Lưu trữ cho từ khóa: Thuốc chữa bệnh

bệnh mất ngủ: Thuốc chữa bệnh mất ngủ Melatonin

bệnh mất ngủ: Thuốc chữa bệnh mất ngủ Melatonin
Bệnh mất ngủ được định nghĩa là khó đi vào hay duy trì giấc ngủ, giấc ngủ không hoàn toàn hoặc chất lượng kém. Đây là một triệu chứng chứ không phải là bệnh. Những nguyên nhân thường gặp nhất gây mất ngủ là thuốc,
các tình trạng tâm lý (ví dụ như trầm cảm, lo âu), thay đổi môi trường(như là đi du lịch, đi máy bay hay thay đổi độ cao),và stress. Mất ngủ cũng có thể gặp do những thói quen ngủ sai như hay ngủ ngày hoặc dùng caffeine quá nhiều trong ngày.
Bệnh mất ngủ có thể phân loại theo thời gian kéo dài. Mất ngủ thoáng qua thường là do thay đổi hoàn cảnh như khi đi du lịch hay gặp stress. Nó kéo dài ít hơn một tuần hay cho đến khi giải quyết xong vấn đề stress. Mất ngủ ngắn hạn kéo dài từ 1-3 tuần, và mất ngủ dài hạn(mất ngủ mạn tính) kéo dài hơn 3 tuần. Mất ngủ mạn tính thường là do trầm cảm hay nghiện thuốc. Mất ngủ thoáng qua có thể tiến triển thành mất ngủ ngắn hạn, và nếu không điều trị đúng thì mất ngủ ngắn hạn sẽ trở thành mất ngủ mạn tính.
Café và caffeine, thuốc lá, rượu, thuốc chống xung huyết (như pseudoephedrine), thuốc lợi tiểu được dùng khi ngủ (Lasix/furosemide, Dyazide/hydrochlorothiazide), thuốc chống trầm cảm (như Bupropion, Prozac), thuốc làm giảm ngon miệng ( Merida, Fastin), thuốc an thần amphetamine là những chất hay dược phẩm có thể góp phần vào mất ngủ. Bệnh mất ngủ cũng có thể là kết quả của việc ngưng thuốc ngủ benzodiazepines (như Valium, Librium, Ativan), cai rượu, thuốc kháng histamin, amphetamine, cocaine và ma tuý.
Những thuốc thông thường (không cần toa-OTC) có thể dùng nếu mất ngủ .
Người ta khuyên chỉ tự điều trị Mất ngủ bằng thuốc thông thường (OTC) khi đó là mất ngủ thoáng qua hay ngắn hạn. Những OTC hỗ trợ giấc ngủ chỉ nên sử dụng trong thời gian ngắn và kết hợp với thay đổi thói quen ngủ. Sử dụng những thuốc này lâu ngày có thể gây nghiện, nghĩa là nếu không có nó thì không ngủ được. Đối với Bệnh Mất ngủ mạn tính thì nên đi bác sĩ.
Thuốc kháng histamine.
Hai thuốc kháng histamine gần đây trên thị trường được xem như là những OTC hỗ trợ giấc ngủ bao gồm diphenhydramine (như Sominex, Nytol) và doxylamine (Unisom). Diphenhydramine là thuốc duy nhất được FDA chứng nhận là an toàn và hiệu quả, trong khi độ an toàn và hiệu quả của doxylamine thì vẫn chưa được FDA chứng minh đầy đủ. Những tác dụng điều trị khác của diphenhydramine là trong dị ứng, say tàu xe và ho. Những nhà khoa học tin rằng hai thuốc này có tác dụng an thần qua cơ chế bất hoạt tác dụng của histamine trong não nhưng cơ chế chính xác thì chưa rõ.
Nếu mất ngủđi kèm với đau thì hiện tại có nhiều dược phẩm kết hợp giữa kháng histamine và giảm đau. Không nên dùng những loại thuốc này khi chỉ Bị Mất ngủ đơn thuần vì việc giảm đau là không cần thiết.
Thai kỳ và cho con bú : Tác động của diphenhydramine và doxylamine lên thai nhi vẫn chưa được đánh giá đầy đủ. Mặc dù khả năng gây hại lên thai nhi thấp nhưng có lẽ nên tránh dùng những thuốc này trong lúc mang thai. Cả hai thuốc trên có thể làm giảm khả năng tạo sữa. Thêm vào đó, chúng có khả năng được tiết vào sữa mẹ và tác động lên trẻ sơ sinh. Do đó, người mẹ trong thời kì cho con bú cũng nên tránh hai loại thuốc này. Trẻ em dưới 12 tuổi không được dùng doxylamine vì người ta vẫn chưa đánh giá được tác dụng của thuốc ở nhóm tuổi này.
Cả hai loại thuốc này có thể gây kích động nghịch thường do lo lắng và mất ngủ. Tình trạng này thường gặp ở trẻ em và người già.
Giới thiệu Melatonin Thuốc chữa bệnh mất ngủ
Melatonin còn được gọi là N-acetyl-5-methoxytryptamine, là một hóc môn tồn tại tự nhiên ở hầu hết các động vật, bao gồm cả con người, và một số sinh vật sống khác , kể cả rong. Mức độ lưu thông tuỳ thuộc vào chu kỳ sống hàng ngày, và melatonin đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì nhịp sống bình thường của một số chức năng sinh lý. Nhiều hệ quả sinh học của melatonin được tạo ra từ hoạt động của các melatonin co ứng, trong khi các hệ quả khác có vai trò kiểm soát và chống oxi hóa mạnh với chức năng chuyên biệt là bảo vệ nhân và mitochondrial DNA.
Melatonin (như Melatonex) là loại hormôn duy nhất dưới dạng OTC dùng khi mất ngủ. Melatonin là một hormôn được tạo ra ở tuyến tùng. Melatonin giúp điều hoà đồng hồ sinh học của cơ thể hay chu kì ngủ-thức. Melatonin được tăng tiết khi trời tối hay khi ánh sáng giảm. Cơ chế gây ngủ chính xác của melatonin vẫn chưa được biết. Melatonin cũng làm giảm sự tỉnh táo và thân nhiệt.
Melatonin được bán dưới dạng thành phần bổ sung vào khẩu phần ăn nên không được kiểm soát bởi FDA. Thuốc hay được dùng trên máy bay,lúc mất ngủ và khi rối loạn giấc ngủ do những lúc làm việc khuya. Một số bằng chứng chưa đầy đủ cho rằng melatonin có ích trong điều trị rối loạn giấc ngủ.
Liều lượng: Không có liều hay thời gian sử dụng cố định. Có thể tham khảo liều từ 5-10mg. Người sử dụng nên theo phần hướng dẫn sử dụng về liều lượng và cách dùng đi kèm.
Melatonin là một thuốc được sử dụng rộng rãi Chữa bệnh Mất ngủ (bán không cần đơn) ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ. Bản chất melatonin là một nội tiết tố tự nhiên do cơ thể tiết ra. Melatonin thường được tiết nhiều vào ban đêm. Các nghiên cứu cho thấy sự chế tiết melatonin trong cơ thể giảm dần theo tuổi. Melatonin được sử dụng phổ biến nhất trong việc điều hòa giấc ngủ và giúp chống tác hại của các gốc oxy hóa (anti-oxidant).
Viện nghiên cứu Sinh học và Y học của Mỹ đã ghi nhận một số tác dụng sau đây của melatonin:
Công dụng
Giúp điều hòa giấc ngủ và trị chứng bệnh mất ngủ do nhiều nguyên nhân khác nhau như: suy nhược thần knh, đau đớn ,do stress …
Giúp điều hòa nhịp sinh học cho những người đi xa, thay đổi giờ giấc sinh hoạt nhiều do khác múi giờ
Anti-oxidant: Giúp ngăn cản các tác động của các gốc oxy hóa tự do lên cơ thể .Có thể điều hòa và giúp tăng tiết growth hormone .Có thể giúp ngăn ngừa các loại ung thư vú, phổi, não và tuyến tiền liệt .Dùng thay thế Diazepam (thuốc an thần) khi nghiên thuốc này .hoặc dùng xen kẽ để dự phòng nghiện Diazepam
-Cải thiện giấc ngủ(cả thời gian và chất lượng) cho người lớn tuổi.Tạo giấc ngủ tự nhiên
Thành phần chính: Melatonin,vitaminB6,cellulose,wheat
Hướng dẫn sử dụng:Ngày 01 lần ,mỗi lần 1-2 viên.Nên uống trước khi đi ngủ 30 phút .Người lớn ngậm dưới lưõi 01 viên trước khi đi ngủ 20 phút .Giới hạn sử dụng trong 2 tháng (nghỉ 1 tuần) .Không chỉ định cho trẻ em và người dưới 20 tuổi ,phụ nữ có thai và cho con bú
Sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ . Đã được FDA của mỹ chứng nhận
Tài liêu tham khảo thêm : http://www.tin247.com/khac_phuc_tinh_trang_thieu_hoc_mon_“bong_dem”-10-110389.html
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc
CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Bệnh vẩy nến và Thuốc chữa Bệnh Vẩy Nến

Bệnh Vẩy NếnThuốc chữa bệnh vẩy nến
Bệnh Vẩy Nến do sự rối loạn điều tiết tạo nên một màng ngăn bám chặt trên da. Màng bám này sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết. Nhưng thay vì mất đi như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên thành từng vẩy trắng.
Bệnh Vẩy Nến thường xuất hiện ở đầu gối, khuỷu tay, da đầu nhưng đôi khi cả ở thân thể, gan bàn tay, bàn chân và các ngón chân. đôi khi xuất hiện toàn thân, các vảy trắng bong ra khi gãi và để lại một lớp dưới màu hồng, đôi khi có rớm máu
Vẩy Nến được xem như một tình trạng tăng sinh quá mức của các keratinocyte ở thượng bì dưới sự kích thích của các lymphocyte ở bì. Cơ chế chính xác và dây chuyền tương tác giữa các keratinocyte và các tế bào miễn dịch vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho thấy các tế bào T hoạt hóa là những chất điều chỉnh miễn dịch chủ yếu trong sinh bệnh học của vẩy nến.Thoạt đầu, các tế bào T hoạt hóa xâm nhập vào lớp bì ở vùng da tổn thương nhờ các phân tử kết dính tế bào và cytokine tiền viêm interleukin-8 (IL-8). Đa số tế bào T ở thượng bì là loại CD4+helper. Các tế bào T bị kích hoạt bởi các tế bào nhận diện kháng nguyên. Quá trình này sản xuất ra nhiều loại cytokine. Các tế bào T sản xuất IL-2 và interferon-y (INE-y) được gọi là tế bào Th1 và miễn dịch trung gian tế bào. Ngược lại, các tế bào T sản xuất IL-4, IL-5 và IL-10 được gọi là các thế bào Th2 và góp phần trong miễn dịch cơ thể. Các cytokime Th1 là những chất tiền viêm, còn các cytokine Th2 là những chất chống viêm. Trong vẩy nến, loại Th1 chiếm ưu thế còn Th2 ít hơn.
Triệu chứng cua Bệnh Vẩy Nến
Bệnh thường xuất hiện từ từ, tồn tại một thời gian rồi thuyên giảm. Sau đó bệnh tái phát, nhất là khi có chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng thuốc. Dấu hiệu đặc biệt nhất là những mảng vết thương trên da khô, hình bầu dục hoặc tròn, mầu hồng đỏ phủ lên trên là nhiều lớp vẩy mầu bạc. Các vết này rất ngứa và đau. Ngứa vì da khô và dây thần kinh dưới da bị một vài hóa chất kích thích, khiến cho não phát ra cảm giác ngứa, muốn gãi. Ngoài ra, dấu vết trên da có thể là:
Vẩy Nến giọt mầu đỏ hình bầu dục.
Vẩy Nến đảo ngược ở nếp gấp trên da như cơ quan sinh dục, nách.
Vẩy Nến mủ với bóng nước chứa mủ.
Vẩy Nến từng mảng lớn mầu đỏ với hậu quả trầm trọng như rối loạn thân nhiệt, mất cân bằng chất điện giải cơ thể.
Vẩy Nến khớp xương, gây trở ngại cho cử động.
Bệnh thường có trên da đầu, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị ảnh hưởng. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể.
Khi lành, vết thương thường không để lại sẹo và ở trên đầu, tóc vẫn mọc.
Trong 60% các trường hợp, móng tay móng chân cũng bị bệnh: móng chẻ, mất mầu dầy cộm nom như bị bệnh nấm.
Khoảng từ 10 tới 30% bệnh nhân bị viêm khớp-vẩy nến, thường thường ở tuổi 30 tới 50.
Xác Định Bệnh Vẩy Nến
Không có thử nghiệm máu hoặc phương thức khoa học nào để chẩn đoán bệnh. Bác sĩ xác định bệnh qua hình thù, mầu sắc của vẩy trên da, đôi khi lấy một chút mô ở vùng bệnh để tìm tế bào đặc biệt vẩy nến.
Tiên lượng bệnh Bệnh Vẩy Nến là bệnh không lây lan. Trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc, vẩy nến thường không gây ra ảnh hưởng xấu cho sức khỏe tổng quát. Nếu có, chỉ là một chút ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền lo âu vì da chẳng giống ai.
Bệnh nhẹ khi dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung bình khi da có dấu hiệu bệnh từ 3 đến 10% và nặng khi vẩy bao phủ 10% da.
Tế bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, chưa kịp rụng đã ra lớp khác nên các vẩy chùm đè lên nhau. Bệnh gây khó chịu nhất khi xuất hiện ở da đầu, bìu dái, bàn tay, bàn chân và móng tay. Vẩy nến ở lòng bàn tay, bàn chân gây nhiều khó khăn cho người bệnh khi đi đứng, lao động chân tay. Xương khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối, lưng quần và cổ cũng thường bị ảnh hưởng và gây ra trở ngại di động, làm việc cho người bệnh.
Điều trị Điều trị Bệnh Vẩy Nến là cả một thách thức với mục đích chính là gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của tế bào biểu bì, giảm viêm da, vẩy nến.
Có nhiều phương thức trị liệu khác nhau. Bác sĩ sẽ lựa phương thức thích hợp cho từng bệnh nhân và tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Điều trị tại chỗ bạn có thể tắm gội bằng Sastid hoặc Polytar. Bôi mỡ Salicylé 5% hoặc mỡ BenzoSaly vào tổn thương có nhiều vẩy. Nếu tổn thương bớt vảy hoặc hết vảy thì bạn có thể bôi các chế phẩm có chứa steroid như Temprosone, Flucinar, Synalar, Fucicort, Diprosalic…Song song là điều trị toàn thân khi bệnh trong giai đoạn bùng phát thì bạn nên dùng một đợt kháng sinh như Ampicilline hoặc Rovamycin. Có thể dùng thêm thuốc chống ngứa, chống dị ứng như Phenecgan hoặc Chlorpheniramine lúc đi ngủ.
Các phương thức điều trị đó là:
1- Thuốc thoa ngoài da:
Thuốc Chữa Bệnh Vẩy Nến :Với dạng bệnh nhẹ, thuốc thoa trên da có thể giải quyết vấn đề. Bệnh nặng hơn, cần phối hợp với thuốc uống hoặc chích.
a-Thuốc Corticosteroids như Ultravate, Tenovate, Psorcon, rất công hiệu và thường được dùng ở trường hợp bệnh nhẹ hoặc trung bình.
b-Thuốc Donovex thuộc nhóm Vitamin D tổng hợp làm giảm viêm và ngăn sự tăng sinh tế bào da.
c-Thuốc Retinoid từ sinh tố A như Tazorac.
2- Quang trị liệu với ánh sáng mặt trời, các tia tử ngoại B (UBV), quang hóa trị liệu PUVA (Psoralen Plus Ultraviolet A), laser xung nhuộm màu tía (Pulsed Dye Laser).
3- Dược Phẩm – Có nhiều dược phẩm đặc trị bệnh vẩy nến:
a- Rheumatrex (Methotrexate). Thuốc này được dùng trong trường hợp bệnh nặng, tái phát và không bớt sau khi dùng các phương thức khác. Thuốc phải do bác sĩ quyết định và theo dõi sau khi đã chẩn định bệnh bằng sinh thiết mô bào. Thuốc có nhiều tác dụng phụ mạnh.
b- Neoral (Cycloporine) Thuốc dùng khi bệnh nặng, không thuyên giảm với PUVA, Retinoid hoặc Methotrexate. Thuốc có thể gây ra cao huyết áp và bệnh thận.
c- Retinoid uống (Acitretin), Tegison cho các trường hợp vẩy nến trầm trọng.
d- Dược phẩm sinh học Alefacept (Amevive), etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade). Đây là các loại thuốc chích có tác dụng trên tế bào miễn dịch T cell để trị bệnh được nghi là do miền dịch gây ra và được dùng khi các trị liệu khác không thành công.
Giới thiêu sản phẩm tốt nhất HT chữa Bệnh Vẩy Nến và Á sừng :Kliquidclorophyll-A
-Kliquidclorophyl-A ức chế phát triển của vi khuẩn và nấm, kích thích việc phục hồi các mô đã bị hư hại, trị – Bệnh Vẩy Nến vô cùng hiệu nghiệm, kết quả thật nhanh chóng không ngờ.Thực tế cho thấy, rất nhiều bệnh nhân đã được chữa dứt bệnh vẩy nến trong vòng 30 ngày đến 90 ngày (với trường hợp nặng nhất ).Chlorophyll giúp thải độc cho gan,lọc máu, tiêu diệt nấm và vi khuẩn trên da giúp cho da nhanh chóng phục hồi các tổ chức mô . Kết hợp với diposalic,Glovate hoặc Flucinar bôi ngoài hiệu quả đáp ứng càng cao. Tại nhiều nước châu Âu (Đức, Anh, Pháp …) và FDA tại Mỹ coi chlorophyll và chlorophyllin như một thực phẩm-thuốc an toàn, không có giới hạn về liều lượng uống (Báo cáo của FAO-WHO số 557, năm 1974).
-Kliquidclorophyl-A đã được áp dụng rất nhiều trong việc điều trị các bệnh thoái hoá da,Viêm da, nhiễm trùng da, tăng huyết áp, tiểu đường, alzhermer,vẩy nến , á sùng …
Các lợi điểm chính của việc sử dụng chlorophyllin:
– Nguồn gốc tự nhiên, có thể sử dụng lâu dài, không có tác dụng phụ và không tương tác với các thuốc khác.
– Ức chế sự phát triển của các vi khuẩn, đặc biệt là các vi khuẩn kỵ khí (có nhiều trong đường tiêu hoá và khoang miệng, mảng bám răng,các lớp tế bào da bị chết) các vi khuẩn này bị ức chế bởi oxy được sinh ra từ chlorophyllin. Chất diệp lục còn có khả năng sát khuẩn, khử mùi trong các vết thương, vết loét. Năm 1948, cố DS. Đỗ Tất Lợi là người đầu tiên sử dụng chất diệp lục chiết suất từ cây xanh vào mục đích chữa trị các vết thương nhiễm trùng.Các vết lở loét ngoài da cho bộ đội.
Hướng dẫn sử dụng: Ngày uống từ 1 đến 3 lần, mỗi lẫn pha 1 thìa dung dịch vào 250 ml nước, lắc kỹ trước khi sử dụng .Dùng bôi ngoài: vào buổi tối trước khi đi ngủ
K-Liquid ChlorophyllA: Chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số: 2050/2006/YT-CNTC
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc

CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Bệnh Vẩy Nến – Thuốc chữa bệnh vẩy nến

Bệnh Vẩy NếnThuốc chữa bệnh vẩy nến
Bệnh Vẩy Nến do sự rối loạn điều tiết tạo nên một màng ngăn bám chặt trên da. Màng bám này sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết. Nhưng thay vì mất đi như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên thành từng vẩy trắng.
Bệnh Vẩy Nến thường xuất hiện ở đầu gối, khuỷu tay, da đầu nhưng đôi khi cả ở thân thể, gan bàn tay, bàn chân và các ngón chân. đôi khi xuất hiện toàn thân, các vảy trắng bong ra khi gãi và để lại một lớp dưới màu hồng, đôi khi có rớm máu
Vẩy Nến được xem như một tình trạng tăng sinh quá mức của các keratinocyte ở thượng bì dưới sự kích thích của các lymphocyte ở bì. Cơ chế chính xác và dây chuyền tương tác giữa các keratinocyte và các tế bào miễn dịch vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho thấy các tế bào T hoạt hóa là những chất điều chỉnh miễn dịch chủ yếu trong sinh bệnh học của vẩy nến.Thoạt đầu, các tế bào T hoạt hóa xâm nhập vào lớp bì ở vùng da tổn thương nhờ các phân tử kết dính tế bào và cytokine tiền viêm interleukin-8 (IL-8). Đa số tế bào T ở thượng bì là loại CD4+helper. Các tế bào T bị kích hoạt bởi các tế bào nhận diện kháng nguyên. Quá trình này sản xuất ra nhiều loại cytokine. Các tế bào T sản xuất IL-2 và interferon-y (INE-y) được gọi là tế bào Th1 và miễn dịch trung gian tế bào. Ngược lại, các tế bào T sản xuất IL-4, IL-5 và IL-10 được gọi là các thế bào Th2 và góp phần trong miễn dịch cơ thể. Các cytokime Th1 là những chất tiền viêm, còn các cytokine Th2 là những chất chống viêm. Trong vẩy nến, loại Th1 chiếm ưu thế còn Th2 ít hơn.
Triệu chứng cua Bệnh Vẩy Nến
Bệnh thường xuất hiện từ từ, tồn tại một thời gian rồi thuyên giảm. Sau đó bệnh tái phát, nhất là khi có chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng thuốc. Dấu hiệu đặc biệt nhất là những mảng vết thương trên da khô, hình bầu dục hoặc tròn, mầu hồng đỏ phủ lên trên là nhiều lớp vẩy mầu bạc. Các vết này rất ngứa và đau. Ngứa vì da khô và dây thần kinh dưới da bị một vài hóa chất kích thích, khiến cho não phát ra cảm giác ngứa, muốn gãi. Ngoài ra, dấu vết trên da có thể là:
Vẩy Nến giọt mầu đỏ hình bầu dục.
Vẩy Nến đảo ngược ở nếp gấp trên da như cơ quan sinh dục, nách.
Vẩy Nến mủ với bóng nước chứa mủ.
Vẩy Nến từng mảng lớn mầu đỏ với hậu quả trầm trọng như rối loạn thân nhiệt, mất cân bằng chất điện giải cơ thể.
Vẩy Nến khớp xương, gây trở ngại cho cử động.
Bệnh thường có trên da đầu, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị ảnh hưởng. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể.
Khi lành, vết thương thường không để lại sẹo và ở trên đầu, tóc vẫn mọc.
Trong 60% các trường hợp, móng tay móng chân cũng bị bệnh: móng chẻ, mất mầu dầy cộm nom như bị bệnh nấm.
Khoảng từ 10 tới 30% bệnh nhân bị viêm khớp-vẩy nến, thường thường ở tuổi 30 tới 50.
Xác Định Bệnh Vẩy Nến
Không có thử nghiệm máu hoặc phương thức khoa học nào để chẩn đoán bệnh. Bác sĩ xác định bệnh qua hình thù, mầu sắc của vẩy trên da, đôi khi lấy một chút mô ở vùng bệnh để tìm tế bào đặc biệt vẩy nến.
Tiên lượng bệnh Bệnh Vẩy Nến là bệnh không lây lan. Trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc, vẩy nến thường không gây ra ảnh hưởng xấu cho sức khỏe tổng quát. Nếu có, chỉ là một chút ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền lo âu vì da chẳng giống ai.
Bệnh nhẹ khi dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung bình khi da có dấu hiệu bệnh từ 3 đến 10% và nặng khi vẩy bao phủ 10% da.
Tế bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, chưa kịp rụng đã ra lớp khác nên các vẩy chùm đè lên nhau. Bệnh gây khó chịu nhất khi xuất hiện ở da đầu, bìu dái, bàn tay, bàn chân và móng tay. Vẩy nến ở lòng bàn tay, bàn chân gây nhiều khó khăn cho người bệnh khi đi đứng, lao động chân tay. Xương khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối, lưng quần và cổ cũng thường bị ảnh hưởng và gây ra trở ngại di động, làm việc cho người bệnh.
Điều trị Điều trị Bệnh Vẩy Nến là cả một thách thức với mục đích chính là gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của tế bào biểu bì, giảm viêm da, vẩy nến.
Có nhiều phương thức trị liệu khác nhau. Bác sĩ sẽ lựa phương thức thích hợp cho từng bệnh nhân và tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Điều trị tại chỗ bạn có thể tắm gội bằng Sastid hoặc Polytar. Bôi mỡ Salicylé 5% hoặc mỡ BenzoSaly vào tổn thương có nhiều vẩy. Nếu tổn thương bớt vảy hoặc hết vảy thì bạn có thể bôi các chế phẩm có chứa steroid như Temprosone, Flucinar, Synalar, Fucicort, Diprosalic…Song song là điều trị toàn thân khi bệnh trong giai đoạn bùng phát thì bạn nên dùng một đợt kháng sinh như Ampicilline hoặc Rovamycin. Có thể dùng thêm thuốc chống ngứa, chống dị ứng như Phenecgan hoặc Chlorpheniramine lúc đi ngủ.
Các phương thức điều trị đó là:
1- Thuốc thoa ngoài da:
Thuốc Chữa Bệnh Vẩy Nến :Với dạng bệnh nhẹ, thuốc thoa trên da có thể giải quyết vấn đề. Bệnh nặng hơn, cần phối hợp với thuốc uống hoặc chích.
a-Thuốc Corticosteroids như Ultravate, Tenovate, Psorcon, rất công hiệu và thường được dùng ở trường hợp bệnh nhẹ hoặc trung bình.
b-Thuốc Donovex thuộc nhóm Vitamin D tổng hợp làm giảm viêm và ngăn sự tăng sinh tế bào da.
c-Thuốc Retinoid từ sinh tố A như Tazorac.
2- Quang trị liệu với ánh sáng mặt trời, các tia tử ngoại B (UBV), quang hóa trị liệu PUVA (Psoralen Plus Ultraviolet A), laser xung nhuộm màu tía (Pulsed Dye Laser).
3- Dược Phẩm – Có nhiều dược phẩm đặc trị bệnh vẩy nến:
a- Rheumatrex (Methotrexate). Thuốc này được dùng trong trường hợp bệnh nặng, tái phát và không bớt sau khi dùng các phương thức khác. Thuốc phải do bác sĩ quyết định và theo dõi sau khi đã chẩn định bệnh bằng sinh thiết mô bào. Thuốc có nhiều tác dụng phụ mạnh.
b- Neoral (Cycloporine) Thuốc dùng khi bệnh nặng, không thuyên giảm với PUVA, Retinoid hoặc Methotrexate. Thuốc có thể gây ra cao huyết áp và bệnh thận.
c- Retinoid uống (Acitretin), Tegison cho các trường hợp vẩy nến trầm trọng.
d- Dược phẩm sinh học Alefacept (Amevive), etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade). Đây là các loại thuốc chích có tác dụng trên tế bào miễn dịch T cell để trị bệnh được nghi là do miền dịch gây ra và được dùng khi các trị liệu khác không thành công.
Giới thiêu sản phẩm tốt nhất HT chữa Bệnh Vẩy Nến và Á sừng :Kliquidclorophyll-A
-Kliquidclorophyl-A ức chế phát triển của vi khuẩn và nấm, kích thích việc phục hồi các mô đã bị hư hại, trị – Bệnh Vẩy Nến vô cùng hiệu nghiệm, kết quả thật nhanh chóng không ngờ.Thực tế cho thấy, rất nhiều bệnh nhân đã được chữa dứt bệnh vẩy nến trong vòng 30 ngày đến 90 ngày (với trường hợp nặng nhất ).Chlorophyll giúp thải độc cho gan,lọc máu, tiêu diệt nấm và vi khuẩn trên da giúp cho da nhanh chóng phục hồi các tổ chức mô . Kết hợp với diposalic,Glovate hoặc Flucinar bôi ngoài hiệu quả đáp ứng càng cao. Tại nhiều nước châu Âu (Đức, Anh, Pháp …) và FDA tại Mỹ coi chlorophyll và chlorophyllin như một thực phẩm-thuốc an toàn, không có giới hạn về liều lượng uống (Báo cáo của FAO-WHO số 557, năm 1974).
-Kliquidclorophyl-A đã được áp dụng rất nhiều trong việc điều trị các bệnh thoái hoá da,Viêm da, nhiễm trùng da, tăng huyết áp, tiểu đường, alzhermer,vẩy nến , á sùng …
Các lợi điểm chính của việc sử dụng chlorophyllin:
– Nguồn gốc tự nhiên, có thể sử dụng lâu dài, không có tác dụng phụ và không tương tác với các thuốc khác.
– Ức chế sự phát triển của các vi khuẩn, đặc biệt là các vi khuẩn kỵ khí (có nhiều trong đường tiêu hoá và khoang miệng, mảng bám răng,các lớp tế bào da bị chết) các vi khuẩn này bị ức chế bởi oxy được sinh ra từ chlorophyllin. Chất diệp lục còn có khả năng sát khuẩn, khử mùi trong các vết thương, vết loét. Năm 1948, cố DS. Đỗ Tất Lợi là người đầu tiên sử dụng chất diệp lục chiết suất từ cây xanh vào mục đích chữa trị các vết thương nhiễm trùng.Các vết lở loét ngoài da cho bộ đội.
Hướng dẫn sử dụng: Ngày uống từ 1 đến 3 lần, mỗi lẫn pha 1 thìa dung dịch vào 250 ml nước, lắc kỹ trước khi sử dụng .Dùng bôi ngoài: vào buổi tối trước khi đi ngủ
K-Liquid ChlorophyllA: Chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số: 2050/2006/YT-CNTC
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc

CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Bệnh trĩ và Thuốc chữa bệnh trĩ AYURHOID

Bệnh trĩ Thuốc chữa bệnh trĩ AYURHOID
bệnh trĩ là bệnh do sự dãn quá mức các tĩnh mạch đưa đến tĩnh mạch trĩ bị sưng, phù ở vùng hậu môn – trực tràng. Có sự dãn quá mức là do thành tĩnh mạch bị suy yếu không còn bền chắc.
Nếu trĩ nằm dưới cơ thắt hậu môn gọi là bệnh trĩ ngoại, có thể thấy bằng mắt thường. Bệnh trĩ nội là búi trĩ định vị trên cơ thắt hậu môn, chỉ thấy khi soi hậu môn, tuy nhiên trĩ nội khi nặng gọi là sa búi trĩ có thể thò ra ngoài. Trĩ có thể làm cho ngứa, đau và có khi chảy máu. Nhưng có khi trĩ không gây triệu chứng hoặc chỉ gây cảm giác nặng nề ở hậu môn trực tràng. Khi có chảy máu là có khi đã có biến chứng, ở tình trạng nặng.
– Nguyên nhân dẫn đến bệnh trĩ
Khi thành tĩnh mạch bị suy yếu nếu thêm những yếu tố thuận lợi được kể ra sau đây sẽ làm phát triển bệnh trĩ:
1. Viêm đại tràng mạn tính, táo bón kinh niên gây rặn mạnh khi đại tiện.
2. Tăng áp lực xoang bụng do lao động nặng, do ho (vì bệnh viêm phế quản mạn, dãn phế quản).
3. Sinh hoạt tĩnh tại với tư thế đứng lâu hoặc ngồi nhiều suốt ngày (như người làm nghề thợ may, thư ký đánh máy).
4. Phụ nữ mang thai với tử cung lớn dần chèn ép các tĩnh mạch trĩ gây ứ đọng máu trong tĩnh mạch.
Những người thường xuyên có các tình trạng kể trên lại thêm bị suy yếu tĩnh mạch rất dễ bị bệnh trĩ.
Ta nên lưu ý có một biến chứng thường thấy ở bệnh trĩ là chảy máu ngoài, sưng, ngứa, đau hậu môn. Nhưng chảy máu khi đi cầu có thể là triệu chứng của nhiều bệnh ở đại tràng, trực tràng, thậm chí có bệnh nguy hiểm như ung thư trực tràng. Vì vậy, rất cần đi khám bệnh, soi để xác định bệnh một cách chắc chắn và để cho bác sĩ cho hướng điều trị đúng đắn.
Thuốc chữa bệnh trĩ
Có 2 loại: loại dùng trong là loại thuốc viên dùng để uống và loại cho tác dụng tại chỗ là thuốc mỡ để bôi hoặc thuốc đạn được đặt vào trong hậu môn.
Trước hết là thuốc viên uống. Đây là thuốc chứa các hoạt chất Rutin (còn gọi là vitamin P) hoặc các chất được trích từ thực vật được gọi chung là Flavonoid; có tác dụng điều hòa tính thẩm thấu và tăng sức bền chắc thành của các tĩnh mạch, do đó làm giảm phù nề, giảm sung huyết các tĩnh mạch ở vùng trĩ. Do tác động đến tĩnh mạch nên thuốc ngoài Chữa bệnh trĩ còn dùng để trị chứng suy, dãn tĩnh mạch, đặc biệt bị ở chi dưới như tê chân, nổi gân xanh. Có thể kể một số biệt dược dùng để uống như: Ginkgo Fort, Flebosmil…
Trong điều trị bệnh trĩ, bác sĩ sẽ tùy theo tình trạng bệnh cho liều điều trị tấn công và liều điều trị củng cố. Ngoài thuốc tác động chính trên tĩnh mạch trĩ, bác sĩ có thể chỉ định thêm các thuốc khác như: kháng sinh, thuốc chống viêm, thuốc giảm đau, thuốc trị táo bón v.v…
Bên cạnh dùng thuốc uống, người bệnh còn dùng thuốc cho tác dụng tại chỗ, tức dùng thuốc đạn đặt vào trong hậu môn (trong trường hợp bị trĩ nội) hoặc dùng thuốc mỡ để bôi lên tổn thương. Thuốc cho tác dụng tại chỗ thường chứa nhiều hoạt chất như: hoạt chất làm giảm đau, chống viêm, kháng sinh, hoạt chất bảo vệ làm bền chắc tĩnh mạch, ngoài ra còn chứa các vitamin, chất bổ dưỡng giúp tổn thương mau lành. Cách dùng thường là đặt thuốc đạn hoặc bôi thuốc mỡ 2-3 lần trong ngày, nên đặt hoặc bôi sau khi đi tiêu và tối trước khi ngủ.
Những điều cần lưu ý trong điều trị bệnh trĩ
-Trĩ có thể điều trị khỏi bằng nội khoa hay các phương pháp vật lý cũng như thuốc đông –tây y. Vì vậy, phẫu thuật chỉ nên được xem là phương sách cuối cùng khi các phương pháp kể trên không hiệu quả, bởi vì phẫu thuật can thiệp vào giải phẫu học và sinh lý học bình thường và có thể kèm theo các di chứng nặng nề khó sửa chữa.
Điêu trị Bệnh trĩ trĩ nội –trĩ ngoại- bằng Thuốc chữa bệnh trĩ AYURHOID
Thuốc chữa bệnh trĩAYURHOID được tổng hợp từ nhiều loại thảo dược có công dụng chính giúp kích thích quá trình tiêu hóa, giảm chứng táo bón.Chông phù nê làm co rút búi trĩ ,hoạt huyêt hoá ứ .chống chảy máu
Thành phần bao gồm các loại dược thảo sau:
Cao Cây Trinh Nữ:
chống viêm nhiễm, lọc máu.
Súng Đỏ:
làm dịu cơn đau, cung cấp dinh dưỡng, làm lạnh.
Cao Hạt Sầu Đâu:
cung cấp dinh dưỡng, làm lành vết thương, chống ngứa.
Khoai Na:
kích thích dạ dày, thuốc giảm chướng hơi, thuốc bổ.
Plantago Ovata:
nhuận tràng, làm dịu cơn đau.
Shorea Robusta:
dễ tiêu.
Cao Mùi:
giảm chướng hơi, kích thích dạ dày, làm lạnh, thuốc bổ.
Cao Chiêu Liêu:
Dễ tiêu hóa, giảm chướng hơi.
Cao Me Rừng:
là thuốc sổ, hạ nhiệt.
Vắp:
Làm thuốc sổ, làm dịu cơn đau, giảm chướng hơi, kích thích.
Commiphora Myrrha:
nhuận tràng, kích thích dạ dày.
Mức Hoa Trắng:
dễ tiêu hóa, kích thích dạ dày.
Cây Gạo:
chống viêm nhiễm, làm lành vết thương.
Cây Trái Mấm:
cầm máu, dễ tiêu hóa, làm mát, nhuận tràng.
Caesalpinia Crista:
chất bổ, giảm đau, chống viêm nhiễm, cầm máu.
Plantago Ovata:
nhuận tràng, làm dịu cơn đau,cầm máu ,chông phù nề làm co rút búi trĩ
Shorea Robusta:
dễ tiêu.Phòng ngừa hiện tượng hoat huyêt,hóa ứ trong trường hơp búi trĩ sa xuông,chảy máu , đa rát
Hướng dẫn sử dụng và bảo quản:Người lớn mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 viên.
Chất liệu bao bì và quy cách bao gói: đóng gói: 10 viên/ vỉ; 6 vỉ/ hộp. Khối lượng tịnh viên 405 mg/ viên.
Giấy chứng nhận:K-AYURVEDA AYURHOIDSđược Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm cấp giấy Chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số: 1535/2008/YT-CNTC, ngày 12/03/2008.
Để đạt hiệu quả điều trị cao cần kết hợp với PROCTELOG điều trị tai chỗ chống viêm và nứt hậu môn
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc

CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Sỏi mật – nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn gan mật

Sỏi mật là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn gan mật, khi có biến chứng bệnh rất dễ gây tử vong.

Sỏi mật và những rắc rối với sức khỏe

Sự hình thành sỏi có liên quan mật thiết đến sự mất cân bằng chuyển hóa trong gan (nơi mật được tạo thành). Ngoài ra còn có một số yếu tố như: viêm nhiễm, ứ trệ dịch mật, nhiễm ký sinh trùng và chế độ ăn giàu chất béo… tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình tạo sỏi.

Sỏi gây cản trở sự lưu thông của dịch mật, khiến cho hệ tiêu hóa giảm khả năng hấp thu chất béo, dẫn đến tình trạng đầy trướng, chậm tiêu, khó tiêu. Mặt khác, sỏi di chuyển gây nên các cơn đau quặn mật, quặn gan, viêm đường mật, túi mật. Đây là nguyên nhân chính khiến người bệnh phải nhập viện.

(Ảnh do nhãn hàng Kim Đởm Khang cung cấp)

Tái phát sỏi – vấn đề nan giải

Mục tiêu trong điều trị là loại bỏ sỏi nhằm khơi thông đường mật, làm giảm các triệu chứng do sỏi gây ra đồng thời tăng cường các biện pháp dự phòng tái phát sỏi.

Thực tế, để đạt được mục tiêu này không hề đơn giản. Thuốc làm tan sỏi phải sử dụng với thời gian dài (từ 6 tháng đến 2 năm), tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa làm quá trình điều trị bị gián đoạn hoặc kém hiệu quả. Các biện pháp can thiệp ngoại khoa (mổ hở, nội soi, tán sỏi ngoài cơ thể) có thể giúp việc lấy sỏi một cách hữu hiệu hơn, nhưng khó khả thi nếu sỏi nằm ở vị trí hiểm hóc như ở đường dẫn mật trong gan. Đặc biệt, tỷ lệ tái phát sỏi cao (30 – 50% sau điều trị) khiến cho việc điều trị càng trở nên nan giải.

Giải pháp tháo gỡ từ thiên nhiên

Quan điểm của đông y coi cơ thể là một khối thống nhất, mọi hoạt động của các cơ quan trong cơ thể luôn đồng bộ và tác động qua lại lẫn nhau. Hoạt động của hệ thống gan – mật cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vì thế trong điều trị cần hướng tới sự cân bằng chức năng của toàn hệ thống, loại bỏ sỏi chỉ là giải pháp tình thế chứ chưa giải quyết được tận gốc vấn đề.

Kim Đởm Khang là sản phẩm được phát huy và kế thừa triết lý đó để mang lại giải pháp toàn diện giúp bài sỏi, làm giảm triệu chứng do sỏi mật gây ra. Đặc biệt với các thành phần tăng cường chức năng gan (Diệp hạ châu, nhân trần), tăng khả năng tiết mật & lưu thông dịch mật (Uất kim, chi tử, chỉ xác), chống viêm (Sài hồ, Hoàng bá) sẽ giúp hạn chế tái phát sỏi. Đây là hy vọng mới cho người bệnh trong cuộc chiến nhằm chống lại sỏi mật cũng như dự phòng tái phát sỏi.

Nghiên cứu Kim Đởm Khang tại Viện 103 kết luận: Tỷ lệ tái phát sỏi đường mật trong gan, sỏi ống mật chủ giảm; các triệu chứng lâm sàng (đau, sốt, vàng da) cải thiện rõ rệt sau 3 tháng sử dụng. Sản phẩm sử dụng an toàn, chưa thấy tác dụng phụ sau 6 tháng sử dụng.

ĐT tư vấn: 04.3775.9865 – 08.3977.8085

Website: dongtay.net.vn

Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thê thuốc chữa bệnh

Bài thuốc chữa bệnh từ lan cuốn chiếu

Lan cuốn chiếu còn được gọi là bàn long sâm, thụ thảo, trư liêu sâm, long bão trụ, bàn long côn, liêm đao thảo,…

Là loại cây thân thảo, sống lâu năm. Thân rễ ngắn, có những rễ củ tỏa từ gốc ra. Thân nhỏ, dài, lá mọc từ gốc, hình lưỡi mác hẹp, dài ngắn không đều, những lá phía trên thường thoái hóa, chỉ còn như bẹ ôm lấy thân. Hoa mọc theo từng đường xoắn ốc, cánh hoa màu trắng, phớt hồng hoặc đỏ.

Quả nang, hình trứng, có lông mịn. Cây thường mọc ở các bãi đất hoang, đồng cỏ, ven đường. Mùa ra hoa tháng 5-6. Để dùng làm thuốc, vào mùa thu người ta đào lấy rễ củ, rửa sạch đất cát, rồi phơi hoặc sấy khô. Ở một số địa phương người ta dùng cả cây làm thuốc thu hái vào mùa xuân hoặc hè rửa sạch và phơi khô hoặc dùng tươi.

Lan cuốn chiếu có vị ngọt đắng, tính bình, có tác dụng dưỡng âm thanh nhiệt, nhuận phế, chỉ khái (chống ho), giải độc. Thường dùng chữa cơ thể suy nhược, nóng trong do âm hư, ho, váng đầu, thắt lưng đau mỏi, nước tiểu đục đục, mụn nhọt lở loét ngoài da.

Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh có lan cuốn chiếu:

Bồi dưỡng cơ thể sau ốm: Rễ củ lan cuốn chiếu 30g, rễ cây đậu đũa 15g, thịt lợn hoặc thịt gà 250g. Tất cả rửa sạch, thịt thái miếng ướp vừa vặn. Đổ nước ngập lan cuốn chiếu, rễ cây đậu đũa đun sôi, cho thịt vào hầm nhỏ lửa. Làm món canh ăn trong bữa ăn (bỏ bã thuốc, chỉ ăn thịt và uống nước canh); cách 3 ngày ăn 1 lần. Mỗi liệu trình 20 ngày.

Chữa táo bón người cao tuổi: Lan cuốn chiếu 9-15g, cá diếc tươi 60g. Cá riếc làm sạch ướp gia vị cho vừa. Lan cuốn chiếu rửa sạch cho vào nồi đổ 500ml nước đun sôi thả cá diếc vào nấu chín, thêm đường trắng, chia 2 lần ăn trong ngày. Tuần ăn 2 lần, mỗi liệu trình 10 ngày.

Chữa ho do âm huyết hư tổn (lòng bàn chân bàn tay nóng, miệng khô, đêm ngủ hay ra mồ hôi trộm, môi lưỡi đỏ nhạt hoặc đỏ tía, mạch nhỏ nhanh): Rễ củ lan cuốn chiếu 9-15g, mạch môn đông 8g, rửa sạch cắt nhỏ cho 500ml nước sắc nước uống 2 lần trong ngày. Dùng liền 5 ngày một liệu trình.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường:Lan cuốn chiếu 30g, tụy lợn 1 cái, lá ngân hạnh 30g. Tất cả rửa sạch, nấu canh ăn, tuần ăn 2 lần.

Kiêng kỵ: Người có thấp nhiệt ứ đọng kiêng dùng.

Bác sĩ  Trần Huy

(Theo SKDS)

Hiến kế để người Việt tin dùng thuốc Việt

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được Chính phủ phát động tháng 8/2010 nhằm phát huy lòng yêu nước, xây dựng văn hóa tiêu dùng; đẩy mạnh sản xuất hàng Việt Nam có chất lượng và sức cạnh tranh cao. Thuốc chữa bệnh cũng không nằm ngoài cuộc vận động này

Thực trạng

So với hơn chục năm trước, các cơ sở sản xuất thuốc nội tăng 200% (năm 1997 có 90 cơ sở; năm 2010 có 180 thì 103 cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP), đáp ứng 48,03% nhu cầu thuốc của cả nước.

Việc sản xuất thuốc ở các cơ sở này vẫn còn trùng lặp, chủ yếu sản xuất thuốc thông thường. Năm 2010 khoảng 10.000 số đăng ký còn hiệu lực nhưng chỉ có 500 hoạt chất (trong khi thuốc ngoại nhập có trên 10.000 số đăng ký còn hiệu lực nhưng có khoảng hơn 10.000 hoạt chất, chủ yếu là thuốc đặc trị, đắt tiền). 

Khả năng đánh giá chất lượng thuốc bằng cách thử tương đương sinh học (TĐSH) các loại thuốc generic (thuốc hết thời hạn bảo hộ phát minh) của Viện Kiểm nghiệm thuốc Quốc gia còn hạn chế (do thiếu máy móc phương tiện và thuốc mẫu đối chiếu) nên mới có khoảng 76 loại thuốc được cấp chứng nhận TĐSH  (Viện Kiểm nghiệm Hà Nội và TP.HCM). Rất nhiều thuốc của các cơ sở sản xuất còn phải xếp hàng chờ thử TĐSH để được cấp số đăng ký mới.

Các thầy thuốc điều trị tại các bệnh viện chưa thích thuốc nội vì nhiều lý do; một trong số đó là còn nhiều người chưa tin tưởng chất lượng thuốc nội (chưa có chứng nhận TĐSH). Bên cạnh đó còn có một thực tế: thuốc ngoại chi hoa hồng lớn cho bác sĩ kê đơn thuốc và thực phẩm chức năng (cuối tháng nhà thuốc tính hoa hồng kê đơn cho bác sĩ rồi chuyển tiền vào tài khoản cá nhân, nên chỉ có “trời” biết. Đến nay mới có một trường hợp bị phạt vì kê đơn thực phẩm chức năng cùng với thuốc).


Một dây chuyền sản xuất thuốc trong nước.

Những bất cập tồn tại

Việc quản lý kinh doanh thuốc và thực phẩm chức năng (sản xuất và bán lẻ) còn nhiều bất cập:

Cùng một hoạt chất nhưng hàm lượng nhỏ hơn, giá đắt hơn, lại là thực phẩm chức năng (vitamin C,…). Cùng công thức một bài thuốc, trước kia là thuốc nay là thực phẩm chức năng, giá cao hơn (vì thực phẩm chức năng chỉ cần công bố tiêu chuẩn, không có “tiền kiểm”, “hậu kiểm” như thuốc. Chất lượng nguyên liệu không phải theo Dược điển Việt Nam…). Quản lý giá bán theo “tự kê khai” nên giá bán mỗi nơi một khác, người bệnh không có điều kiện “đi khảo giá” xem chỗ nào rẻ để mua; chưa tôn vinh thuốc Việt có chứng nhận “Tương đương sinh học”, có đánh giá “tác dụng lâm sàng” để thầy thuốc và người bệnh biết để tin dùng thuốc Việt và giảm chi so với thuốc ngoại cùng loại.

Và đề xuất

Muốn người bệnh và thầy thuốc tin dùng thuốc Việt thì:

Cơ sở sản xuất: Phải sản xuất thuốc có chất lượng tương đương thuốc ngoại; giá rẻ hơn thuốc ngoại. Phải thông tin đầy đủ về chất lượng và giá lẻ đến người dùng (tránh tình trạng “áo gấm đi đêm” như hiện nay; 76 thuốc có chứng nhận TĐSH, mà bác sĩ, dược sĩ chưa biết tên là thuốc gì? Nơi nào sản xuất? Giá lẻ bao nhiêu?).

Cơ quan quản lý: Thống nhất quản lý thuốc và thực phẩm chức năng vào một đầu mối. Tăng cường kiểm tra chất lượng nguyên liệu đầu vào của các cơ sở sản xuất (thuốc và thực phẩm chức năng). Tăng cường máy móc phương tiện hiện đại cho các trung tâm kiểm nghiệm TĐSH thuốc. Không cho nhập các loại thuốc có TĐSH như thuốc nội. Phạt nặng (phạt tiền hoặc đuổi việc) bác sĩ ăn hoa hồng kê đơn thuốc ngoại và thực phẩm chức năng.

DS. Trần Xuân Thuyết

Meo.vn (Theo SK&ĐS)

Giá thuốc: Mỗi nơi một phách

Bộ Y tế chỉ quản lý được giá thuốc trong bệnh viện, còn ở ngoài thị trường tự do, giá thuốc vẫn “thả” cho các cơ sở kinh doanh tự quyết


Giá thuốc tăng khiến bệnh nhân nghèo thêm khổ. Ảnh: Xuân Thảo

“Mới tuần trước, tôi mua hộp thuốc Zantac tablets 150 mg, xuất xứ tại Tây Ban Nha ở một hiệu thuốc trên phố Quỳnh Mai (Hà Nội) giá 360.000 đồng, nhưng cũng loại thuốc này khi hỏi mua tại một hiệu thuốc trên phố Trần Hưng Đạo thì giá “mềm” hơn hẳn, chỉ 300.000 đồng/hộp. Một loại thuốc khác là men tiêu hóa Enterogermina, giá cũng chênh nhau tới 20.000 đồng/hộp. Không hiểu sao giá thuốc bất thường đến thế”. Một khách hàng không giấu vẻ bực bội khi nói về “loạn” giá tân dược tại Hà Nội.

Niêm yết giá khác nhau

Theo khảo sát của phóng viên, cùng loại thuốc kháng sinh Zinnat 250 mg nhập khẩu tại hiệu thuốc trên đường Hoàng Mai (quận Hoàng Mai – Hà Nội) được nhà thuốc niêm yết với giá là 145.000 đồng/vỉ 10 viên, còn một nhà thuốc khác trên phố Quán Sứ (quận Hoàn Kiếm) là 135.000/đồng/vỉ 10 viên. Một số kháng sinh nhập khẩu khác như Ceclor, Zithromax, Augmentin…, giá bán cũng có sự chênh lệch từ 8.000- 20.000 đồng/hộp ở một số nhà thuốc. Đáng nói là tất cả những hiệu thuốc này đều niêm yết giá thuốc khá rõ ràng.

Anh Nguyễn Mạnh Hùng, ở Phương Mai (quận Đống Đa) vốn bị bệnh đau dạ dày, căn bệnh này khiến anh phải thường xuyên dùng thuốc Nexium và Gastropugite. Thế nhưng theo anh Hùng, cùng một dãy phố nhưng khi mua ở hai hiệu thuốc khác nhau, giá thuốc đã khác rồi. “Khi thắc mắc thì người bán hàng cũng giải thích “thuốc bán đúng giá niêm yết” thì mình cũng “tặc lưỡi” mua cho xong chứ mình cũng biết giá trên hộp thuốc cũng do cửa hàng dán lên thôi mà”- anh Hùng nói.

Khảo sát tại một số hiệu thuốc trên địa bàn Hà Nội cho thấy một số thuốc điều chỉnh giá bán từ 5%-10% như: Tanakan (thuốc tuần hoàn não): 95.000 đồng – 103.000 đồng/hộp, Coversyl (trị huyết áp), Gastropugite (hỗ trợ điều trị dạ dày): 85.000 đồng – 100.000 đồng/hộp… Giá các loại thuốc nhỏ mắt Salein, Cravit cũng tăng 10%.

Thị trường tự do tự quyết

Giải thích về hiện tượng “loạn” giá thuốc, chị Nguyễn Hoài Phương, kinh doanh dược phẩm ở Hà Nội, cho rằng có thể do giá đầu vào ở mỗi cửa hàng mỗi khác nên giá bán lẻ có sự chênh lệch. “Hơn nữa, đến nay cũng chưa có quy định nào khống chế mức trần lợi nhuận nên các nhà thuốc có quyền quyết định giá mặt hàng mà họ kinh doanh”- chị Phương giải thích.

Hiện giá thuốc ở Việt Nam hoàn toàn do các đơn vị sản xuất, kinh doanh tự quyết định và kê khai với cơ quan quản lý. Nhà nước không quy định hay duyệt giá thuốc. Đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ thuốc phải niêm yết giá bán thuốc tại nơi kinh doanh. Theo các cơ quan chức năng, chỉ khi nào nhà thuốc bán không đúng với giá niêm yết thì cơ quan chức năng mới xử lý được. Còn chênh lệch giá giữa các nhà thuốc nhưng không bán cao hơn so với giá đăng ký thì vẫn không vi phạm.

Để hạn chế tình trạng “loạn” giá thuốc, mới đây, Bộ Y tế cũng đã quy định nhà thuốc bệnh viện phải niêm yết giá bán lẻ của từng loại thuốc, không được bán cao hơn giá niêm yết và giá thuốc cùng loại trên thị trường. Liên bộ Y tế – Tài chính cũng khống chế  mức trần lợi nhuận của thuốc thành phẩm tại cơ sở bán lẻ thuốc tối đa là 20%. Với quy định này, Bộ Y tế chỉ quản lý được giá thuốc trong bệnh viện, còn ở ngoài thị trường tự do, giá thuốc vẫn “thả” cho các cơ sở kinh doanh tự quyết.

Giá thật mà ảo

Thông tư liên tịch sửa đổi hướng dẫn quản lý giá thuốc tháng 10-2010 quy định giá bán lẻ không được cao hơn giá bán lẻ phổ biến của thuốc đó trên cùng địa bàn, tại cùng thời điểm. Thế nhưng theo khảo sát của phóng viên, nhiều người kinh doanh cho rằng ấn định giá thuốc là quyền của chủ cơ sở kinh doanh. Có lẽ vì thế mà không ít người bệnh phải mua thuốc với cái giá thật mà ảo. Lâu nay, việc niêm yết giá thuốc được thực hiện tương đối đầy đủ nhưng mỗi nơi một kiểu giá khiến người bệnh không biết đâu mà lần. Thuốc chữa bệnh cũng là hàng hóa nhưng nó được xếp vào nhóm hàng hóa đặc biệt. Điều đặc biệt hơn nữa, khi đứng trước bệnh tật, nhà thuốc nói giá bao nhiêu thì người mua trả bấy nhiêu chứ mấy ai đi trả giá với bệnh tật.

 

Meo.vn (Theo NLD)

Ngực to – Điều không may với nam giới

Khi phát hiện ngực của mình ngày càng lớn dần một các bất bình thường, thậm chí có thể to gần giống… ngực phụ nữ, giới đàn ông cảm thấy hoang mang. Đây là một chứng bệnh hay là tự nhiên?

Điều này phụ thuộc vào một số căn cứ nhất định về hình thức cũng như cấu tạo bên trong bộ ngực của họ.

Biểu hiện của bệnh tật:

Hai bên ngực có khuynh hướng to dần lên, và thường có một bên to hơn một cách rõ rệt. Một số người còn cảm thấy hơi đau ở đầu ngực hoặc toàn bộ vùng ngực. Có nhiều trường hợp bệnh không được phát hiện sớm do bệnh nhân không cảm thấy đau và ngực không to quá.

Nguyên nhân:

Nguyên nhân gây ra chứng ngực to chủ yếu có liên quan tới thuốc men và do bệnh lý.

Những loại thuốc gây bệnh: Chứng to ngực ở đàn ông có liên quan đến một số chủng loại thuốc dùng trong chữa trị bệnh lý phổ biến nhất. Chẳng hạn như thuốc chữa chứng cao huyết áp gồm có Reserpin, Nifedipin… Thuốc chữa bệnh lao gồm có Rimifon… Thuốc kháng sinh gồm có Metronidazol… Thuốc có công dụng lợi tiểu gồm có Spironolacton… Thuốc giúp an thần gồm có Seduxen… Thuốc trị bệnh thần kinh, tâm thần gồm có Haloperidol, Metrobamat… Thuốc chống trầm cảm gồm có Tricyclic… Thuốc điều trị các bệnh liên quan đến tim mạnh gồm có Cordaron, Digitalis… Thuốc điều trị các bệnh liên quan đến viêm loét dạ dày gồm có Omeprazol, Cimetidin…

Bên cạnh đó, cũng phải kể đến những chủng loại thuốc có liên quan đến nội tiết tố chẳng hạn như testosterone, estrogen, androgen…

Những bệnh lý khác: Một số bệnh liên quan đến gia tăng nội tiết như tăng cường giáp, nội tiết tuyến yếu, suy giảm sinh dục hoặc rối loạn di truyền có tính bẩm sinh… hay các bệnh như suy thận, gan… cũng là những nguyên nhân chính gây ra chứng ngực to. Hơn thế, chứng ngực to tiềm ẩn nguy cơ của một số căn bệnh ung thư tuyến thượng thận, ung thư tinh hoàn, ung thư phế quản. Đôi khi nó còn là mầm mống ung thư của chính tuyến vú.

Giải pháp:

Có nhiều kết luận được đưa ra để giải thích chứng ngực lớn ở đàn ông. Căn cứ vào các nguyên nhân cụ thể của từng trường hợp, người ta sẽ có nhiều cách chữa trị khác nhau. Khi có nghi ngờ mắc bệnh do tác dụng phụ của thuốc gây ra, điều cần làm trước tiên là ngừng ngay các loại thuốc đang uống để bác sĩ có thể theo dõi bệnh trạng.

Trường hợp nếu vú bị đau nhức bác sĩ sẽ cho dùng Tamoxifen. Loại thuốc này còn có công năng kháng với estrogen cũng như giúp giảm thiểu cơn đau ở ngực và ít nhiều khả năng làm giảm kích thước của bộ ngực. Nếu như ngực có khuynh hướng xệ nhiều hoặc rũ xuống, có thể can thiệp bằng phẫu thuật. Nếu nghi ngờ có khối u trong ngực, giải pháp xét nghiệm chọc tế bào là điều không thể bỏ qua.

Khi nguyên nhân chưa được xác định rõ ràng, bác sĩ sẽ tiến hành một số xét nghiệm cần thiết như chụp X quang, xác định thành phần các nội tiết tố trong máu như nội tiết tố của tuyến sinh dục, tuyến yên, tuyến giáp, testos-terom…

Nhưng đàn ông bị béo phì và một số người lớn tuổi cũng thấy ngực ngày càng to ra, nhưng đấy chỉ là hiện tượng bình thường, không phải là bệnh lý cần chữa trị.

(Theo Đàn Ông)

Thuốc chữa bệnh viêm đại tràng mạn

Viêm đại tràng mạn tính là bệnh khá phổ biến, bệnh thường kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm, ảnh hưởng đến sức khoẻ và công tác của người bệnh. Việc điều trị cũng thường kéo dài và khó khăn, cần kiên trì và cần phối hợp nhiều biện pháp. Nguyên tắc chung là không dùng thuốc kháng sinh, trừ trường hợp có bội nhiễm, không nên lạm dụng quá nhiều thứ thuốc, chú ý chế độ ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi thích hợp và quan trọng nhất là thoải mái về tinh thần.

Về sử dụng thuốc

Có thể dùng một trong các thuốc sau đây để điều trị các triệu chứng:

Chống đi lỏng:

– Loperamide (imodium) viên 2mg, ngày uống 3 đến 4 viên chia làm 3 đến 4 lần.

– Ercefuryl viên 200mg, ngày uống 4 viên chia làm 4 lần.

– Diphenoxylase (reasec) ngày uống 2 viên chia làm 2 lần.

– Actapulgit ngày uống 2 đến 3 gói chia làm 2 đến 3 lần có tác dụng băng niêm mạc, giảm kích thích.

Chú ý: Khi đã hết đi lỏng thì không nên dùng các thuốc trên để tránh gây táo bón.

Chống táo bón:

– Ăn tăng chất xơ, chất nhày (rau mồng tơi, rau dền, rau đay, rau sam), uống nhiều nước hàng ngày.

Có thể sử dụng các thuốc sau:

– Mucipulgite, ngày uống 2 lần 3  gói chia làm 2 đến 3 lần.

– Sorbiton gói 5gam, ngày uống 1 đến 2 gói chia làm 2 lần.

– Forlax ngày uống 1 đến 2 gói, mỗi gói pha vào 1 ly nước.

– Fructines ngày uống 1 viên, ngậm vào buổi tối trước khi đi ngủ hoặc sáng sớm.

Một số bài thuốc đông y có thể sử dụng để chữa táo bón:

Bài 1: Dầu vừng, mỗi ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần  20 – 30ml

Bài  2: Rau dừa nước 20 g, rau rệu 20g, rau má 40g, rau sam 20g, rau khoai lang 20g. Các thứ  trên cho vào nồi sắc đặc uống hàng ngày.

Bài 3: Cỏ sữa 60g, cỏ nhọ nồi 60g. Hai thứ này cho vào nồi, đổ 250ml nước vào sắc còn 100ml uống 2 lần trong ngày.

Chống đau bụng:

– NO-SPA viên 40mg,  ngày uống 4 viên chia 2 lần.

– Spasmaverin viên 40mg, ngày uống 4 viên chia 2 lần.

– Spasfon ngày uống 3 viên chia 3 lần.

Điều trị các triệu chứng khác:

– Nhiều hơi: Dùng than thảo mộc.

Smecta: 3 gói/ngày chia làm 3 lần.

– Trạng thái lo lắng, thần kinh không ổn định: dùng thuốc an thần nhẹ: meprobamat, rotunda.

Các biện pháp hỗ trợ:

– Đi bộ nhanh trước khi đi đại tiện lúc bị táo.

– Nên vận động, đi lại nhiều, tránh ngồi một chỗ nhiều giờ.

– Tập thở bụng theo phương pháp dưỡng sinh.

– Tập cơ thành bụng, xoa bóp bụng theo chiều kim đồng hồ.

(Theo Sức khoẻ và Đời sống)