Lưu trữ cho từ khóa: viêm loét

Bệnh Đau dạ dày : bệnh loét dạ dày tá tràng và cách điều trị

Bệnh Đau dạ dày : bệnh loét dạ dày tá tràng và cách điều trị
Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng (DD-TT) là một bệnh đã được biết từ thời cổ đại. Bệnh xảy ra ở mọi quốc gia, mọi lứa tuổi. Tỉ lệ bệnh ở các nước là 1 – 3% dân số, và trong suốt một đời người khả năng mắc bệnh loét là 10%. Việc điều trị loét dạ dày tá tràng đã có những thay đổi lớn trong ba thập niên trở lại đây với việc phát triển các thuốc chống loét thế hệ mới từ thập niên 1970 và việc phát hiện và xác định vai trò gây bệnh loét của vi khuẩn Helicobacter Pylori từ thập niên 1980.
Viêm loét dạ dày – tá tràng thường gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em. Đặc điểm của bệnh là tùy theo các vị trí của viêm và loét khác nhau mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ hoặc loét bờ cong nhỏ, loét hang vị, loét tiền môn vị, viêm tá tràng, loét tá tràng hoặc cả dạ dày và hành tá tràng đều bị viêm.
I. Nguyên nhân và các yếu tố gây ra bệnh loét dạ dày tá tràng là gì?
1. Quan niệm về sự sinh bệnh loét được hình thành từ những năm đầu của thế kỷ 20. Đó là do sự mất quân bình giữa 2 lực đối kháng tác động lên niêm mạc DD-TT:
(1) Lực tấn công làm phá hủy niêm mạc DD-TT mà tiêu biểu là HCl và pepsin của dịch dạ dày
(2) Lực bảo vệ đảm bảo sự nguyên vẹn của thành DD-TT do hàng rào nhày và lớp tế bào niêm mạc DD-TT. Theo quan niệm này, bất cứ một tác nhân nào làm gia tăng lực tấn công hoặc làm giảm lực bảo vệ đều có thể gây bệnh loét dạ dày tá tràng. Có thể minh họa quan niệm này bằng sơ đồ dưới đây:
Giảm Lực Bảo Vệ Tăng Lực Tấn Công
– Giảm tưới máu – Vi khuẩn H.Pylori niêm mạc DD-TT – Các stress
– Thuốc lá – Thuốc AINS , Steroids …
– Bệnh gan mạn tính – Rượu .
( xơ gan ) Hàng rào nhày Lớp tế bào niêm mạc
2. Trong số các tác nhân gây bệnh nêu trên, H. Pylori là nguyên nhân quan trọng nhất. Hai nhà bác học Úc Marshall và Warren đã được trao tặng giải Nobel nhờ đã có công khám phá ra loại vi khuẩn này. Các thuốc AINS, Steroides có thể gây loét ở người phải điều trị dài ngày với các thuốc này. Các stress về tâm lý thần kinh cũng có thể gây bệnh loét. Thuốc lá làm tăng nguy cơ bị loét, tăng tỉ lệ tái phát và biến chứng của bệnh loét. Rượu cũng tăng tỉ lệ tái phát loét.
II. Triệu chứng của bệnh loét dạ dày tá tràng như thế nào?
Chỉ khoảng 50% bệnh nhân loét DD-TT là có triệu chứng điển hình, 40 – 45% có triệu chứng mơ hồ, không điển hình, những trường hợp này rất khó chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác của DD-TT như viêm DD-TT, ung thư DD. Có 5 – 10% bệnh nhân loét hoàn toàn không có triệu chứng (loét câm), hay gặp ở người lớn tuổi.
1. Cơn đau loét: là triệu chứng điển hình của bệnh loét dạ dày tá tràngvới các đặc điểm (1) Đau thượng vị (vùng trên rốn và dưới mỏm xương ức). (2) Đau có chu kỳ theo bữa ăn và theo mùa. (3) Đau xuất hiện hoặc tăng khi ăn các thức ăn chua, cay hay khi bị căng thẳng thần kinh và giảm khi uống các thuốc kháng axit hay thuốc băng niêm mạc dạ dày.
2. Các triệu chứng không điển hình như đầy bụng, ợ hơi, ợ chua, chậm tiêu hóa… rất khó phân biệt là do loét hay do một bệnh khác của dạ dày như viêm DD, ung thư DD, hay chứng loạn tiêu hóa không do loét. Trường hợp này phải chụp Xquang hoặc nội soi DD-TT mới chẩn đoán chắc chắn.
3. Các trường hợp loét câm thường chỉ được chẩn đoán khi xảy ra biến chứng.
4. Bệnh thường hay tái phát. Trước đây, sau khi được chữa lành, có 60 – 80% tái phát trong vòng 2 năm. Từ thập niên 80, khi xác định được vai trò gây bệnh của vi khuẩn H. Pylori, việc điều trị tiệt trừ H. Pylori đã làm giảm tỉ lệ tái phát còn khoảng 10%.
III.Các biến chứng của bệnh loét dạ dày tá tràng là gì?
1. Xuất huyết tiêu hóa (chảy máu đường tiêu hóa): xuất huyết hay chảy máu thường rầm rộ với ói ra máu, có hoặc không có đi tiêu phân đen. Bệnh nhân cần được nhập viện ngay để điều trị cấp cứu.
2. Thủng DD-TT: xuất hiện cơn đau bụng đột ngột , dữ dội vùng thượng vị như dao đâm, thường có nôn ói và bụng cứng như gỗ. Biến chứng này phải được mổ cấp cứu, nếu không bệnh nhân sẽ tử vong.
3. Hẹp môn vị: lúc đầu ăn chậm tiêu, đầy bụng, nặng bụng, ợ nước chua nhất là về buổi chiều; tiếp theo bệnh nhân bị nôn ói sau ăn ngày càng thường hơn. Bệnh nhân thường gầy sút do bị nôn ói. Biến chứng này phải được điều trị bằng phẫu thuật.
4. Hóa ung thư: ngày nay người ta thấy có chứng cứ nhiễm H. Pylori gây viêm loét dạ dày lâu dài có thể dẫn đến ung thư dạ dày.
IV. Làm cách nào để xác định bị bệnh loét dạ dày tá tràng?
1. Chẩn đoán xác định loét DD-TT: trước đây khi bệnh nhân có cơn đau loét điển hình, bác sĩ có thể tiến hành điều trị với thuốc chống loét. Trường hợp các triệu chứng không điển hình, phải chụp Xquang hoặc nội soi để xác định bệnh loét và loại trừ các bệnh khác của dạ dày, nhất là ung thư dạ dày.
Các triệu chứng giúp nghĩ đến ung thư dạ dày là (1) Sụt cân, chán ăn. (2) Đi cầu phân đen và có các triệu chứng của thiếu máu mạn như xanh xao, mệt mỏi. (3) Đau bụng âm ỉ vùng thượng vị. (4) Người lớn tuổi (> 50 tuổi). (5) Có người thân trong gia đình bị ung thư dạ dày
2. Chẩn đoán nhiễm H. Pylori: hiện nay do cần xác định có nhiễm H. Pylori hay không để quyết định việc điều trị tiệt trừ nên cần làm xét nghiệm chẩn đoán nhiễm H. Pylori cho bệnh nhân. Có nhiều phương pháp chẩn đoán nhiễm H. Pylori như chẩn đoán qua nội soi và các xét nghiệm không phải làm nội soi như test huyết thanh học, test thở urease Phương pháp xét nghiệm hiện đại nhất hiện nay là Pytest (xét nghiệm dạ dày bằng hơi thở) khắc phục được nhược điểm gây nôn ói của nội so, kỹ thuật PCR…
V.Điều trị bệnh loét dạ dày như thế nào?
Hiện nay việc điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng có thể phân ra hai nhóm chính: nhóm bệnh loét DD-TT do nhiễm H. Pylori và nhóm không do nhiễm H. Pylori. Nhóm sau thường do dùng các thuốc kháng viêm, thuốc trị đau nhức,do stress, do bệnh gan mạn tính. Thuốc điều trị là kháng sinh mà chủ yếu là Metronidazole hoặc Clarithromycin, nhưng hiện nay hiện tượng đề kháng thuốc đã dần xuất hiện (47 – 86% với Metronidazol, 20% với Clarithromycin và 69% với Amoxiciclin) làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả điều trị. Clarithromycin có tỷ lệ thành công cao hơn hẳn so với Metronidazol, nhưng hiệu quả của thuốc sẽ tăng hơn nếu ức chế tiết acid đầy đủ bằng các thuốc ức chế bơm proton để làm tăng độ pH của dạ dày. .Các phác đồ điều trị chủ yếu hiện nay là sự phối hợp của 3 hoặc 4 loại thuốc trong số : thuốc ức chế bơm proton – Amoxcycilin – Metronidazol – Clarithromycin và Bismuth hay Tetracyclin.
Hội Tiêu hóa Việt Nam đã họp bàn nhiều về cách diệt trừ chúng và thống nhất một phương thức chung để điều trị Helicobacter Pylori ở bệnh nhân dạ dày tá tràng có hiệu lực nhất theo tóm tắt như sau:
– Chỉ định tiệt trừ HP: loét hành tá tràng; loét dạ dày; viêm teo dạ dày mạn tính hoạt động; u lympho bào dạ dày hoạt hóa thấp; ung thư dạ dày chẩn đoán rất sớm; điều trị lâu dài với thuốc chống viêm không steroid (NSAID) hay có tiền sử loét trước khi điều trị.
– Có thể dùng trong các trường hợp: Ung thư dạ dày chẩn đoán muộn và đã phẫu thuật; trào ngược dạ dày thực quản; viêm dạ dày đã điều trị nhiều lần không giảm hay con cái những người bị ung thư dạ dày.
– Công thức điều trị: chọn một trong các phác đồ sau:
1. Ức chế bơm proton (PPI) + Clarithromycin (C) 500mg + Amoxiciclin (A) 1000mg dùng ngày 2 lần trong ít nhất 7 ngày
2. [ PPI + C 500mg + Metronidazol (M) 500mg] x 2 lần x 7 ngày
3. [ PPI + Bismuth (B)200 – 400mg + Tetracyclin (T) 1000mg + M 500mg] x 2 lần x 7ngày
4. [ PPI + B 200 – 400 mg +T 1000mg + A 1000mg] x 2 lần x 7 ngày
5. PPI 2 lần/ngày + [ T 250mg + M 200mg + B 108mg ] x 5lần x 10 ngày
Các thuốc trung hòa axít trước đây được coi là thuốc chính trong điều trị VLDDTT. Nhưng hiện nay chỉ còn sử dụng như thuốc hỗ trợ để làm giảm các triệu chứng của bệnh VLDDTT, như đau bụng, ăn không tiêu…Toa thuốc trị viêm loét dạ dày nếu chỉ có thuốc giảm đau, chống co thắt, kháng acid… thì trên thực tế chỉ có lợi cho thầy thuốc vì bệnh nhân thế nào cũng phải tái khám, và có lợi cho nhà thuốc vì thân chủ sớm muộn cũng trở thành “khách hàng thân thiết”! Vậy phải làm cách nào?
Sản phẩm tốt nhất và thông dụng nhất trong điều trị hiện nay là CLROPHILL nhập khẩu từ Malaisya (trung hoà HCl và pepsin của dịch dạ dày)
-Kết hợp với K-Borini hoặc Zarnizo-K nhập khẩu từ Hà Lan (đặc trị khuẩn H.pylori)
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :
Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc
CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Vi khuẩn HP (Helicobacter pylori) – thủ phạm gây bệnh dạ dày

Đau dạ dày là một triệu chứng thường gặp ở nhiều người và nó có thể là dấu hiệu cho biết chúng ta đã bị viêm loét dạ dày. Căn bệnh này rất dai dẳng, gây khó chịu trong nhiều năm liền và có thể gây nên những những đợt cấp tính rất nguy hiểm, thậm chí có thể phát triển thành ung thư dạ dày.

Ảnh: Imagine

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến viêm loét dạ dày nhưng nhìn chung có 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất là do dùng các thuốc giảm giảm đau, chống viêm không chứa steroid, aspirin và một số loại thuốc khác. Thứ hai là do stress tâm lý, thói quen sử dụng rượu bia, thuốc lá, các loại thực phẩm gây kích thích niêm mạc dạ dày như trà, cà phê, ớt, tiêu, chanh, giấm… dẫn tới việc dạ dày tiết nhiều axít. Thứ ba và là nguyên nhân quan trọng nhất, là sự xuất hiện của một loại vi khuẩn có tên là Helicobacter Pylori trong dạ dày.

Phần lớn các ca viêm dạ dày – tá tràng đều do vi khuẩn HP gây ra và có thể tiến triển thành ung thư. Chúng có mặt trong cơ thể của một nửa dân số thế giới.

HP là một loại xoắn khuẩn gram âm, dài khoảng 2,5 mm và rộng 0,5 mm, có 4-6 roi nên dễ di chuyển trong lớp chất nhầy của niêm mạc dạ dày và đây cũng là môi trường trú ngụ của chúng. Chính lớp chất nhầy dạ dày đã bảo vệ cho vi khuẩn khỏi sự tác động của axit có trong dịch vị. HP có nhiều men để giúp chúng tồn tại, phát triển và gây bệnh tại dạ dày như men urease, một loại men thủy phân ure (chất có sẵn trong dạ dày) thành ammoniac và từ đó tạo ra môi trường acid thích hợp cho vi khuẩn phát triển, nhưng lại gây tổn thương loét cho niêm mạc dạ dày.

Khoảng 65 – 85% bệnh nhân viêm loét dạ dày có nhiễm HP và khi dùng thuốc diệt HP thì phần lớn khỏi viêm loét. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy HP là thủ phạm chính gây tổn thương niêm mạc dạ dày. Đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu trên thế giới khẳng định, HP không chỉ gây viêm loét mà còn có vai trò trong nhiều bệnh lý khác ở dạ dày – hành tá tràng như rối loạn tiêu hóa không loét, u lympho ác tính, ung thư…

Ở giai đoạn sớm, ung thư dạ dày hầu như không có triệu chứng. Khi bệnh đã tiến xa, bệnh nhân thường cảm thấy khó chịu vùng thượng vị, cảm giác đầy bụng sau ăn, buồn nôn và ói mửa, sụt cân nhanh. Các dấu hiệu này không phải là triệu chứng đặc hiệu của ung thư nên bệnh nhân dễ nhầm lẫn với các bệnh khác ở dạ dày như viêm loét dạ dày hay rối loạn tiêu hóa nên khi bệnh được phát hiện thì ung thư đã di căn xa. Vì thế khi có các triệu chứng trên kéo dài, người bệnh nên đi khám để tìm nguyên nhân và điều trị càng sớm càng tốt.

Để phát hiện sớm ung thư dạ dày

Phải tầm soát bằng chụp X-quang dạ dày hoặc nội soi dạ dày thì mới có thể phát hiện được ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Nội soi phát hiện thương tổn thương sớm tốt hơn X-quang. Người có yếu tố nguy cơ cần phải tầm soát ung thư dạ dày là các đối tượng: bị viêm teo dạ dày hoặc thiếu máu ác tính, loét khổng lồ, nhiễm HP mạn tính, đã cắt bán phần dạ dày, polyp dạ dày, trong gia đình có người bị ung thư đường tiêu hoá, có triệu chứng rối loạn tiêu hoá thường xuyên… Nếu có điều kiện thì mọi người trên 40 tuổi đều nên nội soi dạ dày tầm soát ít nhất 1 lần trong đợt kiểm tra sức khoẻ định kỳ hằng năm.

Gói khám tầm soát ung thư dạ dày & đại tràng

Các gói tầm soát ung thư dạ dày & đại tràng bao gồm: tư vấn & nội soi với bác sĩ chuyên gia, xét nghiệm máu, xét nghiệm tìm vi trùng HP, bữa ăn nhẹ hồi sức, tìm hiểu tiền sử & báo cáo bệnh án.

  • Gói tầm soát Ung thư dạ dày: 1.400.000 VNĐ
  • Gói tầm soát Ung thư đại tràng: 2.000.000 VNĐ
  • Gói tầm soát Ung thư dạ dày & đại tràng: 3.000.000 VNĐ

Đồng thời phòng khám dành tặng tất cả khách hàng “Phiếu khám bệnh trị giá 250.000 VNĐ”, phiếu có thể sử dụng được tất cả các dịch vụ tại phòng khám.

Các bạn quan tâm vui lòng liên hệ (08) 3925 9772 để đặt lịch hẹn và được hướng dẫn chi tiết.

Phòng khám chuyên khoa Á Châu (Gan – Nội tiêu hóa) đã đầu tư thiết bị máy móc hiện đại để đảm bảo bệnh nhân nội soi luôn an toàn và khâu tiệt trùng máy luôn được chú trọng, máy nội soi luôn được ngâm thuốc đủ thời gian và sấy khô để tiệt trùng sau mỗi ca nội soi. Mô hình phòng nội soi và giường nằm bệnh lưu trú trong ngày được đầu tư với chất lượng tương đương như phòng khám Singapore và thực hiện nội soi cũng do chính bác sĩ người Singapore phụ trách nhưng chi phí phù hợp với người Việt.

Phòng khám chuyên khoa Á Châu (Gan – Nội tiêu hóa)

Địa chỉ: 201 Nguyễn Thị Minh Khai, P. Nguyễn Cư Trinh, Q.1, TP.HCM.

Điện thoại: (08) 3925 9772 – Website: www.alc.vn

 

Bệnh thường gặp ở người già và cách phòng ngừa

Tuổi càng cao thì sức khỏe càng yếu dần và nhiều chức năng của cơ thể bị suy giảm, trong đó có hệ thống miễn dịch. Sự suy giảm chức năng ở mỗi người thường không giống nhau.

Nhưng có một điều thường giống nhau ở người cao tuổi (NCT) là tuổi càng cao thì càng dễ mắc bệnh và bệnh mạn tính cũng thường hay bị tái phát. Bởi vì trong vô số các chức năng sinh lý của NCT bị suy giảm thì chức năng đề kháng của cơ thể cũng bị suy giảm, các loại bệnh cũng theo đó mà phát sinh.

Bệnh thường gặp ở người cao tuổi

Bệnh về hệ thống tuần hoàn

Trong số các bệnh về tim mạch ở NCT thì bệnh xơ vữa động mạch, bệnh thiểu năng mạch vành, bệnh tăng huyết áp… chiếm một tỷ lệ đáng kể. Trong một số trường hợp, các loại bệnh này thường thấy ở những người béo phì, nghiện bia, rượu chiếm tỷ lệ cao hơn những người không nghiện bia rượu.

Bệnh về hệ hô hấp

Bệnh viêm họng, viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, tâm phế mạn tính, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là những bệnh gặp khá nhiều ở NCT, nhất là ở những người có tiền sử hoặc đang hút thuốc lá, thuốc lào, những người sống trong tình trạng thiếu dưỡng khí như: nhà chật hẹp, thiếu ánh sáng, khói bếp nhiều… Đặc điểm của bệnh vê đường hô hấp lại thường hay xảy ra vào mùa lạnh, thay đổi thời tiết, lúc giữa đêm gần sáng do đó rất dễ làm cho NCT mất ngủ kéo dài.


Ảnh: Internet

Bệnh về đường tiêu hóa

NCT rất dễ mắc bệnh rối loạn tiêu hóa như: viêm loét miệng, ăn không tiêu, đầy hơi, chướng bụng, táo bón hoặc đi lỏng. Táo bón là một bệnh do nhiều lý do khác nhau nhưng trong đó có một lý do mà NCT hay gặp phải là ít vận động. NCT thường ngồi một chỗ thêm vào đó ít ăn rau, uống ít nước cho nên phân ứ lại lâu ngày ở trực tràng làm cho các mạch máu trực tràng giãn ra gây nên bệnh trĩ. NCT cũng có thể mắc bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng, trào ngược thực quản hoặc viêm đại tràng mạn tính. Các loại bệnh dạng này thường làm cho NCT rất khó chịu, gây lo lắng, ăn không ngon, ngủ không ngon giấc hoặc kém ngủ, mất ngủ kéo dài. Mất ngủ lại làm cho nhiều bệnh tật phát sinh.

Bệnh về hệ tiết niệu – sinh dục

NCT cũng rất dễ mắc các bệnh về hệ tiết niệu- sinh dục, đặc biệt là u xơ tiền liệt tuyến hoặc ung thư tiền liệt tuyến. Những bệnh về sinh dục – tiết niệu thường có hiện tượng đi tiểu nhiều lần, tiểu dắt, tiểu són, nhất là vào ban đêm gây nhiều phiền toái cho NCT.

Bệnh về hệ xương khớp

Đau xương, khớp, thoái hóa khớp nhất là đốt sống thắt lưng, khớp gối hoặc bệnh gút làm cho người bệnh đau đớn, lo lắng, buồn chán, nhất là khi thay đổi thời thiết. Thoái hóa khớp gối, gây biến chứng cứng khớp gây đau khớp gối và vận động khó khăn mỗi buổi sáng lúc bắt đầu ngủ dậy. Triệu chứng đau nhức các khớp xương tương đối phổ biến ở NCT, đặc biệt là về đêm gây khó chịu ảnh hưởng đến sức khỏe và gây mất ngủ hoặc ngủ không sâu, không ngon giấc.

Về hệ thần kinh trung ương

Hầu hết NCT do hệ thần kinh trung ương bị lão hóa dần nên làm cho trí nhớ kém, hay quên, cá biệt mắc một số bệnh như: Parkinson hoặc Alzheimer.

Rối loạn một số chỉ số về mỡ máu (cholesterol, triglycerid), rối loạn về chức năng gan (SGOT, SGPT), đái tháo đường cũng là một số biểu hiện dễ bắt gặp ở NCT. Đi kèm các rối loạn một số chỉ số này thường gặp ở người có tăng huyết áp, viêm gan, nghiện rượu… Bệnh đái tháo đường tuy không chỉ gặp ở NCT mà còn gặp ở tuổi trẻ nhưng với NCT thường ít được phát hiện mà khi đã phát hiện thì thường muộn, đôi khi đã có biến chứng.

Ngoài ra, người ta còn thấy NCT thường thiếu một lượng nước cần thiết do thói quen ăn, uống ít nước hoặc ăn nhiều chất đạm như: cá, trứng, thịt gà, thịt lợn, thịt bò, thịt chó… làm xuất hiện một số bệnh về đường tiêu hóa hoặc làm da khô, nứt nẻ khó chịu…

Một số biện pháp phòng ngừa

Nên đi khám bệnh định kỳ, nhất là mỗi khi nghi bản thân mình có bệnh. Khám bệnh, thầy thuốc sẽ phát hiện ra bệnh và sẽ có những lời khuyên và tư vấn hữu ích.

Nên tập thể dục đều đặn như tập hít thở trước và sau khi ngủ dậy, tập vận động tay chân, xoa, bóp các cơ bắp. Không nên nằm hoặc ngồi lâu một chỗ. Có thể tập nhẹ nhàng trong nhà, trong vườn hoặc có điều kiện thuận lợi như gần công viên, câu lạc bộ nên đến những nơi này để vừa tập vừa có cơ hội gặp gỡ bạn bè trao đổi, tâm sự phần để giải tỏa một số bức xúc và có thể học tập kinh nghiêm lẫn nhau trong việc gìn giữ, bảo vệ sức khỏe thì càng tốt.

Để tránh thiếu lượng nước cần thiết nên uống nước đều đặn và đầy đủ vào buổi sáng. Cần ăn nhiều rau, cũng là một hình thức cung cấp một lượng nước đáng kể, cung cấp chất xơ để hạn chế táo bón. Buổi tối trước khi đi ngủ không nên uống nhiều nước có thể gây nên hiện tượng tiểu đêm làm ảnh hưởng đến giấc ngủ.

Buổi tối cũng không nên uống rượu, bia, không nên hút thuốc lá, thuốc lào. Ngoài ra, gia đình của NCT (con, cháu) nên gần gũi, động viên, chăm sóc ông bà, bố mẹ những lúc ốm đau cũng góp phần đáng kể làm cho NCT ít bệnh tật và cảm thấy sống vẫn còn có ích.

Meo.vn (Theo SK&ĐS)

Thuốc chữa dạ dày làm tăng nguy cơ đột qụy

Đó là một thông tin đầy bất ngờ trên tạp chí khoa học Y học Anh quốc ra tháng 10/2011.

Theo bài báo này thì các nhà khoa học Thụy Điển đã nghiên cứu trên một số lượng lớn bệnh nhân để tìm hiểu nguy cơ khi những bệnh nhân sử dụng thuốc chữa viêm loét dạ dày loại ức chế bơm proton.

Các nhà khoa học đã tiến hành điều tra trên 19.925 bệnh nhân bị đột qụy não và bị nhồi máu cơ tim nhưng có thêm bệnh viêm loét dạ dày tá tràng. Theo một phác đồ cố định, toàn bộ những bệnh nhân này được chỉ định dùng hai thuốc là aspirin và omeprazol. Kết quả cho thấy, những người mà dùng omeprazol thường xuyên thì hoạt tính chống ngưng tập tiểu cầu của aspirin bị giảm và kết quả là họ dễ bị đột qụy hơn. Có đến 46-61% số bệnh nhân bị đột qụy hay nhồi máu tái phát sau một năm dùng thuốc nếu như họ dùng đồng thời cả hai thuốc này.

Rõ ràng là ức chế bơm proton đang làm ảnh hưởng tới mục tiêu kiểm soát tim mạch. Điều này có thể khiến chúng ta phải thay đổi chiến lược dùng thuốc trong điều trị

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)

Đẹp da mặt với trứng gà

Ăn uống rất quan trọng khi bạn muốn sở hữu một làn da đẹp, nhất là da mặt. Bạn có thể thường xuyên chế biến 3 món ăn rất đơn giản, dễ làm sau đây để sử dụng và sẽ thấy hiệu quả hơn nhiều so với việc sử dụng mỹ phẩm

– Trứng gà trộn giấm: Đây là món có tác dụng tăng cường mức độ trao đổi chất, cải thiện dinh dưỡng cho cơ thể,  giảm béo, nâng cao thể trạng và sức đề kháng, trừ các vết sạm đen nâu ở má và làm cho da mềm mại.

Chế biến bằng cách cho một quả trứng gà đã rửa sạch vào bình thủy tinh rộng miệng rồi cho 200-400 ml giấm loại tốt vào, đậy kín bình trong khoảng 48 giờ thì vỏ trứng sẽ mềm ra. Dùng đũa phá màng ngoài của trứng và trộn đều lòng đỏ với lòng trắng trong giấm, để sau 24 giờ thì dùng được. Mỗi ngày dùng một lần độ 20-30 ml bằng cách uống trước khi ngủ. Trước khi dùng cần trộn thật kỹ. Để dễ uống hơn, có thể pha với 50-70 ml nước nóng và một ít đường hoặc mật ong.

Lưu ý: Sản phẩm này phải dùng lâu dài mới có kết quả tốt và mỗi lần chế biến chỉ nên dùng trong vòng từ 5-7 ngày. Những người viêm loét dạ dày, dị ứng với giấm hoặc huyết áp thấp không nên dùng.

– Canh nấm rơm: Món ăn này có tác dụng làm đẹp da vì nấm rơm có giá trị dinh dưỡng cao. Trong nấm rơm cũng có nhiều acid amin cần thiết cho cơ thể, các chất phòng da bị lão hóa nên rất tốt trong việc khử các nếp nhăn và sạm da của người già. Chế biến bằng cách dùng nước ấm ngâm khoảng 20 g nấm rơm đã loại bỏ tạp chất, sau đó vớt ra và dùng nước lạnh rửa thật sạch. Cho nấm rơm vào nồi cùng gia vị, một ít rượu, dầu ăn và một lát gừng, nấu chín.

– Móng giò heo hầm đậu phộng: Móng giò heo là thực phẩm có tác dụng bổ huyết và làm mịn da. Trong móng giò có chứa nhiều protein thể keo mà khi cơ thể thiếu các protein này thì sẽ thiếu nước, da sẽ giảm tính đàn hồi nên xuất hiện các nếp nhăn. Đậu phộng chứa nhiều chất dinh dưỡng, nhất là vitamin E, nhiều acid béo chưa no có tác dụng làm chậm quá trình lão suy và duy trì chức năng hoạt động bình thường của hệ thần kinh. Món ăn chế biến phối hợp giữa móng giò và đậu phộng vì thế rất có tác dụng làm da mịn màng, giảm nếp nhăn trên mặt.

Chế biến bằng cách dùng một móng giò heo cạo lông rửa sạch và 15 g đậu phộng. Cho tất cả vào nồi hầm với nước vừa ăn, một ít rượu và gia vị, hồ tiêu bột, đun sôi rồi để lửa nhỏ hầm tới lúc móng giò  chín nhừ là được.

Lương y Hoàng Châu

Meo.vn (Theo NLD)

Tôi đi ngoài ra nhiều máu tươi. Tôi bị gì vậy thưa bác sĩ?

Tôi bị niêm mạc dạ dày mấy năm nay rồi. Thời gian trước tôi có điều trị và bệnh đã ổn định một thời gian.Thưa bác sĩ,

Thời gian gần đây, tôi cảm thấy ăn không tiêu, đầy hơi và có cảm giác buồn nôn. Điều khó chịu nhất là tôi đi ngoài ra nhiều máu tươi.

Mong bác sĩ tư vấn giúp.(Bá Kiên – Hưng Yên)

Trả lời

Chào bạn,

Ăn không tiêu là tình trạng rối loạn tiêu hóa, có cảm giác đầy bụng, khó chịu vùng bụng trên hoặc đau bụng, đau ở vùng thượng vị, cảm giác buồn nôn, ăn ít nhưng mau no hay ợ chua, ợ nóng…thường các triệu chứng này xuất hiện sau ăn.

Hầu hết trường hợp ăn không tiêu là do :

– Ăn quá nhiều hoặc quá nhanh, nhất là nói chuyện trong khi ăn, gây nuốt nhiều không khí, thức ăn có nhiều tinh bột, nhiều dầu mỡ hay thần kinh đang lo âu, căng thẳng, stress…

– Do thuốc giảm đau – kháng viêm Aspirin, thuốc chống viêm không steroid (NSAID), thuốc corticoid và các chất gây kích ứng niêm mạc dạ dày như rượu – bia, thuốc lá…

– Các bệnh lý có liên quan như trào ngược thực quản dạ dày, viêm dạ dày, loét dạ dày – tá tràng, vi trùng Helicobacter pylori, hẹp tâm vị, hẹp môn vị hoặc do ung thư dạ dày…

Triệu chứng đi cầu ra máu đỏ tươi là một triệu chứng của nhiều bệnh lý ở đường tiêu hóa. Ngoài triệu chứng này, bạn có kèm theo các triệu chứng khác không? Chẳng hạn như phân cứng do táo bón hay phân sệt có nhầy máu, máu ra sau phân hay có lẫn trong phân, số lượng nhiều hay ít, có đau rát hậu môn…?  Nếu không được khám trực tiếp bác sĩ rất khó xác định nguyên nhân gây bệnh.

Tuy nhiên, nguyên nhân đi cầu ra máu tươi thường gặp là do bệnh trĩ,  polyp trực tràng – đại tràng, viêm nứt kẽ ống hậu môn, viêm loét đại trực tràng chảy máu…

Tốt nhất bạn nên khám chuyên khoa tiêu hóa để được khám và làm thêm xét nghiệm, nội soi dạ dày và đại tràng tìm nguyên nhân gây chảy máu, từ đó mới có phương pháp điều trị thích hợp.

Bạn nên sớm điều trị, nếu để ra máu kéo dài sẽ gây thiếu máu đồng thời ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bạn.

Thân ái!

BS-CK1 Nguyễn Thị Thu Thảo

Meo.vn (Theo alobacsi)

Cháu đi tiêu ra máu tươi, nếu mang thai thì có ảnh hưởng gì không ạ?

Chào bác sĩ,

Năm nay cháu 23 tuổi, cháu chưa lấy chồng nhưng thỉnh thoảng cháu đi đại tiện ra máu tươi. Cháu có uống một số loại thuốc như Tottri, Proctolog, Daflon. Bác sĩ cho cháu hỏi nếu sau này cháu lấy chồng có ảnh hưởng gì đến việc sinh con không vì cháu thấy những phụ nữ mang thai hay bị bệnh đi ngoài khó.

Cảm ơn bác sĩ! (Huyen Trang – congio…@yahoo.com.vn)

Chào cháu,

Đi tiêu ra máu tươi nguyên nhân thường gặp là bệnh trĩ, ngoài ra có thể là polyp trực tràng và đại tràng, viêm nứt kẽ ống hậu môn, viêm loét đại trực tràng chảy máu…

Các thuốc cháu đã uống là thuốc điều trị trĩ. Không rõ cháu có đi bác sĩ khám hay tự mua thuốc uống? Nếu tự mua, thì cháu nên đi khám để xem có đúng là cháu bị trĩ không nhé.

Bệnh trĩ thường gặp ở những người đứng lâu, ngồi nhiều, táo bón kéo dài, phụ nữ mang thai, có tính chất gia đình…

Phụ nữ mang thai đi tiêu khó là do thai to chèn ép vùng hậu môn trực tràng. Có thai phụ còn bị trĩ do đi tiêu khó, táo bón phải rặn nhiều khi đi tiêu. Bệnh trĩ  không ảnh hưởng đến việc sinh con, tuy nhiên dễ bị tái phát khi mang thai.

Do đó cháu cần điều trị bệnh trĩ cho ổn định trước khi dự định mang thai. Bên cạnh đó cần phòng ngừa bằng cách: hạn chế công việc nặng, tránh ngồi lâu, đứng nhiều, không uống rượu, bia, không dùng các thức ăn dễ gây kích thích như ớt, tiêu và tránh táo bón. Nên ăn những thức ăn làm cho phân mềm (ăn nhiều rau quả giàu chất xơ, uống nhiều nước), cần vệ sinh giữ sạch vùng hậu môn.

Thân mến!

Meo.vn (Theo Alobacsi)

Mẹo vặt cho các bà nội trợ đảm đang

Không chỉ là những loại thực phẩm gần gũi mà bạn còn có thể khai thác những tính năng của chúng để công việc bếp núc trở nên đơn giản hơn.

1.    Mẹo vặt với giấm

–    Ngâm quần áo mới vào nước giấm nguyên chất trong 10 phút trước khi giặt sẽ giúp cho màu sắc của quần áo không bị phai.

–    Làm sạch máy giặt: Cứ mỗi tháng chế vào trong máy giặt khoảng 250 ml giấm rồi cho máy chạy không, sẽ thông được vòi xả và làm sạch các mảng bám của xà phòng trong ống.

–    Nếu bạn lạ nhà, không ngủ ngon, hãy pha ½ thìa cà phê dấm vào cốc nước lạnh (150 – 200 ml), bạn sẽ nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Chính vì công dụng tuyệt vời này, mà nếu bị say tàu xe, hãy uống một cốc nước ấm có pha vài giọt dấm trước khi xe khởi hành, bạn sẽ có cảm giác dễ chịu.

2.    Những công dụng của nha đam

–    Bạn nên sắm một chậu cây nha đam cho gian bếp nhà mình. Khi bị bỏng hoặc đứt tay, chỉ cần bẻ một lá nha đam lấy nhựa rồi thoa lên vết thương.

–    Cứ vài giờ uống một muỗng canh gel tươi nha đam lúc bụng đói sẽ làm lành vết viêm loét dạ dày (không được quá 400mg gel tươi/ ngày).

–    Dịch nha đam tươi có tác dụng làm săn da, làm nhỏ lỗ chân lông. Bôi gel tươi hàng ngày lên mặt có tác dụng ngừa nám, làm mịn da, ngừa mụn…

3.    Thịt nấu đông ngon tuyệt

Thịt nấu đông đúng cách không cần bỏ vào tủ lạnh mà vẫn đông cứng. Muốn như thế, bạn phải đảm bảo lượng bì ít nhất bằng 1/3 lượng thịt. Khi nấu, bạn để lửa vừa và thời gian nấu lâu để thịt ra nhựa, nước thịt khi đông lại sẽ không bị đục, rất đẹp mắt.

4.    Mẹo hay với rượu

Bạn muốn cá tươi cho đến tận khi sơ chế, chỉ cần nhỏ mấy giọt rượu vào miệng cá lúc còn sống. (ảnh minh họa)

–    Để thịt gà, thịt vịt thơm ngon hơn, khi ướp bạn cho vào một chút rượu vang đỏ, khi nấu thịt sẽ thấm, mềm và rất thơm. Hoặc thịt gà, vịt tẩm rượu bỏ vào tủ lạnh, thịt vẫn thơm mà không bị nhợt nhạt.

–    Trước khi cắt tiết gà, vịt: cho chúng uống một chút rượu. Làm như vậy, sau khi nhúng nước sôi, rất dễ vặt lông.

–    Bạn muốn cá tươi cho đến tận khi sơ chế, chỉ cần nhỏ mấy giọt rượu vào miệng cá lúc còn sống. Sau đó, thả vào chậu nước, để chỗ thoáng khí. Như vậy, dù trời có nắng nóng cá vẫn có thể sống được vài ba ngày.

–    Trong khi nấu ăn, bạn lỡ tay cho nhiều dấm vào thức ăn, bạn không phải lo vì phải bỏ món ăn đó đi thì bạn nên dùng một chút rượu gạo thêm vào, đảm bảo món ăn sẽ giảm vị chua ngay.

–    Khi chiên trứng, bạn cho thêm vài giọt rượu vào, trứng sẽ mềm và có màu vàng ươm rất đẹp.

Meo.vn (Theo Camnanggiadinh)

Loét niêm mạc miệng – Trị cách gì?

Niêm mạc miệng là lớp bao phủ khoang miệng và lưỡi. Tổn thương viêm loét niêm mạc miệng có thể có mủ hoặc không có mủ. Bệnh gây đau đớn và khó khăn cho bệnh nhân khi ăn uống, nói năng.

Vì sao lại bị viêm loét niêm mạc miệng?

Có nhiều nguyên nhân gây ra viêm loét niêm mạc miệng, bao gồm:        

Chấn thương: bỏng nhiệt do ăn uống thức ăn quá nóng, tổn thương hay gặp ở vòm miệng, chỗ cung răng hàm trên; do đụng dập, té ngã, bị đánh; do các thủ thuật nha khoa như khoan trám răng, hàn răng, nhổ răng, lắp răng giả nhưng không vừa, răng bị mẻ, gãy…; trẻ em bị que kem, bút viết, hoặc vật sắc nhọn đâm vào miệng lưỡi.

Do tác động của các chất hóa học như axít, nước vôi, nước súc miệng quá đậm đặc, dùng nhiều kem đánh răng nhưng súc miệng chưa kỹ…

Nhiễm khuẩn: nhiều loại vi khuẩn gây viêm loét lợi răng hoại tử cấp tính quanh ổ răng, thường  gặp ở người thiếu dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch, người bị mệt mỏi suy nhược cơ thể, hút thuốc, vệ sinh kém.

Ăn cam, chanh phòng chống loét miệng.

Nhiễm virut:

viêm miệng do virut Herpes với triệu chứng là mụn nước lan rộng rồi tạo thành vết loét, gặp ở môi, mép, niêm mạc miệng, có thể có sốt, viêm họng, nổi hạch. Varicella zoster virut (VZV): gặp trong bệnh thủy đậu, bệnh gây loét, mụn nước ở niêm mạc miệng. VZV tiềm ẩn trong mô thần kinh, gây phát ban da tương ứng với rễ thần kinh và ảnh hưởng nhánh dây thần kinh số V gây loét miệng, rất đặc trưng vì cùng bên với đau và dị cảm. Các mụn nước thường ở vòm miệng, má, lưỡi, họng vỡ nhanh tạo vết loét. Coxsackie virus: là loại virut gây bệnh tay – chân – miệng ở trẻ em; tổn thương mụn nước trên nền đỏ tạo thành loét, gặp ở niêm mạc miệng, lưỡi gà, đặc biệt ở khẩu cái, lưỡi, niêm mạc má. Rubella: gây ra bệnh sởi, dấu hiệu ở miệng chính là dấu Koplik, với dát hồng ban nhỏ ở niêm mạc má, trung tâm hoại tử trắng, thường xuất hiện 1-2 ngày trước triệu chứng toàn thân. Epstein – Barr virus (EBV): gây hội chứng sốt, loét miệng vùng sau miệng hầu.

Ngoài ra còn có các yếu tố khác gây viêm loét miệng như: ảnh hưởng của nội tiết tố; do yếu tố di truyền; do dị ứng thức ăn, thuốc chữa bệnh; do thiếu các loại vitamin: C, PP, B6, B12; thiếu sắt; do bệnh tự miễn…

Dấu hiệu viêm loét miệng

Khi bị viêm loét niêm mạc miệng, lưỡi, có thể biết được nguyên nhân nhưng cũng có khi không biết được nguyên nhân mà chỉ thấy tự nhiên xuất hiện các vết loét kèm theo các dấu hiệu: sưng nóng đỏ đau, có vết lở loét rất khó chịu nhất là khi nhai nuốt, ăn uống; có thể là những áp-xe ở dưới lưỡi, dưới niêm mạc; nhẹ hơn là những vết loét ở lưỡi và niêm mạc miệng, khi viêm cấp thường tấy đỏ và rất đau, thậm chí sốt cao, nổi hạch góc hàm. Đặc biệt, các vết loét cấp ở niêm mạc miệng lưỡi thường tái phát, gây đau đớn và làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh. Các tổn thương viêm loét khá đa dạng: loét dạng aphthe nhỏ là hay gặp nhất, chiếm khoảng 80%, điển hình là có một vài đến nhiều vết loét đường kính dưới 1cm, nông, nằm rời rạc hoặc thành đám, tự lành trong khoảng 7 – 14 ngày và  không để lại sẹo. Loét dạng aphthe lớn, còn gọi là bệnh Sutton hoặc hoại tử niêm mạc miệng tái phát có viêm hạch ngoại biên, chiếm khoảng 10%. Vết loét có kích thước lớn hơn 1cm, gồm một hay nhiều vết loét, chậm liền có khi kéo dài nhiều tuần, để lại sẹo do hoại tử lan rộng. Loét dạng Herpes, nhưng không liên quan đến virus Herpes, số lượng vết loét nhiều từ 10 – 100 vết, tổn thương kết thành chùm, nhiều vết loét nhỏ nhanh chóng kết hợp lại thành mảng lớn, lành trong khoảng 7 – 30 ngày. Đặc điểm là vết loét có màu đỏ ở xung quanh, trung tâm có mảng mục màu vàng, đau nhiều trong 2 – 3 ngày đầu, dần dần giảm đau khi bắt đầu lành.

Lưu ý trong điều trị và phòng bệnh

Điều trị viêm loét miệng lưỡi chủ yếu là giảm đau vì đau là triệu chứng khó chịu nhất. Đa số các trường hợp không cần điều trị mà bệnh sẽ tự khỏi sau 7 – 14 ngày.

Những trường hợp cần thiết, bác sĩ có thể sử dụng các thuốc điều trị như: dùng các loại thuốc hạ sốt; cho bệnh nhân súc miệng bằng dung dịch hydrogen peroxide 1%; giảm đau tại chỗ bằng thuốc tê lidocain; sử dụng thuốc kháng viêm, sát khuẩn răng miệng bằng các dung dịch như: orabase, zilactin…; dùng thuốc kháng virut như: acyclovir, famciclovir, alcyclovir; khi có nhiễm khuẩn dùng kháng sinh.

Có thể áp dụng những cách tự chăm sóc khi bị loét miệng như: ngưng uống rượu bia, bỏ hút thuốc lá. Không nên ăn thức ăn cay, mặn, chua, chát, nóng. Khi bị đau nhiều, có thể dùng ống hút để uống nước, nhưng không uống nước nóng. Chỉ chải răng ở những chỗ không đau, không chải răng ở những chỗ đau do viêm loét, tránh gây chấn thương thêm cho niêm mạc miệng lưỡi do chải răng. Đi khám bệnh khi có các biểu hiện sau: vết loét phát triển nhiều, lớn hơn một cách bất thường so với các triệu chứng đã nêu ở trên; vết loét kéo dài trên 3 tuần; không giảm đau mặc dù đã dùng các thuốc giảm đau; sốt cao hoặc sốt vừa nhưng kéo dài nhiều ngày.

Phòng bệnh: Cần chú ý xem loại thức ăn nào đã gây dị ứng và gây viêm loét miệng thì không bao giờ ăn loại thức ăn đó nữa. Đối với các loại thuốc chữa bệnh gây dị ứng phải ghi nhớ để không dùng loại thuốc đó mới tránh được viêm loét miệng do dị ứng thuốc. Ngoài ra cần ăn uống đủ chất, nhất là các loại thức ăn chứa nhiều các vitamin C, PP, B6, B12 như: rau xanh các loại, hoa quả chín, cam, chanh, bưởi, thịt, cá, trứng, sữa… để phòng viêm loét miệng do thiếu vitamin loại này.

ThS. Bùi Hữu Thời

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)

Thuốc từ cây khế chua

Để làm thuốc, người ta chỉ dùng cây khế chua. Vỏ rễ hoặc vỏ thân cây khế. Cạo hết lớp vỏ xanh và rêu mốc bên ngoài, rửa sạch, thái nhỏ, sao vàng, phối hợp với vỏ quýt lâu năm sắc uống có thể chữa ho gà.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Lá khế 20 g, rửa sạch, nấu nước uống ngày hai lần, mỗi lần nửa bát con, giúp chữa ho suyễn ở trẻ em.

Lá khế tươi 20 g giã với lá chanh 10 g, thêm nước, gạn uống, chữa cảm nắng.

Để chữa ngộ độc nấm, rắn cắn, lấy lá khế, lá hoặc quả đậu ván đỏ mỗi thứ 20 g, lá lốt 10 g, giã nát, hòa với 200 ml nước sôi để nguội, chắt lấy nước uống làm một lần. Có thể dùng lá khô (liều lượng bằng 1/2 hoặc 1/3 liều lá tươi) sao qua cho thơm, sắc uống, thêm đường cho thật ngọt. Nếu mới bị ngộ độc, chỉ uống 2-3 lần là khỏi.

Chữa ho khan, ho có đờm, kiết lỵ: Hoa khế 12 g tẩm nước gừng, sao, sắc uống.

Chữa tiểu tiện không thông: Lấy 7 quả khế, cắt mỗi quả lấy một miếng khoảng 1/3 phía gần cuống, đổ vào một bát nước, sắc còn nửa bát, uống lúc nóng; đồng thời lấy một quả khế giã nát với một củ tỏi, đắp vào rốn.

Tầm gửi cây khế thái nhỏ, lấy 20 g, sao vàng, sắc uống chữa sốt, sốt rét, ho gà.
Việc dùng nước ép quả khế uống hằng ngày cung cấp lượng vitamin C khá cao cho cơ thể để chống bệnh viêm loét chân răng và chữa ngộ độc.
Meo.vn (Theo Xaluan)