trướng tức vùng tiểu khung và đau tức vùng bụng ngực, liên sườn và hai vú.

Bài 7: hồng hoa 10g, gừng tươi 8g, đậu đen 50g. Hồng hoa, gừng gói trong vải xô, cùng nấu chín, vớt bỏ gói bã thuốc, cho thêm muối và chút gia vị thích hợp. Ngày 1 lần cho ăn, liên tục trong 10 ngày. Dùng cho bệnh nhân huyết hư thiếu máu.

Trừ ứ, trị chấn thương

Bài 1: hồng hoa 12g, đào nhân 12g, sài hồ 12g, đương quy 12g, đại hoàng 8g. Dùng rượu loãng sắc uống.

Bài 2: hồng hoa 250g, đào nhân 250g, quy vĩ 250g, chi tử 500g. Nghiền chung thành bột mịn; thêm một lượng bột mỳ quấy hồ với giấm, đắp lên vết thương.

Bài 3: hồng hoa 30g, rượu 500ml, ngâm trong 7 ngày. Mỗi lần uống 20 – 30ml. Ngày 2 – 3 lần.

Hoạt huyết, mọc sỏi

Đương quy 8g, hồng hoa 12g, tử thảo 12g, lá đại thanh 12g, liên kiều 12g, ngưu bàng tử 12g, hoàng liên 6g, cam thảo 4g, cát căn 12g. Sắc uống. Dùng khi nốt sởi khó mọc, nhọt độc sưng.

Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai và người kinh nguyệt nhiều quá không được dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Theo Suckhoedoisong.vn

Bệnh trĩ và Thuốc chữa bệnh trĩ AYURHOID

Bệnh trĩ Thuốc chữa bệnh trĩ AYURHOID
bệnh trĩ là bệnh do sự dãn quá mức các tĩnh mạch đưa đến tĩnh mạch trĩ bị sưng, phù ở vùng hậu môn – trực tràng. Có sự dãn quá mức là do thành tĩnh mạch bị suy yếu không còn bền chắc.
Nếu trĩ nằm dưới cơ thắt hậu môn gọi là bệnh trĩ ngoại, có thể thấy bằng mắt thường. Bệnh trĩ nội là búi trĩ định vị trên cơ thắt hậu môn, chỉ thấy khi soi hậu môn, tuy nhiên trĩ nội khi nặng gọi là sa búi trĩ có thể thò ra ngoài. Trĩ có thể làm cho ngứa, đau và có khi chảy máu. Nhưng có khi trĩ không gây triệu chứng hoặc chỉ gây cảm giác nặng nề ở hậu môn trực tràng. Khi có chảy máu là có khi đã có biến chứng, ở tình trạng nặng.
– Nguyên nhân dẫn đến bệnh trĩ
Khi thành tĩnh mạch bị suy yếu nếu thêm những yếu tố thuận lợi được kể ra sau đây sẽ làm phát triển bệnh trĩ:
1. Viêm đại tràng mạn tính, táo bón kinh niên gây rặn mạnh khi đại tiện.
2. Tăng áp lực xoang bụng do lao động nặng, do ho (vì bệnh viêm phế quản mạn, dãn phế quản).
3. Sinh hoạt tĩnh tại với tư thế đứng lâu hoặc ngồi nhiều suốt ngày (như người làm nghề thợ may, thư ký đánh máy).
4. Phụ nữ mang thai với tử cung lớn dần chèn ép các tĩnh mạch trĩ gây ứ đọng máu trong tĩnh mạch.
Những người thường xuyên có các tình trạng kể trên lại thêm bị suy yếu tĩnh mạch rất dễ bị bệnh trĩ.
Ta nên lưu ý có một biến chứng thường thấy ở bệnh trĩ là chảy máu ngoài, sưng, ngứa, đau hậu môn. Nhưng chảy máu khi đi cầu có thể là triệu chứng của nhiều bệnh ở đại tràng, trực tràng, thậm chí có bệnh nguy hiểm như ung thư trực tràng. Vì vậy, rất cần đi khám bệnh, soi để xác định bệnh một cách chắc chắn và để cho bác sĩ cho hướng điều trị đúng đắn.
Thuốc chữa bệnh trĩ
Có 2 loại: loại dùng trong là loại thuốc viên dùng để uống và loại cho tác dụng tại chỗ là thuốc mỡ để bôi hoặc thuốc đạn được đặt vào trong hậu môn.
Trước hết là thuốc viên uống. Đây là thuốc chứa các hoạt chất Rutin (còn gọi là vitamin P) hoặc các chất được trích từ thực vật được gọi chung là Flavonoid; có tác dụng điều hòa tính thẩm thấu và tăng sức bền chắc thành của các tĩnh mạch, do đó làm giảm phù nề, giảm sung huyết các tĩnh mạch ở vùng trĩ. Do tác động đến tĩnh mạch nên thuốc ngoài Chữa bệnh trĩ còn dùng để trị chứng suy, dãn tĩnh mạch, đặc biệt bị ở chi dưới như tê chân, nổi gân xanh. Có thể kể một số biệt dược dùng để uống như: Ginkgo Fort, Flebosmil…
Trong điều trị bệnh trĩ, bác sĩ sẽ tùy theo tình trạng bệnh cho liều điều trị tấn công và liều điều trị củng cố. Ngoài thuốc tác động chính trên tĩnh mạch trĩ, bác sĩ có thể chỉ định thêm các thuốc khác như: kháng sinh, thuốc chống viêm, thuốc giảm đau, thuốc trị táo bón v.v…
Bên cạnh dùng thuốc uống, người bệnh còn dùng thuốc cho tác dụng tại chỗ, tức dùng thuốc đạn đặt vào trong hậu môn (trong trường hợp bị trĩ nội) hoặc dùng thuốc mỡ để bôi lên tổn thương. Thuốc cho tác dụng tại chỗ thường chứa nhiều hoạt chất như: hoạt chất làm giảm đau, chống viêm, kháng sinh, hoạt chất bảo vệ làm bền chắc tĩnh mạch, ngoài ra còn chứa các vitamin, chất bổ dưỡng giúp tổn thương mau lành. Cách dùng thường là đặt thuốc đạn hoặc bôi thuốc mỡ 2-3 lần trong ngày, nên đặt hoặc bôi sau khi đi tiêu và tối trước khi ngủ.
Những điều cần lưu ý trong điều trị bệnh trĩ
-Trĩ có thể điều trị khỏi bằng nội khoa hay các phương pháp vật lý cũng như thuốc đông –tây y. Vì vậy, phẫu thuật chỉ nên được xem là phương sách cuối cùng khi các phương pháp kể trên không hiệu quả, bởi vì phẫu thuật can thiệp vào giải phẫu học và sinh lý học bình thường và có thể kèm theo các di chứng nặng nề khó sửa chữa.
Điêu trị Bệnh trĩ trĩ nội –trĩ ngoại- bằng Thuốc chữa bệnh trĩ AYURHOID
Thuốc chữa bệnh trĩAYURHOID được tổng hợp từ nhiều loại thảo dược có công dụng chính giúp kích thích quá trình tiêu hóa, giảm chứng táo bón.Chông phù nê làm co rút búi trĩ ,hoạt huyêt hoá ứ .chống chảy máu
Thành phần bao gồm các loại dược thảo sau:
Cao Cây Trinh Nữ:
chống viêm nhiễm, lọc máu.
Súng Đỏ:
làm dịu cơn đau, cung cấp dinh dưỡng, làm lạnh.
Cao Hạt Sầu Đâu:
cung cấp dinh dưỡng, làm lành vết thương, chống ngứa.
Khoai Na:
kích thích dạ dày, thuốc giảm chướng hơi, thuốc bổ.
Plantago Ovata:
nhuận tràng, làm dịu cơn đau.
Shorea Robusta:
dễ tiêu.
Cao Mùi:
giảm chướng hơi, kích thích dạ dày, làm lạnh, thuốc bổ.
Cao Chiêu Liêu:
Dễ tiêu hóa, giảm chướng hơi.
Cao Me Rừng:
là thuốc sổ, hạ nhiệt.
Vắp:
Làm thuốc sổ, làm dịu cơn đau, giảm chướng hơi, kích thích.
Commiphora Myrrha:
nhuận tràng, kích thích dạ dày.
Mức Hoa Trắng:
dễ tiêu hóa, kích thích dạ dày.
Cây Gạo:
chống viêm nhiễm, làm lành vết thương.
Cây Trái Mấm:
cầm máu, dễ tiêu hóa, làm mát, nhuận tràng.
Caesalpinia Crista:
chất bổ, giảm đau, chống viêm nhiễm, cầm máu.
Plantago Ovata:
nhuận tràng, làm dịu cơn đau,cầm máu ,chông phù nề làm co rút búi trĩ
Shorea Robusta:
dễ tiêu.Phòng ngừa hiện tượng hoat huyêt,hóa ứ trong trường hơp búi trĩ sa xuông,chảy máu , đa rát
Hướng dẫn sử dụng và bảo quản:Người lớn mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 viên.
Chất liệu bao bì và quy cách bao gói: đóng gói: 10 viên/ vỉ; 6 vỉ/ hộp. Khối lượng tịnh viên 405 mg/ viên.
Giấy chứng nhận:K-AYURVEDA AYURHOIDSđược Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm cấp giấy Chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số: 1535/2008/YT-CNTC, ngày 12/03/2008.
Để đạt hiệu quả điều trị cao cần kết hợp với PROCTELOG điều trị tai chỗ chống viêm và nứt hậu môn
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc

CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Sỏi mật – nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn gan mật

Sỏi mật là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn gan mật, khi có biến chứng bệnh rất dễ gây tử vong.

Sỏi mật và những rắc rối với sức khỏe

Sự hình thành sỏi có liên quan mật thiết đến sự mất cân bằng chuyển hóa trong gan (nơi mật được tạo thành). Ngoài ra còn có một số yếu tố như: viêm nhiễm, ứ trệ dịch mật, nhiễm ký sinh trùng và chế độ ăn giàu chất béo… tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình tạo sỏi.

Sỏi gây cản trở sự lưu thông của dịch mật, khiến cho hệ tiêu hóa giảm khả năng hấp thu chất béo, dẫn đến tình trạng đầy trướng, chậm tiêu, khó tiêu. Mặt khác, sỏi di chuyển gây nên các cơn đau quặn mật, quặn gan, viêm đường mật, túi mật. Đây là nguyên nhân chính khiến người bệnh phải nhập viện.

(Ảnh do nhãn hàng Kim Đởm Khang cung cấp)

Tái phát sỏi – vấn đề nan giải

Mục tiêu trong điều trị là loại bỏ sỏi nhằm khơi thông đường mật, làm giảm các triệu chứng do sỏi gây ra đồng thời tăng cường các biện pháp dự phòng tái phát sỏi.

Thực tế, để đạt được mục tiêu này không hề đơn giản. Thuốc làm tan sỏi phải sử dụng với thời gian dài (từ 6 tháng đến 2 năm), tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa làm quá trình điều trị bị gián đoạn hoặc kém hiệu quả. Các biện pháp can thiệp ngoại khoa (mổ hở, nội soi, tán sỏi ngoài cơ thể) có thể giúp việc lấy sỏi một cách hữu hiệu hơn, nhưng khó khả thi nếu sỏi nằm ở vị trí hiểm hóc như ở đường dẫn mật trong gan. Đặc biệt, tỷ lệ tái phát sỏi cao (30 – 50% sau điều trị) khiến cho việc điều trị càng trở nên nan giải.

Giải pháp tháo gỡ từ thiên nhiên

Quan điểm của đông y coi cơ thể là một khối thống nhất, mọi hoạt động của các cơ quan trong cơ thể luôn đồng bộ và tác động qua lại lẫn nhau. Hoạt động của hệ thống gan – mật cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vì thế trong điều trị cần hướng tới sự cân bằng chức năng của toàn hệ thống, loại bỏ sỏi chỉ là giải pháp tình thế chứ chưa giải quyết được tận gốc vấn đề.

Kim Đởm Khang là sản phẩm được phát huy và kế thừa triết lý đó để mang lại giải pháp toàn diện giúp bài sỏi, làm giảm triệu chứng do sỏi mật gây ra. Đặc biệt với các thành phần tăng cường chức năng gan (Diệp hạ châu, nhân trần), tăng khả năng tiết mật & lưu thông dịch mật (Uất kim, chi tử, chỉ xác), chống viêm (Sài hồ, Hoàng bá) sẽ giúp hạn chế tái phát sỏi. Đây là hy vọng mới cho người bệnh trong cuộc chiến nhằm chống lại sỏi mật cũng như dự phòng tái phát sỏi.

Nghiên cứu Kim Đởm Khang tại Viện 103 kết luận: Tỷ lệ tái phát sỏi đường mật trong gan, sỏi ống mật chủ giảm; các triệu chứng lâm sàng (đau, sốt, vàng da) cải thiện rõ rệt sau 3 tháng sử dụng. Sản phẩm sử dụng an toàn, chưa thấy tác dụng phụ sau 6 tháng sử dụng.

ĐT tư vấn: 04.3775.9865 – 08.3977.8085

Website: dongtay.net.vn

Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thê thuốc chữa bệnh

Thủng ruột vì thuốc giảm đau, chống viêm

Khoa tiêu hóa của các bệnh viện thường phải tiếp nhận các bệnh nhân bị đau dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, thậm chí suy đa tạng phủ gây tử vong do dùng các thuốc chống viêm, giảm đau …

Thủng ruột

Ông Đỗ Văn Trúc, 83 tuổi (quận Tây Hồ, Hà Nội) được đến viện cấp cứu trong tình trạng hoa mắt, chóng mặt, da tái, đi không vững, huyết áp tụt, đi ngoài ra máu… Kết quả xét nghiệm cho thấy, bệnh nhân đã bị chảy mất khoảng 3l máu. Nội soi dạ dày cho thấy, có nhiều máu đọng vào hành tá tràng, dạ dày có nhiều ổ loét chảy máu, đặc biệt có một ổ máu vẫn đang chảy mạnh.

Ngay lập tức, các bác sĩ đã phải tiêm thuốc cầm máu trực tiếp vào ổ loét qua nội soi cho bệnh nhân. Cũng may ông Trúc đến viện sớm nên chưa nguy hiểm tới tính mạng. Nhiều trường hợp đến viện muộn bị trụy tim mạch, thủng dạ dày… nguy cơ tử vong rất cao.

Ông Trúc cho hay, ông bị đau cột sống do dãn dây chằng nên đã đi tiêm 3 mũi giảm đau, sau đó ông bị đau bụng dữ dội và đi ngoài ra máu đen liên tục 15 phút/lần suốt cả đêm và đến sáng ông phải đi cấp cứu.

Thung-ruot-vi-dung-thuoc-giam-dau-dep-kienthuc-net-vn

BSCKII Vũ Đức Chung – Chủ nhiệm khoa Tiêu hóa BV 304 – cho biết, gần đây, bệnh viện thường phải tiếp nhận các bệnh nhân bị đau bụng, loét dạ dày, chảy máu dạ dày… do dùng thuốc kháng đau, giảm viêm nhóm không steroid. Riêng xuất huyết dạ dày, thủng dạ dày – tá tràng… khoa Nội tiêu hóa mỗi năm cũng có trên 10 trường hợp và hầu hết phải truyền máu. Đa phần bệnh nhân là người già, bị các bệnh đau đầu, đau lưng, đau khớp… dùng thuốc trong thời gian dài, nhưng có những trường hợp, dùng lần đầu, thậm chí dùng đúng theo đơn của bác sĩ cũng bị.

Nguyên nhân – theo BS Chung – nhóm kháng viêm, giảm đau không steroid thường có 3 tác dụng: Giảm đau, chống viêm, hạ sốt, được quảng cáo là không gây nghiện nên rất nhiều người sử dụng.

Tuy nhiên, thuốc có rất nhiều tác dụng phụ: Sốt, mệt mỏi, chướng bụng, rối loạn thị giác, nhiễm độc gan, tăng men gan… và hay gặp nhất là tác dụng phụ về đường tiêu hóa. Đặc biệt, việc viêm loét, thủng dạ dày, không phụ thuộc vào uống thuốc lúc ăn no hay đói vì thuốc có tác dụng phản ứng vào máu. Khi thuốc có tác dụng giảm đau cũng là lúc dạ dày bị ảnh hưởng do tác dụng không mong muốn của thuốc. Giảm đau càng mạnh, ảnh hưởng đến dạ dày nói riêng và đường tiêu hóa nói chung càng nhiều vì thuốc ức chế chất bảo vệ dạ dày nên dễ dàng gây viêm loét, chảy máu và thủng dạ dày – tá tràng.

Tương tự, tại BV T.Ư Quân đội 108, PGS-TS Triệu Triều Dương – Chủ nhiệm khoa Ngoại nhân dân – cho biết, khoa cũng thường phải mổ cho các bệnh nhân bị thủng dạ dày – tá tràng vì dùng thuốc giảm đau, kháng viêm nhóm không steroid. PGS-TS Dương phân tích, trong các thuốc chống viêm giảm đau ngày càng nhiều và phong phú, nhóm không steroid hoặc nhóm không đặc hiệu là thuốc dùng nhiều trong lâm sàng. Việc sử dụng phải theo nguyên tắc và quy trình nghiêm ngặt đòi hỏi phải có bác sĩ chỉ định, tránh tình trạng sử dụng thuốc bừa bãi. Tuy nhiên, do người dân ở nước ta có thói quen tự dùng thuốc hoặc bác sĩ chỉ định 1 lần sau đó tiếp tục dùng thường xuyên các loại thuốc loại này dẫn đến những tác hại lâu dài.

Tử vong

BSCKII Vũ Đức Chung cảnh báo, các thuốc giảm đau chống viêm có cả dạng tiêm và uống, là thuốc dễ mua nên nhiều người lạm dụng. Không kể những trường hợp cấp cứu vì nôn ra máu, ỉa ra máu… do thuốc, thì nhiều trường hợp dùng thuốc chỉ thấy bụng ậm ạch, khó tiêu… nội soi đã thấy xung huyết, viêm loét cấp tính dạ dày – tá tràng  (bệnh salami).

Đặc biệt, trong thời gian công tác của mình, bác sĩ đã gặp hai trường hợp bệnh nhân tử vong vì dùng các loại thuốc này. Bệnh nhân đến nhập viện trong tình trạng bị suy đa phủ tạng do uống thuốc, lại chủ quan không biết, vẫn tiếp tục dùng thuốc, thuốc lại có tác dụng giảm đau, chỉ đến khi quá nặng mới đến viện thì gan, thận, tim… đều suy, kể cả được lọc máu thì cũng khó có thể cứu được.

Điều BSCKII Vũ Đức Chung lo ngại là hiện nay tuổi thọ của người VN ngày được nâng cao, trong khi họ lại có rất nhiều bệnh mạn tính như: Đau đầu, thoái hóa khớp, đau lưng… cộng với sức khỏe kém, các bộ phận đều suy, niêm mạc dạ dày mỏng. Đây là đối  tượng thường xuyên dùng thuốc giảm đau. Vì vậy, nếu không quản lý chặt loại thuốc này thì ngày càng có nhiều người bị viêm loét, thủng dạ dày… vì thuốc.

(Theo Bee)

Vi khuẩn HP (Helicobacter pylori) – thủ phạm gây bệnh dạ dày

Đau dạ dày là một triệu chứng thường gặp ở nhiều người và nó có thể là dấu hiệu cho biết chúng ta đã bị viêm loét dạ dày. Căn bệnh này rất dai dẳng, gây khó chịu trong nhiều năm liền và có thể gây nên những những đợt cấp tính rất nguy hiểm, thậm chí có thể phát triển thành ung thư dạ dày.

Ảnh: Imagine

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến viêm loét dạ dày nhưng nhìn chung có 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất là do dùng các thuốc giảm giảm đau, chống viêm không chứa steroid, aspirin và một số loại thuốc khác. Thứ hai là do stress tâm lý, thói quen sử dụng rượu bia, thuốc lá, các loại thực phẩm gây kích thích niêm mạc dạ dày như trà, cà phê, ớt, tiêu, chanh, giấm… dẫn tới việc dạ dày tiết nhiều axít. Thứ ba và là nguyên nhân quan trọng nhất, là sự xuất hiện của một loại vi khuẩn có tên là Helicobacter Pylori trong dạ dày.

Phần lớn các ca viêm dạ dày – tá tràng đều do vi khuẩn HP gây ra và có thể tiến triển thành ung thư. Chúng có mặt trong cơ thể của một nửa dân số thế giới.

HP là một loại xoắn khuẩn gram âm, dài khoảng 2,5 mm và rộng 0,5 mm, có 4-6 roi nên dễ di chuyển trong lớp chất nhầy của niêm mạc dạ dày và đây cũng là môi trường trú ngụ của chúng. Chính lớp chất nhầy dạ dày đã bảo vệ cho vi khuẩn khỏi sự tác động của axit có trong dịch vị. HP có nhiều men để giúp chúng tồn tại, phát triển và gây bệnh tại dạ dày như men urease, một loại men thủy phân ure (chất có sẵn trong dạ dày) thành ammoniac và từ đó tạo ra môi trường acid thích hợp cho vi khuẩn phát triển, nhưng lại gây tổn thương loét cho niêm mạc dạ dày.

Khoảng 65 – 85% bệnh nhân viêm loét dạ dày có nhiễm HP và khi dùng thuốc diệt HP thì phần lớn khỏi viêm loét. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy HP là thủ phạm chính gây tổn thương niêm mạc dạ dày. Đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu trên thế giới khẳng định, HP không chỉ gây viêm loét mà còn có vai trò trong nhiều bệnh lý khác ở dạ dày – hành tá tràng như rối loạn tiêu hóa không loét, u lympho ác tính, ung thư…

Ở giai đoạn sớm, ung thư dạ dày hầu như không có triệu chứng. Khi bệnh đã tiến xa, bệnh nhân thường cảm thấy khó chịu vùng thượng vị, cảm giác đầy bụng sau ăn, buồn nôn và ói mửa, sụt cân nhanh. Các dấu hiệu này không phải là triệu chứng đặc hiệu của ung thư nên bệnh nhân dễ nhầm lẫn với các bệnh khác ở dạ dày như viêm loét dạ dày hay rối loạn tiêu hóa nên khi bệnh được phát hiện thì ung thư đã di căn xa. Vì thế khi có các triệu chứng trên kéo dài, người bệnh nên đi khám để tìm nguyên nhân và điều trị càng sớm càng tốt.

Để phát hiện sớm ung thư dạ dày

Phải tầm soát bằng chụp X-quang dạ dày hoặc nội soi dạ dày thì mới có thể phát hiện được ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Nội soi phát hiện thương tổn thương sớm tốt hơn X-quang. Người có yếu tố nguy cơ cần phải tầm soát ung thư dạ dày là các đối tượng: bị viêm teo dạ dày hoặc thiếu máu ác tính, loét khổng lồ, nhiễm HP mạn tính, đã cắt bán phần dạ dày, polyp dạ dày, trong gia đình có người bị ung thư đường tiêu hoá, có triệu chứng rối loạn tiêu hoá thường xuyên… Nếu có điều kiện thì mọi người trên 40 tuổi đều nên nội soi dạ dày tầm soát ít nhất 1 lần trong đợt kiểm tra sức khoẻ định kỳ hằng năm.

Gói khám tầm soát ung thư dạ dày & đại tràng

Các gói tầm soát ung thư dạ dày & đại tràng bao gồm: tư vấn & nội soi với bác sĩ chuyên gia, xét nghiệm máu, xét nghiệm tìm vi trùng HP, bữa ăn nhẹ hồi sức, tìm hiểu tiền sử & báo cáo bệnh án.

  • Gói tầm soát Ung thư dạ dày: 1.400.000 VNĐ
  • Gói tầm soát Ung thư đại tràng: 2.000.000 VNĐ
  • Gói tầm soát Ung thư dạ dày & đại tràng: 3.000.000 VNĐ

Đồng thời phòng khám dành tặng tất cả khách hàng “Phiếu khám bệnh trị giá 250.000 VNĐ”, phiếu có thể sử dụng được tất cả các dịch vụ tại phòng khám.

Các bạn quan tâm vui lòng liên hệ (08) 3925 9772 để đặt lịch hẹn và được hướng dẫn chi tiết.

Phòng khám chuyên khoa Á Châu (Gan – Nội tiêu hóa) đã đầu tư thiết bị máy móc hiện đại để đảm bảo bệnh nhân nội soi luôn an toàn và khâu tiệt trùng máy luôn được chú trọng, máy nội soi luôn được ngâm thuốc đủ thời gian và sấy khô để tiệt trùng sau mỗi ca nội soi. Mô hình phòng nội soi và giường nằm bệnh lưu trú trong ngày được đầu tư với chất lượng tương đương như phòng khám Singapore và thực hiện nội soi cũng do chính bác sĩ người Singapore phụ trách nhưng chi phí phù hợp với người Việt.

Phòng khám chuyên khoa Á Châu (Gan – Nội tiêu hóa)

Địa chỉ: 201 Nguyễn Thị Minh Khai, P. Nguyễn Cư Trinh, Q.1, TP.HCM.

Điện thoại: (08) 3925 9772 – Website: www.alc.vn

 

Mong manh như da trẻ

Đã có 4 trẻ dưới 1 tuổi nhập viện Nhi TƯ (Hà Nội) do bị ngộ độc nặng “thuốc cam” chữa các nốt nhiệt, viêm ở miệng. Còn tại BV Nhi Đồng 2 (TPHCM), một trẻ 2 tháng tuổi phải cắt bỏ đầu ngón tay hoại tử vì thoa kem có glucocorticoid chữa mụn bóng nước.

Bôi da nhưng qua máu


Da trẻ rất mong manh nên mọi loại thuốc bôi ngoài có thể hấp thu vào máu gây nguy hiểm. Ảnh: Hồng Thái

Nhiều người cứ tưởng thuốc bôi ngoài da là loại chẳng hại gì, dùng sao cũng được. Nhưng đối với trẻ, đặc biệt là trẻ sơ sinh, da của trẻ còn non nớt, dễ hấp thu dược chất vào máu, nên việc dùng thuốc ngoài da không thể xem thường, có nhiều thuốc bôi tuyệt đối không dùng.

Cần biết, có nhiều loại thuốc dùng ngoài da như: thuốc bôi (thuốc mỡ, kem bôi da, bột nhão, gel, dung dịch), thuốc rắc (thuốc bột), thuốc xịt (dạng bơm xịt), thuốc dán (lưu ý có hai loại: loại cho tác dụng tại chỗ như giảm đau ở vùng dán nhưng có loại tác dụng toàn thân, tức có hấp thu vào máu như băng dán sau tai để chống nôn do say tàu xe).

Một số thuốc bôi có thể gây nguy hiểm

Xin nhấn mạnh về việc sử dụng thuốc bôi ngoài da dạng kem thuốc (crème) hoặc thuốc mỡ (pommade) có chứa dược chất glucocorticoid (gọi tắt corticoid). Một số biệt dược có thể kể: Cortibion, Celestoderme, Synalar, Halog, Hydrocortisone, Flucinar, Topsyne, Betneval… và còn cả chục tên khác.

Đây là thuốc bôi ngoài da chứa dược chất chống viêm rất quý, nếu dùng đúng chỉ định có thể chữa khỏi một số bệnh ngoài da khó trị, nhưng ngay cả người lớn, đặc biệt là phụ nữ, có người dùng sai chỉ định, như dùng để chữa các vết lở loét, dùng trị mụn trứng cá, thậm chí dùng như kem dưỡng da (!)

Nên lưu ý các loại corticoid nếu bôi lâu ngày sẽ làm teo da, rạn da, da dễ bị nhiễm trùng do mất đề kháng. Nếu bôi lên da mặt lâu ngày, mịn màng đâu chẳng thấy mà sẽ thấy bị trứng cá đỏ, phát mụn li ti khắp mặt! Không những thế, thuốc có thể thấm qua da vào máu gây tác dụng toàn thân (có nhiều tác dụng phụ nguy hiểm). Các cô gái trước tuổi dậy thì nếu bôi lên da diện rộng, lâu ngày sẽ gây rối loạn sự phát triển hệ mao.

Cũng do corticoid có thể thấm qua da vào máu mà có chống chỉ định (tức không được dùng) ở trẻ sơ sinh, nhũ nhi. Bôi ngoài da ở trẻ, thuốc chứa corticoid sẽ làm giảm sức đề kháng ở nơi bôi làm bùng phát hiện tượng nhiễm khuẩn (trường hợp bị hoại tử đầu ngón tay nêu đầu bài là do vi khuẩn gây hoại tử nhờ corticoid có điều kiện phát triển).

Một loại thuốc bôi ngoài da khác cũng không được dùng cho trẻ sơ sinh là dung dịch chứa iốt có tên povidon-iod (Betadine) dùng ngoài da sát trùng. Dùng ở trẻ còn quá nhỏ tuổi mà lại dùng thường xuyên, iốt sẽ thấm qua da vào máu gây rối loạn hoạt động tuyến giáp của trẻ.

Cũng cần lưu ý các bậc bố mẹ không nên nghe lời đồn đại mà cho trẻ dùng thuốc, kể cả thuốc bôi ngoài da có nguồn gốc không thật rõ ràng (thuốc cam kể trên thuộc loại này). Chỉ nên mua thuốc tại nhà thuốc, nếu cần đưa trẻ đến khám bác sĩ để được chỉ định thuốc dùng an toàn và hiệu quả. Khi dùng thuốc, phải xem kỹ hướng dẫn để biết phạm vi sử dụng, tác dụng phụ và có chống chỉ định đối với trẻ hay không.

Nên lưu ý, nhiều bệnh ngoài da muốn điều trị hiệu quả, dù người lớn hay trẻ con, tốt nhất là đến bác sĩ chuyên khoa da liễu để được khám và chỉ định đúng thuốc.

Tuyệt đối không dùng dầu gió cho trẻ sơ sinh

Trước đây khá lâu, đã xảy ra trường hợp trẻ sơ sinh bị ngộ độc thần kinh do dùng xà bông chứa hexaclorophen (có tên Phisohex) gội đầu, hexaclorophen thấm qua da vào hệ thần kinh của trẻ gây độc. Hoặc đầu năm 2009, một nghiên cứu ở Mỹ đã báo cáo nhiều trường hợp trẻ bị ngộ độc do được bôi vùng da ở mũi dầu gió có chứa tinh dầu bạc hà (menthol), tinh dầu long não (camphor) và methyl salicylat gây kích ứng mạnh làm ngưng hô hấp. Hoặc ở TP.HCM, cách nay khá lâu đã xảy ra một số trường hợp trẻ sơ sinh bị ngộ độc do bôi phấn rơm (bột rắc) có chứa warfarin (chất tạo mùi thơm nhưng đồng thời có tác dụng gây xuất huyết). Trước đây cũng xảy ra trường hợp khó tin là có cha mẹ dùng thuốc súng bôi lên da trẻ để trị ghẻ ngứa khiến trẻ bị ngộ độc!

Các trường hợp nêu trên cho thấy, tuyệt đối không được dùng dầu gió cho trẻ sơ sinh, nhất là không bôi lên mũi trẻ (các bà mẹ sau khi sinh tránh dùng dầu gió, loại dầu dùng được là dầu bạch đàn còn gọi là dầu khuynh diệp, dầu tràm). Còn xà bông, phấn rơm cũng phải thật thận trọng trong chọn lựa sử dụng.

Theo PGS.TS.DS Nguyễn Hữu Đức
Giảng viên chính bộ môn dược, ĐH Y dược TPHCM

Meo.vn (Theo Dantri)

Sử dụng hạt nano, kéo dài tác dụng thuốc viêm khớp

Tại hội nghị thường niên Hiệp hội Các nhà khoa học dược Mỹ (AAPS) tổ chức cuối tháng 10/2011 vừa qua, nhóm nghiên cứu Benech Reseach và Pjizer của Mỹ đã công bố kết quả một nghiên cứu mang tính khả thi cao, sử dụng hạt nano để đưa thuốc chống viêm vào khoang khớp gối, tăng thời gian lưu giữ thuốc và kéo dài tác dụng của thuốc.

Hạt nano.

Qua thử nghiệm cho thấy, 70% hạt nano có chứa thuốc này lưu lại trong khoang gối dài tới hơn một tuần so với một hoặc hai ngày ở liệu pháp truyền thống.

Trong kỹ thuật này, các hạt nano tích điện dương mang thuốc liên kết với tích điện âm của các phân tử tự nhiên trong khớp gối để tạo ra dạng gel. Đến lượt nó, gel lại đóng vai trò hoạt hoá giống như một kho chứa để lưu giữ thuốc. Phương pháp này khắc phục hiện tượng rửa trôi thuốc thường thấy ở các phương pháp truyền thống, làm giảm đau do ít phải tiêm, tiết kiệm chi phí và kéo dài hiệu quả trị bệnh. Theo thống kê, tại Mỹ hiện có trên 30 triệu người mắc bệnh viêm xương khớp, dự báo đến năm 2025 sẽ tăng thêm khoảng 20% nữa, vì vậy phương pháp nói trên nếu thành công sẽ mở ra triển vọng cho nhóm người mắc bệnh xương khớp.

Meo.vn (Theo SK&ĐS)

Hay cảm thấy khó thở là bệnh gì?

Tôi 34 tuổi, gần đây tôi thấy khó thở, ngay cả khi làm việc nhẹ như nấu ăn, đi bộ.

Tôi rất lo lắng không biết có phải mình mắc bệnh gì và có phải điều trị không? (Nguyễn Thu Hà – Quảng Ninh)

Trả lời:

Qua thư bạn, chúng tôi hiểu bạn đang rất lo lắng về sức khỏe của mình nhưng những biểu hiện bạn mô tả quá sơ sài nên khó có thể nói chính xác bạn mắc bệnh gì, có nguy hiểm hay phải điều trị không.

Bởi khó thở chỉ là một triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau, có thể là triệu chứng của suy tim, thiếu máu nhưng cũng có thể là dấu hiệu bệnh lý ở đường hô hấp như hen, ung thư phổi, áp-xe phổi, tắc mạch phổi, thận, gan, khớp…

Ngoài ra, những vận động quá sức, lo lắng thái quá hay ở trong môi trường quá nóng, quá lạnh cũng có thể gây khó thở.

Để xác định khó thở có phải là triệu chứng của một bệnh hay không cần căn cứ vào cách xuất hiện và hoàn cảnh gây khó thở như khó thở đột ngột trong thời gian ngắn hay kéo dài dai dẳng, khó thở khi nghỉ, khi nằm hay khi gắng sức, khó thở có kèm theo triệu chứng nào khác nữa không như ăn kém, mệt mỏi từng lúc, toát mồ hôi, sốt, thở khò khè…

Về điều trị khó thở phải điều trị nguyên nhân gây bệnh. Nếu khó thở do suy tim cần điều trị bằng các thuốc chữa suy tim, nếu khó thở do bệnh phổi mạn tính cần điều trị bằng thuốc giảm co thắt phế quản, thuốc chống viêm hoặc thở ôxy. Chỉ dùng kháng sinh trong những trường hợp bị nhiễm khuẩn.

Bạn nên đến chuyên khoa tim mạch của các bệnh viện để được thăm khám cụ thể, nếu cần thiết bác sĩ sẽ cho làm thêm xét nghiệm để chẩn đoán bệnh và có biện pháp điều trị thích hợp.

Theo BS Nguyễn Văn Tùng

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)

5 nhóm thuốc gây đau đầu

Thuốc đưa vào cơ thể là để trị bệnh. Nhưng đôi khi nó lại gây tác hại trên hệ thần kinh, mà biểu hiện điển hình là đau đầu. Nếu như xét về thứ tự tần suất bệnh thì đau đầu do căn nguyên thuốc đứng hàng thứ ba trong các trường hợp đau đầu hay gặp.

Các thuốc gây đau đầu

Nhóm thuốc thứ nhất gây ra tác dụng ngoại ý trên hệ thần kinh là các thuốc an thần loại barbiturat. Đây là một thuốc an thần kinh được sử dụng thông thường nhất hiện nay và được sử dụng rộng rãi trong các khoa trị bệnh tâm thần và trong các trường hợp có rối loạn thần kinh chức năng dạng lo âu hay căng thẳng thần kinh. Cơ chế tác dụng của nó là làm tăng tác dụng của chất trung gian nội sinh GABA, do đó làm cho thần kinh được an dịu. Tuy nhiên, tác dụng phụ để lại là cảm giác nặng đầu, mệt mỏi, thần kinh không tỉnh táo. Sử dụng kéo dài sẽ gây ra phụ thuộc thuốc và cảm giác đau đầu sẽ nặng dần.

Nhóm thuốc thứ hai là các thuốc giảm đau chống viêm thông thường như acetaninophen (paracetamol), acetylsalicylic (aspirin), ibuprofen, naproxen, diclofenac…

Paracetamol và aspirin là những thuốc giảm đau chống viêm được sử dụng rộng rãi và có mặt ở hầu khắp các nhà thuốc, hiệu thuốc. Hai thuốc này hoạt động theo cơ chế ức chế men phân hủy các phospholipid màng, ngăn không cho tạo thành các prostaglandin, một chất trung gian hóa học điển hình của viêm và đau. Dưới tác dụng của những thuốc này, các prostaglandin không được tạo ra và do đó hiện tượng đau sẽ được giảm xuống. Thuốc có tác dụng với đau đầu vì nó làm cắt đứt khâu trung gian dẫn truyền hóa học. Tuy nhiên, có một điều rõ ràng là sau một thời gian sử dụng thuốc, người ta thấy triệu chứng đau đầu của bệnh nhân lại xuất hiện và khó trị hơn bằng những thuốc trước kia đã từng sử dụng.


Aspirin – Một thuốc giảm đau nhưng lại là thủ phạm gây đau đầu.

Các thuốc này lại thường được người bệnh tự ý mua sử dụng. Kết quả là sau khi uống khoảng 30 phút thì cơn đau đầu giảm dần nhưng chỉ khoảng 8-10 tiếng sau, cơn đau đầu lại xuất hiện và người bệnh lại phải sử dụng liều tiếp theo. Cứ như thế, cơn đau đầu do căng thẳng tự nhiên chuyển sang đau đầu do thuốc lúc nào không hay. Đa phần sự chuyển đổi này lại khá thường gặp ở nữ giới và những người có hệ thần kinh yếu và không thăng bằng.

Một triệu chứng thường gặp

Đặc điểm dễ nhận thấy nhất của đau đầu do căn nguyên thuốc là thường đau vào buổi sáng, sau đó kéo dài dai dẳng cả ngày. Thời gian đau có thể kéo dài trên 6 tháng. Quan trọng hơn, những người này thường xuyên phải sử dụng thuốc giảm đau, thời gian thường kéo dài vài tháng.

Nhóm thứ ba là các thuốc có nguồn gốc từ thuốc phiện. Điển hình như codein, oxycodone, propoxyphene, meperidine. Codein là một thuốc ức chế thần kinh trung ương mạnh, do đó làm giảm các triệu chứng của đau đầu và giảm các phản ứng quá lớn của thần kinh như ho dữ dội do trung tâm ho, đau thần kinh. Đây là một thuốc ít khi được dùng đơn độc một mình mà thường kết hợp với một nhóm thuốc khác như thuốc hạ sốt loại paracetamol, thuốc loãng nhày terpin tạo nên những công thức thuốc hoàn hảo có tên như efferalgan codein hay terpincodein. Song cũng giống như các thuốc trên, codein là tâm điểm được chú ý khi nghiên cứu các đau đầu do thuốc. Theo những dữ liệu điều tra trên bệnh nhân có tiền sử, thì có một tỷ lệ gần như là tất cả những người này đều có sử dụng codein trước khi có sự xuất hiện đau đầu mạn tính.

Nhóm thứ tư là các thuốc có chứa caffein. Đây là một chất kích thích thần kinh có tác dụng làm thức tỉnh, có nhiều trong đồ uống có chứa chất kích thích như chè, cà phê và được sử dụng như một thứ thức uống của xã hội hiện đại. Caffein chính là methylxanthine chiết xuất từ thực vật. Ở liều thông thường, chỉ một tách cà phê thì caffein tạo cho ta một cảm giác dễ chịu, khoan khoái giúp làm việc hiệu quả. Nhưng ở một liều quá cao, từ 7 – 8 cốc cà phê trong một ngày thì tác dụng của nó lại trầm trọng. Một trong các tác dụng phụ của nó là đau đầu không chịu được với biểu hiện nhức nhối xuất hiện ở cả hai bên. Đầu có một cảm giác nặng trịch. Tình trạng này kéo dài sẽ biến một cơn đau đầu thoáng qua thành một cơn đau đầu mạn tính.

Nhóm thứ năm là thuốc trị đau nửa đầu như ergotamine, almotriptan, eletriptan… Ergotamine là một thuốc kinh điển và tốt nhất trị bệnh đau nửa đầu. Thuốc này cho đến nay ít được sử dụng nhưng nó vẫn là thuốc đầu bảng khi có cơn đau đầu kiểu Migraine xuất hiện và không đáp ứng điều trị với các thuốc khác. Hiệu quả của thuốc là rõ rệt ngay từ viên thuốc đầu tiên. Song sự lạm dụng thuốc hoặc uống không đúng cách thì cũng dẫn đến hậu quả chung là đau đầu mạn tính.

Ngoài ra, các thuốc tránh thai bằng đường uống, thuốc kháng sinh tetracyclin, thuốc chống đông máu, thuốc chống động kinh loại phenytoin… cũng có thể gây ra những cơn đau đầu mạn tính.

Làm thế nào để hạn chế?

Những người hay bị đau đầu hoặc có nguy cơ đau đầu không nên lạm dụng các thuốc giảm đau, hạ sốt, an thần kinh, sử dụng theo hướng dẫn của thầy thuốc và cũng không nên lạm dụng quá 3 ngày/tuần. Càng không nên lạm dụng nhiều tháng liền. Dừng thuốc ngay khi có thể.

Những người bị đau đầu kinh niên, một lời khuyên là không nên dùng chè, cà phê hay bất cứ thức uống nào có caffein vì điều này chỉ làm cho tình hình bệnh lý trở lên trầm trọng hơn mà thôi.

BS. Khánh Trang

Meo.vn (Theo SK&ĐS)

Thuốc ảnh hưởng đến chức năng “cương”

Thực tế, 70% những nguyên nhân gây rối loạn cương là do bệnh tật (đái tháo đường, đa xơ cứng, nghiện rượu, xơ vữa mạch máu). Những nguyên nhân thực thể khác là điều trị ung thư tuyến tiền liệt, chấn thương tủy sống, rối loạn về hormon, lạm dụng một số thuốc và ma túy. Rối loạn cương có thể là dấu hiệu đầu tiên của những bệnh chính.

Ngoài những nguyên nhân thực thể, những yếu tố tâm lý cũng có ảnh hưởng đến khả năng tình dục. Stress, trạng thái lo hãi, mặc cảm phạm tội, trầm cảm, thiếu tự tin và nỗi sợ thất bại trong hoạt động tình dục cũng đều làm suy yếu chức năng cương dương. Đôi khi có sự kết hợp các nguyên nhân thực thể và tâm lý.   

Một số thuốc (phải kê đơn và cả những thuốc không cần có đơn) có thể gây rối loạn cương. Khi phải dùng những thuốc này để điều trị một bệnh chính nào đó thì tình trạng hormon, thần kinh hay tuần hoàn máu có thể bị ảnh hưởng và dẫn đến rối loạn cương hay tăng nguy cơ bị rối loạn cương.


Cần dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ để phòng rối loạn cương do thuốc.

Sau đây là danh sách những thuốc có thể gây rối loạn cương, vì chưa đầy đủ cho nên cần hỏi ý kiến thầy thuốc mọi loại thuốc trước khi dùng để loại trừ nguyên nhân hay yếu tố góp phần dẫn đến rối loạn cương.

Thuốc lợi niệu và chữa tăng huyết áp (hydrochlorothiazide, chlorthalidone, furosemide…); các thuốc chống trầm cảm, lo âu và động kinh (fluoxetine, isocarboxazid, amitriptyline, amoxipine, phenytoin…); thuốc chống histamin (dimehydrinate, hydroxyzine, promethazine…); thuốc chống viêm không có nhân steroid (naproxen, indomethacin); thuốc điều trị bệnh Parkinson (biperiden, procyclidine, bromocriptine…); thuốc điều trị rối loạn nhịp tim (disopyramide); thuốc đối kháng thụ thể histamin H2 (cimetidine, nizatidine…); thuốc giãn cơ (cyclobenzaprine, orphenadrine); thuốc điều trị ung thư tuyến tiền liệt (flutamide, leuprolide…); hóa chất liệu pháp (busulfan, cyclophosphamide).

Nếu cảm thấy có dấu hiệu kém cương dương do dùng thuốc thì nên hỏi ý kiến thầy thuốc trước, không nên tự ý ngừng thuốc. Nếu sự cố kém cương dương vẫn tiếp tục thì có thể phải thay đổi thuốc.

Ngoài ra, các thuốc gây hứng khởi và ma túy có thể gây ra hoặc dẫn đến rối loạn cương: rượu, amphetamine, barbiturates, cocaine, marijuana, methadone, nicotine, thuốc phiện.

Sử dụng những thuốc nêu trên có thể gây rối loạn cương, vì thuốc không chỉ ảnh hưởng mà còn làm mất đi sự chỉ huy của hệ thần kinh trung ương, gây ra những tổn thương nghiêm trọng cho mạch máu và cuối cùng là gây rối loạn cương dương kéo dài.

BS. Xuân Anh

Meo.vn (Theo SK&ĐS)