Lưu trữ cho từ khóa: trực tràng

Bệnh trĩ và Thuốc chữa bệnh trĩ AYURHOID

Bệnh trĩ Thuốc chữa bệnh trĩ AYURHOID
bệnh trĩ là bệnh do sự dãn quá mức các tĩnh mạch đưa đến tĩnh mạch trĩ bị sưng, phù ở vùng hậu môn – trực tràng. Có sự dãn quá mức là do thành tĩnh mạch bị suy yếu không còn bền chắc.
Nếu trĩ nằm dưới cơ thắt hậu môn gọi là bệnh trĩ ngoại, có thể thấy bằng mắt thường. Bệnh trĩ nội là búi trĩ định vị trên cơ thắt hậu môn, chỉ thấy khi soi hậu môn, tuy nhiên trĩ nội khi nặng gọi là sa búi trĩ có thể thò ra ngoài. Trĩ có thể làm cho ngứa, đau và có khi chảy máu. Nhưng có khi trĩ không gây triệu chứng hoặc chỉ gây cảm giác nặng nề ở hậu môn trực tràng. Khi có chảy máu là có khi đã có biến chứng, ở tình trạng nặng.
– Nguyên nhân dẫn đến bệnh trĩ
Khi thành tĩnh mạch bị suy yếu nếu thêm những yếu tố thuận lợi được kể ra sau đây sẽ làm phát triển bệnh trĩ:
1. Viêm đại tràng mạn tính, táo bón kinh niên gây rặn mạnh khi đại tiện.
2. Tăng áp lực xoang bụng do lao động nặng, do ho (vì bệnh viêm phế quản mạn, dãn phế quản).
3. Sinh hoạt tĩnh tại với tư thế đứng lâu hoặc ngồi nhiều suốt ngày (như người làm nghề thợ may, thư ký đánh máy).
4. Phụ nữ mang thai với tử cung lớn dần chèn ép các tĩnh mạch trĩ gây ứ đọng máu trong tĩnh mạch.
Những người thường xuyên có các tình trạng kể trên lại thêm bị suy yếu tĩnh mạch rất dễ bị bệnh trĩ.
Ta nên lưu ý có một biến chứng thường thấy ở bệnh trĩ là chảy máu ngoài, sưng, ngứa, đau hậu môn. Nhưng chảy máu khi đi cầu có thể là triệu chứng của nhiều bệnh ở đại tràng, trực tràng, thậm chí có bệnh nguy hiểm như ung thư trực tràng. Vì vậy, rất cần đi khám bệnh, soi để xác định bệnh một cách chắc chắn và để cho bác sĩ cho hướng điều trị đúng đắn.
Thuốc chữa bệnh trĩ
Có 2 loại: loại dùng trong là loại thuốc viên dùng để uống và loại cho tác dụng tại chỗ là thuốc mỡ để bôi hoặc thuốc đạn được đặt vào trong hậu môn.
Trước hết là thuốc viên uống. Đây là thuốc chứa các hoạt chất Rutin (còn gọi là vitamin P) hoặc các chất được trích từ thực vật được gọi chung là Flavonoid; có tác dụng điều hòa tính thẩm thấu và tăng sức bền chắc thành của các tĩnh mạch, do đó làm giảm phù nề, giảm sung huyết các tĩnh mạch ở vùng trĩ. Do tác động đến tĩnh mạch nên thuốc ngoài Chữa bệnh trĩ còn dùng để trị chứng suy, dãn tĩnh mạch, đặc biệt bị ở chi dưới như tê chân, nổi gân xanh. Có thể kể một số biệt dược dùng để uống như: Ginkgo Fort, Flebosmil…
Trong điều trị bệnh trĩ, bác sĩ sẽ tùy theo tình trạng bệnh cho liều điều trị tấn công và liều điều trị củng cố. Ngoài thuốc tác động chính trên tĩnh mạch trĩ, bác sĩ có thể chỉ định thêm các thuốc khác như: kháng sinh, thuốc chống viêm, thuốc giảm đau, thuốc trị táo bón v.v…
Bên cạnh dùng thuốc uống, người bệnh còn dùng thuốc cho tác dụng tại chỗ, tức dùng thuốc đạn đặt vào trong hậu môn (trong trường hợp bị trĩ nội) hoặc dùng thuốc mỡ để bôi lên tổn thương. Thuốc cho tác dụng tại chỗ thường chứa nhiều hoạt chất như: hoạt chất làm giảm đau, chống viêm, kháng sinh, hoạt chất bảo vệ làm bền chắc tĩnh mạch, ngoài ra còn chứa các vitamin, chất bổ dưỡng giúp tổn thương mau lành. Cách dùng thường là đặt thuốc đạn hoặc bôi thuốc mỡ 2-3 lần trong ngày, nên đặt hoặc bôi sau khi đi tiêu và tối trước khi ngủ.
Những điều cần lưu ý trong điều trị bệnh trĩ
-Trĩ có thể điều trị khỏi bằng nội khoa hay các phương pháp vật lý cũng như thuốc đông –tây y. Vì vậy, phẫu thuật chỉ nên được xem là phương sách cuối cùng khi các phương pháp kể trên không hiệu quả, bởi vì phẫu thuật can thiệp vào giải phẫu học và sinh lý học bình thường và có thể kèm theo các di chứng nặng nề khó sửa chữa.
Điêu trị Bệnh trĩ trĩ nội –trĩ ngoại- bằng Thuốc chữa bệnh trĩ AYURHOID
Thuốc chữa bệnh trĩAYURHOID được tổng hợp từ nhiều loại thảo dược có công dụng chính giúp kích thích quá trình tiêu hóa, giảm chứng táo bón.Chông phù nê làm co rút búi trĩ ,hoạt huyêt hoá ứ .chống chảy máu
Thành phần bao gồm các loại dược thảo sau:
Cao Cây Trinh Nữ:
chống viêm nhiễm, lọc máu.
Súng Đỏ:
làm dịu cơn đau, cung cấp dinh dưỡng, làm lạnh.
Cao Hạt Sầu Đâu:
cung cấp dinh dưỡng, làm lành vết thương, chống ngứa.
Khoai Na:
kích thích dạ dày, thuốc giảm chướng hơi, thuốc bổ.
Plantago Ovata:
nhuận tràng, làm dịu cơn đau.
Shorea Robusta:
dễ tiêu.
Cao Mùi:
giảm chướng hơi, kích thích dạ dày, làm lạnh, thuốc bổ.
Cao Chiêu Liêu:
Dễ tiêu hóa, giảm chướng hơi.
Cao Me Rừng:
là thuốc sổ, hạ nhiệt.
Vắp:
Làm thuốc sổ, làm dịu cơn đau, giảm chướng hơi, kích thích.
Commiphora Myrrha:
nhuận tràng, kích thích dạ dày.
Mức Hoa Trắng:
dễ tiêu hóa, kích thích dạ dày.
Cây Gạo:
chống viêm nhiễm, làm lành vết thương.
Cây Trái Mấm:
cầm máu, dễ tiêu hóa, làm mát, nhuận tràng.
Caesalpinia Crista:
chất bổ, giảm đau, chống viêm nhiễm, cầm máu.
Plantago Ovata:
nhuận tràng, làm dịu cơn đau,cầm máu ,chông phù nề làm co rút búi trĩ
Shorea Robusta:
dễ tiêu.Phòng ngừa hiện tượng hoat huyêt,hóa ứ trong trường hơp búi trĩ sa xuông,chảy máu , đa rát
Hướng dẫn sử dụng và bảo quản:Người lớn mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 viên.
Chất liệu bao bì và quy cách bao gói: đóng gói: 10 viên/ vỉ; 6 vỉ/ hộp. Khối lượng tịnh viên 405 mg/ viên.
Giấy chứng nhận:K-AYURVEDA AYURHOIDSđược Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm cấp giấy Chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số: 1535/2008/YT-CNTC, ngày 12/03/2008.
Để đạt hiệu quả điều trị cao cần kết hợp với PROCTELOG điều trị tai chỗ chống viêm và nứt hậu môn
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc

CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Cha mẹ mắc ung thư dễ di truyền sang con

 Một nghiên cứu mới đây cho thấy những người có cha mẹ mắc bệnh ung thư khi đã có tuổi cũng tăng nguy cơ bị một số dạng ung thư.

Vẫn biết rằng con của những người bị ung thư khi còn trẻ phải đối mặt với nguy cơ ung thư cao hơn, tuy nhiên còn chưa rõ liệu cha mẹ mắc ung thư thư khi đã già có di truyền sang con hay không.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu gồm gần 8 triệu người Thụy Điển và cha mẹ của họ. Theo nghiên cứu được đăng tải trực tuyến trên tờ BMJ ngày 20/12 thì nguy cơ ung thư cao nhất là ở những người có cha mẹ bị bệnh ung thư khi còn trẻ.

Tuy nhiên nguy cơ con bị dạng ung thư giống cha mẹ cũng cao hơn đáng kể ở những người có cha mẹ bị ung thư khi ≥ 80 tuổi.

cha-me
Ảnh minh họa

Nguy cơ tăng tương ứng là 1,6% đối với u lympho không Hodgkin, 2,8% đối với ung thư bàng quang, 3,5% đối với ung thư da, 4,6% đối với u hắc tố, 5% đối với ung thư phổi, 6,4 đối với ung thư đại-trực tràng, 8,8% đối với ung thư vú và 30,1% đối với ung thư tuyến tiền liệt.

Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng khoảng 35-81% các trường hợp ung thư ở cha mẹ xảy ra khi họ ngoài 69 tuổi.

Các nhà nghiên cứu kết luận trong mục thông tin mới của tạp chí rằng các yếu tố không phải di truyền không thể lý giải về việc tăng nguy cơ ung thư ở những người có cha mẹ mắc ung thư. Điều này đồng nghĩa với nguy cơ ung thư có tính gia đình phần lớn là do di truyền.

Mặc dù nghiên cứu này phát hiện ra mối liên quan giữa cha mẹ bị bệnh ung thư và nguy cơ cao hơn ở con, song nó không chứng minh mối quan hệ nhân quả.

 (Theo ANTD)

Chuyện của cậu bé hẹp thực quản

9 năm gặp lại, vẻ hạnh phúc vẫn hiện trên gương mặt Phong và cha mẹ cậu khi chúng tôi nhắc đến ca mổ năm xưa của Phong. Ba Phong chia sẻ: “Ngày đó nghĩ đến cảnh con mình lớn lên với việc ăn uống khó khăn, đeo ống bên hông mà đau cả lòng. Lúc đó chúng tôi đã đi nhiều bệnh viện nhưng ai cũng từ chối. May mắn thay gặp bác sỹ Dumas và các bác sỹ bệnh viện FV. Phải nói là các bác sỹ đã trả lại cho con chúng tôi hương vị của cuộc đời.”

Sau ca mổ, Phong đã có thể thưởng thức các món ăn mà mình yêu thích (Ảnh được cung cấp bởi Bệnh viện FV)

Cậu bé Phong chào đời trong niềm hy vọng và hạnh phúc của cha mẹ. Anh chị Lai chăm sóc con trai thật cẩn thận, nhưng cậu bé vẫn làm biếng ăn và hay bị ói sữa ngay sau khi vừa ăn xong. Đến khi Phong ăn dặm, cậu ăn rất chậm mới hết bát bột và thường xuyên mắc nghẹn. Thấy con không bình thường, anh chị đưa con đến bệnh viện Nhi Đồng 1 kiểm tra thì biết được con trai mình bị chứng hẹp thực quản bẩm sinh. Chính vì chứng bệnh trên mà Phong thường khó ăn và nôn ói sau khi ăn.

Hoang mang vì lần đầu tiên nghe căn bệnh này, cha mẹ Phong năn nỉ bác sỹ chữa cho con mình dù tốn bao nhiêu tiền cũng chấp nhận, nhưng bác sỹ từ chối vì vào thời điểm đó, các cơ quan y tế chưa có kỹ thuật để chữa căn bệnh của Phong. Các bác sỹ hẹn cha mẹ Phong khi nào có đoàn bác sỹ nước ngoài sang sẽ hỗ trợ chữa bệnh cho Phong. Trong thời gian chờ đợi, Phong phải ăn bằng cách đặt ống thông vào dạ dày. Ba mẹ đành nấu chín thức ăn, chắt thành nước bơm vào ống cho Phong để cậu đủ dinh dưỡng. Cậu bé lớn dần với ống thức ăn bên hông.

Năm Phong 8 tuổi, một lần vô tình đi ngang bệnh viện FV khi ấy vừa khánh thành, cha mẹ cậu ghé vào tìm hiểu thông tin. Được sự hướng dẫn tận tình của nhân viên bệnh viện, anh chị khấp khởi trong lòng. Hôm sau họ lập tức đưa con quay lại.

Thật may mắn vì thời điểm đó Tiến sĩ – bác sĩ Pierre – Joseph Dumas, chuyên gia phẫu thuật hàng đầu của Pháp đến thăm khám và làm việc tại bệnh viện. Sau khi kiểm tra cho Phong, bác sỹ Dumas hội chẩn với kíp mổ và quyết định: “Hẹp thực quản là một bệnh lý bẩm sinh cần được can thiệp ngoại khoa càng sớm càng tốt. Việc chậm điều trị có thể dẫn đến biến chứng viêm thực quản, viêm thanh quản, viêm phế quản phổi, hen suyễn, viêm tai, viêm xoang. Biến chứng muộn nguy hiểm hơn là hẹp thực quản, thậm chí ung thư thực quản…”

Với kinh nghiệm và kỹ thuật y khoa, bác sỹ Dumas đã đưa ra những quyết định khiến mọi đồng nghiệp vô cùng yên tâm. Kết quả ca mổ đã tiến hành vô cùng tốt đẹp.

Sau ca mổ, lần đầu tiên được ăn trọn vẹn một viên kẹo dẻo mà không phải nhả ra, Phong đã reo lên mừng rỡ: “Con ăn được rồi nè mẹ! Ba thấy không ba!” Cha mẹ cậu chỉ biết rưng rưng nước mắt mà bắt tay các bác sỹ cám ơn không ngừng. Cậu bé háo hức nếm và ăn tất cả những món mình ưa thích mà trước đến giờ không được ăn. Vẻ hạnh phúc hiện rõ trên gương mặt trẻ thơ của cậu.

Bây giờ Phong đã trở thành một cậu thiếu niên khỏe mạnh, cao to và mang nhiều hoài bão được làm việc cống hiến cho xã hội. Cậu chia sẻ: “Em cảm thấy cuộc đời mình đã lật sang trang mới từ sau ca mổ đó. Phép màu đó đến từ các bác sỹ.”

Sắp tới đây, từ ngày 12 đến 30 tháng 11 năm 2012 Tiến sĩ – bác sĩ Pierre – Joseph Dumas sẽ đến làm việc tại Bệnh viện FV. Một cơ hội cho các bệnh nhân tiếp cận kỹ thuật y khoa và kinh nghiệm chữa bệnh dày dạn của vị bác sỹ này.

Tiến sĩ – bác sĩ Dumas tốt nghiệp đại học Y khoa tại Pháp từ năm 1972. Với gần 40 năm kinh nghiệm và kiến thức y học uyên thâm, Tiến sĩ – bác sĩ Dumas được các đồng nghiệp nể trọng như một bậc thầy trong lĩnh vực phẫu thuật lồng ngực, mạch máu và tiêu hóa. Ngoài ra, ông còn là một trong những thành viên sáng lập Bệnh viện FV ngay từ những ngày đầu mới thành lập.

Lĩnh vực phẫu thuật chuyên sâu của Tiến sĩ – bác sĩ Dumas bao gồm:

  • Phẫu thuật tuyến giáp và cận giáp (đã thực hiện hơn 2.800 ca phẫu thuật)
  • Phẫu thuật nội tạng ít xâm lấn vùng ngực và bụng (nội soi lồng ngực, ổ bụng hoặc phẫu thuật nội soi hỗ trợ) ở các vị trí như thành bụng, thoát vị thành bụng, phổi, thực quản, dạ dày (trào ngược dạ dày thực quản do thoát vị hoành, loét, ung thư), đại tràng, trực tràng (cắt khối u, túi thừa), đường mật, túi mật, sỏi túi mật
  • Tái tạo thực quản, tạo hình thực quản dạ dày hoặc đại tràng (hẹp đường tiêu hóa, ung thư).

Trong suốt quãng thời gian công tác của mình, Tiến sĩ – bác sĩ đã đảm trách các chức vụ quan trọng tại các bệnh viện hàng đầu của Pháp như Trưởng bộ phận phẫu thuật cổ – lồng ngực và mạch máu, Trưởng bộ phận phẫu thuật tiêu hóa và nội tiết của Bệnh viện Đại học CHU, Bordeaux, Pháp từ năm 1977 – 1980. Ngoài ra, ông còn phụ trách giảng dạy về lâm sàng tại các bệnh viện ở Bordeaux về ngoại tổng quát và tiêu hóa trong năm 1980 – 1981 và làm Trưởng khoa tại Bệnh viện Đại học Riom từ tháng 10/1981. Năm 1993, ông được chính phủ Pháp giao nhiệm vụ ngoại giao tại Ả-rập Xê-út và làm trưởng khoa Ngoại của KFFMC tại Dahran.

Với kinh nghiệm dày dạn, ban giám đốc Bệnh viện FV đã tin tưởng giao trọng trách cho Tiến sĩ – bác sĩ Dumas khi đề cử ông đảm nhiệm chức vụ trưởng khoa Ngoại từ tháng 1/2003 đến tháng 4/ 2004. Sau đó, bác sĩ Dumas tiếp tục công tác tại Bệnh viện FV trong vai trò là bác sĩ làm việc định kỳ đến nay. Suốt thời gian công tác tại Bệnh viện FV. Ngoài tạo hình thực quản, một phẫu thuật phức tạp đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, bác sĩ Dumas còn phẫu thuật thành công cho nhiều ca bệnh bướu máu, bướu bạch huyết, phình động mạch, dãn tĩnh mạch chi dưới, u bao tử, u phổi và các trường hợp bệnh nhân biến chứng sau phẫu thuật cơ quan tiêu hóa như gan, mật, ống tiêu hóa, dạ dày, trực tràng, hậu môn… Tất cả bệnh nhân đều rất hài lòng với kết quả điều trị.

Để biết thêm chi tiết hoặc đặt hẹn với bác sĩ Pierre – Joseph Dumas, mời bạn liên hệ với khoa Ngoại, Bệnh viện FV qua số điện thoại: (08) 5411 3333 (ext: 1250) hoặc đặt hẹn trực tuyến bằng cách bấm vào đây.

Dấu hiệu đi tiêu ra máu ở trẻ

Một người mẹ chia sẻ: ‘Gần đây, bé nhà tôi thường ‘ị’ ra phân có lẫn một ít máu. Điều này có nghiêm trọng không?’.

Chuyên gia William Sear giải đáp trên Pareting như sau:

Tiêu ra máu ở bé là phổ biến và gần như vô hại, có thể do một vết rách nhỏ trong trực tràng (gọi là vết nứt trực tràng) khi bị táo bón. Dù vậy, bạn cũng nên tìm cách giúp làm mềm phân cho bé, vì nứt trực tràng có thể khiến bé khó chịu và quấy khóc.

Nứt trực tràng do táo bón thường xuất hiện ở bé bú bình và bé ăn dặm. Vì thế, nếu bé đang bú bình, bạn có thể hỏi bác sĩ của bé về việc đổi sang một loại sữa thân thiện với ruột hơn. Hoặc hỏi xem ngoài bú bình, có cần cho bé uống thêm nước lọc.

Với bé trên 6 tháng, nên dùng nước ép (hoặc xay sinh tố mận, mơ) pha loãng, rồi nấu cùng bột ngọt ăn dặm để tăng cường chất xơ. Ngoài ra, có thể pha loãng nước ép mận với nước lọc theo tỷ lệ 1:1 và cho bé uống. Đồng thời, bạn cũng nên hỏi bác sĩ xem liệu có nên cắt giảm bột ăn dặm để hạn chế táo bón cho bé.

Để giúp bé đi tiêu mà không đau, có thể bôi chút dầu trơn bên ngoài hậu môn cho bé 1-2 lần/ngày. Khoảng 5-10 ngày, vết nứt trực tràng sẽ lành hẳn.

Tuy nhiên, nếu bé vẫn đi tiêu đều thì đó không phải dấu hiệu của táo bón. Tần suất đi tiêu có thể thay đổi tùy thời gian mà không có dấu hiệu khác lạ nào đi kèm. Bé có thể 1-2 ngày mới ra “sản phẩm hạng nặng” một lần (bé bú mẹ ít đi tiêu hơn bé bú bình do sữa mẹ dễ tiêu hóa hơn nên ít có chất cặn bã tạo thành phân hơn).

Trường hợp nên cho bé đi khám: Bé đi tiêu ra máu kéo dài; bé khó khăn khi “rặn” (dấu hiệu cho thấy bé không nhận đủ nước). Bác sĩ có thể kê toa thuốc chống táo bón cho bé hay đề nghị các xét nghiệm bổ sung.

Meo.vn (Theo Mevabe)

Phòng tránh ung thư ruột kết

Ung thư đại trực tràng (ruột kết) là bệnh ung thư phổ biến thứ ba trên toàn thế giới, còn ở Mỹ cứ 9,3 phút lại có một người tử vong vì căn bệnh này, vì thế mà tháng 3 ở Mỹ là Tháng Quốc gia nhận thức về ung thư ruột kết. Đáng chú ý là ung thư đại trực tràng có thể ngăn chặn được hoàn toàn nếu phát hiện từ đầu. 

Một nghiên cứu công bố trên Tạp chí Y học New England ngày 23-2-2012 cho thấy rằng những người từng nội soi đại tràng có khả năng chết vì ung thư ruột kết trong 15 năm tiếp theo ít hơn 53% so với những người chỉ có xét nghiệm máu ẩn trong phân. Vì vậy, thực hiện cả hai biện pháp sàng lọc nói trên sau 50 tuổi và lặp lại thường xuyên theo khuyến cáo của bác sĩ có thể bảo toàn mạng sống.

Hơn 90% người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư ruột kết trên 50 tuổi. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong 4 người trên 50 tuổi thường 1 người có khối polyp. Polyp là tiền thân có thể phát triển thành ung thư. Nội soi đại tràng không chỉ tìm thấy khối u, mà còn loại bỏ chúng trước khi chúng chuyển thành ung thư. Nhiều người tránh nội soi đại tràng bởi vì sợ đau nhưng không hoàn toàn như vậy.

Ngoài ra, còn có một số biện pháp khác giúp ngăn ngừa căn bệnh ung thư phổ biến này:

Chế độ ăn uống lành mạnh. Trái cây và rau quả cũng như chế độ ăn nhiều chất xơ đều làm giảm nguy cơ ung thư ruột kết. Mỡ động vật như thịt đỏ làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết. Một nghiên cứu mới đây cho biết, ngũ cốc nguyên cám cũng có thể làm giảm nguy cơ này.

Theo dõi cân nặng. Béo phì tăng nguy cơ ung thư ruột kết cho tất cả mọi người, mặc dù ở nam giới béo phì thì nguy cơ cao hơn. Hình dáng cơ thể cũng là vấn đề đáng quan tâm, một người béo bụng thì khả năng mắc ung thư ruột kết nhiều hơn so với người tích mỡ ở đùi hoặc hông.

Năng vận động. Tập thể dục làm giảm nguy cơ ung thư ruột kết đến 40%. Tất nhiên, tập thể dục cũng làm giảm các yếu tố nguy cơ khác cho bệnh này như béo phì hay tiểu đường.

Quan tâm đến yếu tố di truyền. Thực tế cho thấy, tiền sử gia đình đã có người bị ung thư dạ dày, gan và ung thư xương là động lực để kiểm soát ung thư ruột kết. Bệnh sử cá nhân cũng cần lưu ý vì phụ nữ có tiền sử ung thư buồng trứng, (màng) dạ con, hoặc ung thư vú sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột kết cao hơn.

Không hút thuốc. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Nó cũng là một yếu tố nguy cơ của ung thư ruột kết bởi khói thuốc lá hít vào hoặc nuốt phải mang chất gây ung thư đại tràng. Nghiên cứu cho thấy polyp sẽ tăng kích thước nếu hút thuốc lá. Đó chính là lý do cần thiết nữa để cấm thuốc lá.

Giảm tiếp xúc với bức xạ. Thế giới chúng ta đang sống bao bọc một lượng bức xạ nhỏ như đất, đồ điện tử… Một số kiểm tra y tế như chụp X-quang, chụp X-quang tuyến vú và ngực có bức xạ tương đối thấp nhưng nếu chụp cắt lớp thì nhiễm bức xạ cao hơn.

Đi khám nếu có dấu hiệu bất thường. Trường hợp cần kiểm tra là khi phát hiện đại tiểu tiện bất thường, phân lỏng hay phân có máu, bị chuột rút, giảm cân không rõ nguyên nhân…

(Theo ANTD)

Gel ngăn ngừa lây lan HIV do quan hệ “cửa sau”

Các nhà khoa học đã tái tạo gel tenofovir để có thể sử dụng an toàn ở hậu môn.

Thuốc kháng retrovirus tenofovir được cho thấy trong các thử nghiệm là phần nào giúp phòng ngừa lây truyền HIV qua giao hợp đường âm đạo. Tuy nhiên, thuốc này có thể gây tác dụng phụ nguy hiểm khi sử dụng đường trực tràng, với nguy cơ nhiễm HIV do tình dục đường hậu môn cao hơn 20 lần so với quan hệ đường âm đạo.

Một nhóm các nhà khoa học thuộc Đại học Pittsburgh, Đại học Alabama, Birmingham đã  tái tạo gel tenofovir để có thể sử dụng an toàn ở hậu môn.

Các tác giả nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng gồm 65 nam giới và phụ nữ được chia làm 4 nhóm; một nhóm sử dụng công thức gel tenofovir đường trực tràng, nhóm thứ hai sử dụng gel spermicidal, nhóm thứ 3 dùng giả dược và nhóm thứ 4 không sử dụng gel được xem là nhóm chứng.

Các nhà nghiên cứu báo cáo không có tác dụng phụ nghiêm trọng do công thức tenofovir mới, và khoảng 87% số đối tượng tham gia sử dụng gel này trong thời gian nghiên cứu cho biết họ sẽ sử dụng lại.

BACSI.com (Theo ANTD)

Tăng tuổi thọ cho bệnh nhân bị ung thư

Thời gian sống sót của những người mắc một số loại ung thư, đặc biệt là ung thư vú và ruột kết, tăng đáng kể trong 40 năm qua.

Dựa trên phân dữ liệu liên quan tới 20 loại ung thư, các nhà nghiên cứu Anh thấy rằng thời gian sống thêm trung bình của những bệnh nhân ở Anh và xứ Wales tăng lên 5,8 năm trong giai đoạn 1971 – 2007.

Các nhà nghiên cứu cho rằng con số này sẽ giúp các bệnh nhân lạc quan hơn về thời gian sống, thay vì chỉ nghĩ đến các mốc như 1, 5 hay 10 năm.

Thời gian sống thêm của bệnh nhân của 6 loại ung thư, trong đó có ung thư ruột kết, ung thư vú và ung thư hạch bạch huyết là hơn 10 năm. Những người bị ung thư ruột kết còn sống thêm được hơn 17 năm, ung thư hạch bạch huyết 10 năm và ung thư trực tràng 7 năm.

Thời gian sống thêm của những người bị ung thư vú cao gấp đôi so với giai đoạn trước.

Tế bào ung thư dưới kính hiển vi. (Nguồn: Guardian)

Thời gian sống lâu hơn của những người mắc 5 loại ung thư là hơn 5 năm, nhưng với 9 loại ung thư khác thì người bệnh chỉ sống thêm được chưa tới 3 năm.

Thời gian sống thêm của người bị ung thư phổi và não tăng rất ít, chỉ từ 11 – 28 tuần. Người mắc ung thư tuyến tụy cũng chỉ sống thêm được 3 tuần.

Người bị bạch cầu và ung thư tủy chỉ sống thêm được 2 – 3 năm. Người mắc ung thư dạ dày và ung thư thực quản không sống thêm được nhiều sau khi bị chẩn đoán ung thư.

Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các loại ung thư. Vì thế, các nhà khoa học cho rằng cần đầu tư hơn nữa cho việc nghiên cứu, phẫu thuật và điều trị các loại ung thư ít được chẩn đoán chính xác.

Meo.vn (Theo Baodatviet)

9 bệnh hay gặp ở đàn ông trên 70 tuổi

Bệnh viện Mayo Clinic (Mỹ) vừa giới thiệu một số hướng dẫn về khám bệnh theo giới tính và độ tuổi, trong đó đặc biệt chú ý đến 9 loại bệnh thường gặp sau đây.

bệnh hay gặp ở đàn ông trên 70 tuổi

1. Bệnh phình động mạch chủ vùng bụng

Nếu thuộc nhóm người đã từng hút trên 100 điếu thuốc lá trong cuộc đời thì giới chuyên môn khuyên nên đi siêu âm để biết sức khoẻ vùng bụng, đặc biệt là bệnh phình động mạch chủ vùng bụng, để theo dõi và điều trị càng sớm càng tốt.

2. Bệnh cao huyết áp

Cao huyết áp là căn bệnh phát triển tỷ lệ thuận với độ tuổi, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng lớn, thủ phạm làm gia tăng bệnh tim mạch và các loại bệnh nan y khác. Nếu số đo huyết áp nhỏ hơn 120/80mmHg thì 2 năm nên đi khám một lần. Nếu từ 120 – 139mmHg và từ 80 – 89 mmHg (ở cả hai chiều cực đại và cực tiểu), mỗi năm nên đi khám một lần. Nếu từ trên 140/90mmHg, nên đi khám thường xuyên hơn hoặc theo khuyến cáo của bác sĩ.

3. Cholesterol

Xét nghiệm cholesterol nhằm để biết hai chỉ số về là cholesterol và triglycerides có trong máu. Nếu vượt ngưỡng cho phép có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đột quỵ. Đây là nhóm bệnh “giết người thầm lặng” bởi không có dấu hiệu nhận biết. Những người có tiền sử mắc bệnh tim mạch, mỡ máu cao thì nên đi khám và làm xét nghiệm. Xét nghiệm cholesterol (thử máu) để biết mức độ các loại mỡ (lipid) trong máu hay còn gọi là xét nghiệm Lipid panel. Mục đích của phép xét nghiệm này là để biết cholesterol toàn phần, HDL (High-density Lipoprotein) hay còn gọi là mỡ máu tốt và hàm lượng triglycerides.

4. Kiểm tra ung thư ruột kết và ung tnhư trực tràng

Khi bước vào tuổi 50, bác sĩ thường khuyến cáo đàn ông nên đi kiểm tra sức khoẻ để biết rủi ro mắc bệnh ung thư ruột kết và trực tràng, đặc biệt là nhóm người có tiền sử gia đình mắc bệnh, hoặc mắc bệnh polyp đại tràng và bệnh viêm ruột. Các phép xét nghiệm nên làm:

– Soi ruột già: bác sĩ sẽ dùng một dụng cụ soi ruột kết (colonoscope) đưa vào trực tràng để biết sức khoẻ toàn bộ chiều dài của đại tràng.

– Nội soi đại tràng ảo: sử dụng máy chụp cắt lớp vi tính (CT) để chụp cắt lớp các cơ quan bụng, kể cả đại tràng.

– Xét nghiệm máu ẩn trong phân (FOBT). Trong kỹ thuật này người ta lấy phân đưa đi xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để phát hiện máu ẩn trong phân.

– Kỹ thuật soi đại tràng linh hoạt (Sigmoidoscopy), sử dụng thiết bị soi đưa vào đại tràng giúp bác sĩ biết được tình trạng cụ thể của phần dưới đại tràng.

– Xét nghiệm ADN phân: đây là phép xét nghiệm để phát hiện các đột biến ADN, kể cả sự có mặt của khối u tiền ung thư hoặc ung thư ruột kết.

– Sử dụng thuốc xổ Bari: dùng hợp chất có chứa bari lỏng để xổ ruột kết, sau đó chụp X-quang đại tràng phát hiện nhanh những nguy cơ gây ung thư từ giai đoạn đầu.

5. Kiểm tra răng lợi

Khi tuổi cao, nên thường xuyên đi thăm khám bác sĩ nha khoa để kiểm tra răng lợi, tần suất 6 tháng/lần. Qua khám bệnh, bác sĩ có thể làm sạch răng sau đó đánh giá mức độ sâu răng và các chứng bệnh có liên quan khác. Cùng với việc khám răng, bác sĩ có thể kiểm tra sức khỏe mặt, cổ và những bất thường khác có trong miệng để đưa ra những tư vấn phòng ngừa và chữa trị kịp thời. Đây là công việc quan trọng, bởi răng lợi nó còn liên quan mật thiết đến sức khoẻ chung của cơ thể, nhất là dấu hiệu mắc bệnh tim mạch và ung thư miệng, vòm họng và đường hô hấp.

6. Bệnh đái tháo đường

Theo khuyến cáo của giới chuyên môn, khi bước vào tuổi 45 trở ra đàn ông nên đi kiểm tra đường huyết để biết được nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường. Phương pháp kiểm tra nhanh đường huyết (glucose) thường được làm trước khi ăn. Người mắc bệnh tiểu đường có đường máu lúc đói ≥ 126mg/dl (≥ 7 mmol/l), thử ít nhất 2 lần liên tiếp. Đường máu sau ăn hoặc bất kỳ ≥ 200mg/dl (≥ 11,1 mmol/l). Nếu mức đường máu lúc đói từ 5,6 đến 6,9 mmol/l được gọi là rối loạn dung nạp đường khi đói và tuy chưa được xếp vào nhóm bệnh nhân đái tháo đường, nhưng nhóm người này cũng không được coi là bình thường vì theo thời gian, rất nhiều người người rối loạn dung nạp đường khi đói sẽ tiến triển thành đái tháo đường thực sự nếu không có lối sống tốt.

7. Mắt

Để đảm bảo sức khoẻ mắt, giới chuyên môn khuyên đàn ông trên 70 tuổi nên đi khám mắt thường xuyên. Bác sĩ sẽ kiểm tra chuyển động của mắt, khả năng thị lực, áp lực mắt, khả năng nhận biết màu sắc và độ nét thị lực. Việc kiểm tra thị lực thường xuyên giúp con người biết được tình trạng sức khoẻ của mắt, đặc biệt, phát hiện nguy cơ mắc bệnh tăng nhãn áp, thoái hoá điểm vàng, đục thuỷ tinh thể và các chứng bệnh nan y khác về mắt.

8. Ung thư tuyến tiền liệt

Đối với nhóm người trên 70, hàng năm nên đi kiểm tra tuyến tiền liệt và làm phép xét nghiệm PSA (kháng nguyên đặc trưng tuyến tiền liệt) để biết tình trạng sức khoẻ tuyến tiền liệt, đặc biệt là nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Sàng lọc bệnh ung thư tuyến tiền liệt bao gồm xét nghiệm trực tràng bằng kỹ thuật số (DRE) hoặc PSA. Trong quá trình thử DRE, bác sĩ sẽ đưa một ngón tay đeo găng bôi trơn vào trực tràng người bệnh để kiểm tra tuyến tiền liệt và kiểm tra xem các khối u trong tuyến tiền liệt. PAS là phép thử máu để biết số lượng protein do tuyến tiền liệt bài tiết, còn phép thử DRE có thể phát hiện bệnh phì đại tuyền tiền liệt hoặc ung thư tiền liệt tuyến. Nếu hàm lượng PSA cao thì rủi ro mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt là rất lớn.

9. Kiểm tra trọng lượng cơ thể

Mỗi năm, nhóm người cao niên nên đi kiểm tra chiều cao, trọng lượng và chỉ số trọng lượng cơ thể (BMI) ít nhất 1 lần. BMI được tính bằng công thức: BMI= trọng lượng: (chiều cao)2. Trọng lượng tính bằng kilôgam, chiều cao tính bằng mét. Ví dụ, một người nặng 55 kg, cao 1,6m thì BMI = 55: (1,6)2 = 21,48 . Nếu IBM 18,5 – 24,9 là bình thường, nếu từ BMI = 25 – 30 là thừa cân và trên 30 được xem là béo phì. Nhờ biết được BMI sẽ giúp mọi người biết được trọng lượng cơ thể hợp lý, nhất là tăng cân, béo phì, để điều chỉnh lối sống và ăn uống cho phù hợp bởi béo phì ở người già liên quan tới rất nhiều bệnh nan y, trong đó có ung thư, tiểu đường và tim mạch.

Meo.vn (Theo Sức khỏe & Đời sống)

Bệnh thường gặp ở người già và cách phòng ngừa

Tuổi càng cao thì sức khỏe càng yếu dần và nhiều chức năng của cơ thể bị suy giảm, trong đó có hệ thống miễn dịch. Sự suy giảm chức năng ở mỗi người thường không giống nhau.

Nhưng có một điều thường giống nhau ở người cao tuổi (NCT) là tuổi càng cao thì càng dễ mắc bệnh và bệnh mạn tính cũng thường hay bị tái phát. Bởi vì trong vô số các chức năng sinh lý của NCT bị suy giảm thì chức năng đề kháng của cơ thể cũng bị suy giảm, các loại bệnh cũng theo đó mà phát sinh.

Bệnh thường gặp ở người cao tuổi

Bệnh về hệ thống tuần hoàn

Trong số các bệnh về tim mạch ở NCT thì bệnh xơ vữa động mạch, bệnh thiểu năng mạch vành, bệnh tăng huyết áp… chiếm một tỷ lệ đáng kể. Trong một số trường hợp, các loại bệnh này thường thấy ở những người béo phì, nghiện bia, rượu chiếm tỷ lệ cao hơn những người không nghiện bia rượu.

Bệnh về hệ hô hấp

Bệnh viêm họng, viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, tâm phế mạn tính, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là những bệnh gặp khá nhiều ở NCT, nhất là ở những người có tiền sử hoặc đang hút thuốc lá, thuốc lào, những người sống trong tình trạng thiếu dưỡng khí như: nhà chật hẹp, thiếu ánh sáng, khói bếp nhiều… Đặc điểm của bệnh vê đường hô hấp lại thường hay xảy ra vào mùa lạnh, thay đổi thời tiết, lúc giữa đêm gần sáng do đó rất dễ làm cho NCT mất ngủ kéo dài.


Ảnh: Internet

Bệnh về đường tiêu hóa

NCT rất dễ mắc bệnh rối loạn tiêu hóa như: viêm loét miệng, ăn không tiêu, đầy hơi, chướng bụng, táo bón hoặc đi lỏng. Táo bón là một bệnh do nhiều lý do khác nhau nhưng trong đó có một lý do mà NCT hay gặp phải là ít vận động. NCT thường ngồi một chỗ thêm vào đó ít ăn rau, uống ít nước cho nên phân ứ lại lâu ngày ở trực tràng làm cho các mạch máu trực tràng giãn ra gây nên bệnh trĩ. NCT cũng có thể mắc bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng, trào ngược thực quản hoặc viêm đại tràng mạn tính. Các loại bệnh dạng này thường làm cho NCT rất khó chịu, gây lo lắng, ăn không ngon, ngủ không ngon giấc hoặc kém ngủ, mất ngủ kéo dài. Mất ngủ lại làm cho nhiều bệnh tật phát sinh.

Bệnh về hệ tiết niệu – sinh dục

NCT cũng rất dễ mắc các bệnh về hệ tiết niệu- sinh dục, đặc biệt là u xơ tiền liệt tuyến hoặc ung thư tiền liệt tuyến. Những bệnh về sinh dục – tiết niệu thường có hiện tượng đi tiểu nhiều lần, tiểu dắt, tiểu són, nhất là vào ban đêm gây nhiều phiền toái cho NCT.

Bệnh về hệ xương khớp

Đau xương, khớp, thoái hóa khớp nhất là đốt sống thắt lưng, khớp gối hoặc bệnh gút làm cho người bệnh đau đớn, lo lắng, buồn chán, nhất là khi thay đổi thời thiết. Thoái hóa khớp gối, gây biến chứng cứng khớp gây đau khớp gối và vận động khó khăn mỗi buổi sáng lúc bắt đầu ngủ dậy. Triệu chứng đau nhức các khớp xương tương đối phổ biến ở NCT, đặc biệt là về đêm gây khó chịu ảnh hưởng đến sức khỏe và gây mất ngủ hoặc ngủ không sâu, không ngon giấc.

Về hệ thần kinh trung ương

Hầu hết NCT do hệ thần kinh trung ương bị lão hóa dần nên làm cho trí nhớ kém, hay quên, cá biệt mắc một số bệnh như: Parkinson hoặc Alzheimer.

Rối loạn một số chỉ số về mỡ máu (cholesterol, triglycerid), rối loạn về chức năng gan (SGOT, SGPT), đái tháo đường cũng là một số biểu hiện dễ bắt gặp ở NCT. Đi kèm các rối loạn một số chỉ số này thường gặp ở người có tăng huyết áp, viêm gan, nghiện rượu… Bệnh đái tháo đường tuy không chỉ gặp ở NCT mà còn gặp ở tuổi trẻ nhưng với NCT thường ít được phát hiện mà khi đã phát hiện thì thường muộn, đôi khi đã có biến chứng.

Ngoài ra, người ta còn thấy NCT thường thiếu một lượng nước cần thiết do thói quen ăn, uống ít nước hoặc ăn nhiều chất đạm như: cá, trứng, thịt gà, thịt lợn, thịt bò, thịt chó… làm xuất hiện một số bệnh về đường tiêu hóa hoặc làm da khô, nứt nẻ khó chịu…

Một số biện pháp phòng ngừa

Nên đi khám bệnh định kỳ, nhất là mỗi khi nghi bản thân mình có bệnh. Khám bệnh, thầy thuốc sẽ phát hiện ra bệnh và sẽ có những lời khuyên và tư vấn hữu ích.

Nên tập thể dục đều đặn như tập hít thở trước và sau khi ngủ dậy, tập vận động tay chân, xoa, bóp các cơ bắp. Không nên nằm hoặc ngồi lâu một chỗ. Có thể tập nhẹ nhàng trong nhà, trong vườn hoặc có điều kiện thuận lợi như gần công viên, câu lạc bộ nên đến những nơi này để vừa tập vừa có cơ hội gặp gỡ bạn bè trao đổi, tâm sự phần để giải tỏa một số bức xúc và có thể học tập kinh nghiêm lẫn nhau trong việc gìn giữ, bảo vệ sức khỏe thì càng tốt.

Để tránh thiếu lượng nước cần thiết nên uống nước đều đặn và đầy đủ vào buổi sáng. Cần ăn nhiều rau, cũng là một hình thức cung cấp một lượng nước đáng kể, cung cấp chất xơ để hạn chế táo bón. Buổi tối trước khi đi ngủ không nên uống nhiều nước có thể gây nên hiện tượng tiểu đêm làm ảnh hưởng đến giấc ngủ.

Buổi tối cũng không nên uống rượu, bia, không nên hút thuốc lá, thuốc lào. Ngoài ra, gia đình của NCT (con, cháu) nên gần gũi, động viên, chăm sóc ông bà, bố mẹ những lúc ốm đau cũng góp phần đáng kể làm cho NCT ít bệnh tật và cảm thấy sống vẫn còn có ích.

Meo.vn (Theo SK&ĐS)

Ung thư trực tràng giai đoạn 1-3 nếu phẫu thuật và xạ trị thì khỏi bệnh được không BS?

Nếu ở giai đoạn 4 thì phương pháp trên có thể kéo dài sự sống được bao nhiêu năm?

Thưa các bác sĩ!

Cháu có câu hỏi nhờ các bác sĩ giải đáp giúp: Về bệnh ung thư trực tràng, cháu đã tìm hiểu qua mạng internet thì được biết tùy từng giai đoạn sẽ đưa ra tiên lượng tốt hay xấu. Cháu muốn hỏi thêm:

– Nếu ở giai đoạn từ 1-3 thực hiện phẫu thuật và xạ trị thì có thể khỏi được không hay tối đa cũng chỉ có thể sống thêm được 5 năm?

– Nếu ở giai đoạn 4 thì phương pháp trên có thể kéo dài sự sống được bao nhiêu năm?

Rất mong nhận được thông tin phản hồi của các bác sĩ. Trân trọng cảm ơn! (Nguyen Thi Thuy)

Ảnh minh họa

Trả lời:

Chào bạn,

Trước hết, bạn tham khảo điều trị căn bản của từng giai đoạn ung thư trực tràng sau đây:

– Giai đoạn 1: chỉ cần phẫu thuật, không cần hóa trị.

– Giai đoạn 2 hoặc 3, có hai lựa chọn điều trị như sau:

+ Phẫu thuật trước rồi sau đó hóa xạ trị kết hợp

+ Hóa trị trước, cho khối u nhỏ lại sau đó mới phẫu thuật rồi lại hóa trị bổ sung.

– Giai đoạn 4, phương pháp điều trị sẽ là hóa trị và có thể kết hợp phẫu thuật hoặc xạ trị tùy vào từng trường hợp cụ thể.

Tiên lượng của ung thư trực tràng tùy thuộc vào các yếu tố: giai đoạn bệnh, tại thời điểm phẫu thuật khối u có bị vỡ hay không, kết quả giải phẫu bệnh (loại tế bào đó là loại gì). Điều trị hóa trị chỉ là để giúp giảm nguy cơ tái phát và tử vong.

Khả năng sống và tái phát lệ thuộc vào từng giai đoạn bệnh, ở giai đoạn sớm cơ hội sống sót cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng là 5 năm là 75 – 90%, giai đoạn 2 cơ hội là 60%, và giai đoạn 3 là 30 – 45%. Ở giai đoạn 4, cơ hội là 5%. Ở giai đoạn 2 và 3, hóa trị sẽ giúp giảm tái phát.

Bên cạnh điều trị trên, bệnh nhân cần ăn nhiều rau quả, tập thể dục thể thao, tinh thần thoải mái và tái khám đều đặn.

Thân mến!

Meo.vn (Theo alobacsi)