Lưu trữ cho từ khóa: gây đau

Khô âm đạo – Đừng quá chủ quan !

Theo các chuyên gia sản phụ khoa tại các bệnh viện phụ sản hay các trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản thì chứng khô âm đạo là một trong những vấn đề mà các chị em đến thăm khám và nhờ tư vấn thường than phiền nhiều nhất.

Đằng sau chứng khô âm đạo là gì?

Khô âm đạo là nguyên nhân chính dẫn tới ham muốn tình dục suy giảm ở nữ giới và vấn đề này ảnh hưởng tới gần 50% phụ nữ trong độ tuổi từ 40 – 59. Khô âm đạo là tình trạng khó chịu dẫn tới đau và khó khăn khi quan hệ tình dục. Khô thường đi đôi với teo âm đạo và là nguyên nhân làm cho phụ nữ khó và không đạt được khoái cảm và lảng tránh giao hợp, lâu dần dễ dẫn tới lãnh cảm. Điều này sẽ tác động tiêu cực tới tâm lý và hạnh phúc gia đình.

Ngoài những ảnh hưởng dẫn đến giảm ham muốn tình dục, gây đau đớn khi quan hệ, cảm giác nóng rát và ngứa ngáy ngay cả khi ngồi, đứng, tập thể dục hoặc thậm chí đi tiểu cũng thường gặp. Việc tiết dịch âm đạo bình thường là rất cần thiết cho việc duy trì mọi hoạt động của cơ thể và sức khỏe đời sống hàng ngày. Dịch tiết âm đạo cũng đảm bảo cho môi trường âm đạo có sự cân bằng PH, tính acid của môi trường âm đạo giúp chống lại các bệnh viêm nhiễm. Khi lượng dịch âm đạo không đủ, người phụ nữ sẽ có nguy cơ nhiễm nấm âm đạo và nhiễm trùng đường tiết niệu

Cần hiểu đúng nguyên nhân

Những thay đổi nội tiết tố trong thời kỳ mãn kinh và tiền mãn kinh là nguyên nhân chính. Cụ thể nội tiết tố ở đây không chỉ riêng hàm lượng estrogen giảm mà cả progesterone và testosterone thấp làm cho mô âm hộ, mô âm đạo mỏng và khô teo. Giảm testosterone làm giảm trương lực cơ trong âm đạo và làm giảm độ nhạy cảm tình dục. Sự giảm của progesterone và estrogen cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến thiếu các đáp ứng về kích thích tình dục và do đó dẫn đến khô âm đạo.

Và một giải pháp toàn diện

Các liệu pháp hormone tự nhiên được xem là công cụ hữu hiệu và an toàn trong việc duy trì sức khỏe tình dục cho phụ nữ.

Tháng 8/2011, tại khu vực TP.HCM kết quả nghiên cứu về sản phẩm TPCN Spacaps trong hỗ trợ điều trị chứng khô âm đạo cho thấy phụ nữ sử dụng Spacaps giúp cải thiện đáng kể triệu chứng khô âm đạo khi kết thúc một đợt điều trị trong 3 tháng (ngứa âm đạo giảm 89,4% – chảy máu sau giao hợp giảm 87,8% – nóng rát âm đạo giảm 85,0% – đau khi giao hợp giảm 84,1% – tự cảm thấy khô âm đạo giảm 82,2%).

Tháng 10/2011 tại khu vực Hà Nội, kết quả đề tài nghiên cứu “Đánh giá độ an toàn và hiệu quả của viên uống TPCN Spacaps trong hỗ trợ điều trị khô âm đạo ở lứa tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh” cho thấy: các triệu chứng khô âm đạo, giảm khoái cảm, giao hợp đau, són đái và các triệu chứng vận mạch được cải thiện trên 90% sau đợt điều trị 3 tháng. Sự kết hợp tinh chất từ củ mài (pregnenolone) và tinh chất mầm đậu nành (isoflavone) trong viên uống Spacaps có ưu thế hơn hẳn so với các sản phẩm chứa isoflavone đơn thuần vì giúp cơ thể điều hòa sự cân bằng giữa estrogen và progesterone (điều tiết chất nhờn âm đạo) và testosterone (điều tiết sự ham muốn). Trong thành phần Spacaps còn chứa một số thảo dược quý như: đương quy, hà thủ ô, nhàu, thổ phục linh. Với thành phần cấu tạo như vậy, ngoài chức năng hỗ trợ điều trị và phòng ngừa chứng khô âm đạo, Spacaps còn có tác dụng làm chậm quá trình lão hoá, hồi phục các chức năng sinh lý cho phụ nữ.

Giải quyết được vấn đề khô âm đạo ngay từ khi bắt đầu là giải pháp duy nhất và đơn giản không những để làm giảm các triệu chứng khó chịu do khô âm đạo gây ra, mà còn giảm nguy cơ khác giúp người phụ nữ sớm lấy lại được sức khỏe, sự tự tin, niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống.

 
 

Đau vai gáy – nỗi niềm không của riêng ai.

Đau vai gáy là căn bệnh khá phổ biến, gặp ở mọi lứa tuổi và nghề nghiệp, kể cả các bạn trẻ, nhất là những người làm việc nhiều với máy tính. Triệu chứng có thể gặp đau cổ vai gáy lan xuống tay nếu ảnh hưởng tới rễ dây thần kinh, hoặc đau lan lên đầu khi ảnh hưởng tới mạch nuôi não gây thiểu năng tuần hoàn não.

Thông thường thì bệnh tự khỏi, tuy nhiên nếu bị lặp đi lặp lại nhiều lần bạn không nên chủ quan vì khi đó có thể do thoái hóa cột sống cổ gây thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh trong tủy; thậm chí có thể gây liệt tay.

Trường hợp bác Mai Thị Vận, ĐC số 10 Nguyễn Văn Hoàng, TP Kon Tum khá điển hình. Bác bị đau cổ vai gáy 20 năm nay, gần đây bệnh tăng hơn và lan xuống gây liệt tay trái, điều trị nhiều loại thuốc không những không khỏi mà còn gây đau dạ dày. Trên film chụp MRI bác bị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Rất may bác được giới thiệu và sử dụng “Tinh Hoa Dưỡng Cốt” tay của bác đã vận động trở lại bình thường. (Xem Video phát biểu của bác Mai Thị Vận tại đây)

Bác Mai Thị Vận

Vì sao “Tinh hoa Dưỡng cốt” có tác dụng kỳ diệu như vậy, trao đổi với chúng tôi thạc sỹ Cao Minh cho biết “Tinh hoa Dưỡng cốt” được bào chế từ bài thuốc cổ phương có từ đời Đường cách đây hơn 1000 năm. Gồm các vị thảo dược có tác dụng bổ Can Thận để bổ dưỡng xương khớp nhằm phòng và trị bệnh xương khớp, vì theo Đông y Can chủ cân, Thận chủ cốt tuỷ, kết hợp Canxi và Vitamin D3 là hai thành phần quan trọng trong cấu tạo xương cốt đã được y học hiện đại chứng minh, đó cũng là phương pháp chữa trị tận gốc của bệnh. Tuy nhiên điều trị thường phải kiên trì, những trường hợp mới mắc thì chỉ cần 1- 2 hộp “Tinh hoa Dưỡng cốt”,  nhưng những trường hợp lâu ngày phải từ 3-6 tháng, nếu có điều kiện thì duy trì thường xuyên để tránh tái phát.

Công ty Y Dược Tinh Hoa LD Hàn Việt sử dụng công nghệ bào chế hiện đại dạng viên nang nên việc sử dụng “Tinh hoa Dưỡng cốt” rất dễ dàng. Mua “Tinh hoa Dưỡng cốt” cũng thuận lợi vì đã có bán ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Xem địa chỉ mua “Tinh hoa Dưỡng cốt”

(Theo 24h)

Thiền định giúp con người trị đau

Trong ngôn ngữ Việt Nam, từ “đau khổ” được dùng để chỉ trạng thái bất như ý, khó chịu và buồn phiền cùng cực. Từ “đau khổ” cũng cho thấy đau đớn đưa đến khổ, một cái khổ ghê gớm là bị đau và đau thể xác sẽ gắn với đau về mặt tinh thần.

Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu về Đau (International Association for the Study of Pain) vào năm 1979 đã cho định nghĩa về đau gắn liền với khổ như sau: “Đau là một kinh nghiệm khó chịu về mặt cảm giác (sensory) và cảm xúc (emotinal) liên quan đến tổn thương có thật trong cơ thể hoặc tổn thương tiềm tàng hoặc được mô tả như có tổn thương!”. Định nghĩa cho thấy, đau không chỉ là cảm giác mà còn là phức hợp gồm cảm giác, nhận thức, tình cảm, tâm lý.

Thuốc trị đau: chưa hoàn hảo

Đau là triệu chứng thường hay gặp ở người bệnh. Khi bị đau, phản ứng tự nhiên của con người là tìm cách giảm và hết đau. Vì vậy, thuốc giảm đau là loại thuốc được dùng thường xuyên và phổ biến nhất. Từ xưa cho đến nay và mãi về sau, con người vẫn phải chữa đau bằng thuốc. Hiện nay, người ta vẫn chưa tìm ra loại thuốc giảm đau nào hoàn toàn không có tác dụng phụ có hại. Nếu một loại thuốc giảm đau nào không gây nghiện như nghiện ma túy (morphin là thuốc giảm đau rất tốt nhưng chính nó nếu dùng ngoài mục đích điều trị y khoa thì đó là ma túy) thì hoặc thuốc đó gây hại dạ dày (như aspirin) hoặc hại gan (như paracetamol) hoặc làm khởi phát hen suyễn, làm tăng huyết áp… Khổ nỗi, khi bị đau là người ta tìm cách thoát khỏi cơn đau ngay bằng cách dùng thuốc và lạm dụng thuốc giảm đau đưa đến bị tai biến do thuốc giảm đau ngày càng phổ biến và trở thành vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe.


Ảnh minh họa

Để giúp việc sử dụng thuốc giảm đau hợp lý và giảm thiểu các tai biến do thuốc, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đề ra 3 bậc thang dùng thuốc giảm đau như sau:
Bậc 1 là khi đau nhẹ và vừa, ta nên dùng thuốc giảm đau thông thường mua không cần có đơn thuốc của bác sĩ (gọi là thuốc OTC, viết tắt của Over The Counter, tức thuốc mua tại quầy) là paracetamol hoặc thuốc nằm trong nhóm có tên gọi chung là thuốc chống viêm không steroid (viết tắt là NSAID, gồm có: aspirin, ibuprofen, diclofenac…). Nếu dùng thuốc giảm đau bậc 1 là paracetamol hay aspirin không cải thiện đau có nghĩa người bệnh bị đau ở bậc cao hơn tức nặng ở bậc 2 hoặc đau dữ dội như đau ung thư là đau bậc 3. Lúc này phải dùng đến thuốc giảm đau là loại gây nghiện có nguồn gốc thuốc phiện với loại gây nghiện trung bình như codein hoặc loại gây nghiện mạnh như morphin. Thuốc giảm đau bậc 2 và 3 có tính chất gây nghiện bắt buộc phải để cho bác sĩ điều trị chỉ định, tức là chỉ dùng khi có đơn thuốc được ghi bởi bác sĩ.

Trị đau bằng thiền định

Trong điều trị nhiều bệnh, ngoài việc dùng thuốc còn có phương thức trị liệu gọi là không dùng thuốc. Biện pháp không dùng thuốc thường không có tác dụng trị liệu nhanh và mạnh như biện pháp dùng thuốc nhưng bù lại, đây là biện pháp không hoặc rất ít gây hại. Biện pháp không dùng thuốc thường được dùng trước tiên, khi tỏ ra không hiệu quả, người ta mới dùng đến thuốc. Trong điều trị đau hiện nay, người ta có dùng thêm biện pháp không dùng thuốc như châm cứu, vật lý trị liệu, tiếp cận tâm lý… Và luôn có sự mong muốn tìm được một biện pháp không dùng thuốc nào đó nếu không thay thế hẳn thì cũng giúp giảm liều đáng kể thuốc giảm đau nhằm không bị tác dụng có hại của loại thuốc này. Hiện nay người ta đang kỳ vọng vào một biện pháp không dùng thuốc là thực hành thiền định và bắt đầu có chứng cứ xác định tác dụng kỳ diệu của biện pháp này.

Trong tạp chí Khoa học Não bộ số ra ngày 6/4/2011 đã đăng bài đề cập thử nghiệm lâm sàng chứng minh thiền định giúp giảm đau với các hình ảnh chụp não bộ rất rõ ràng. Bài báo khoa học này có tên : “Cơ chế của não bộ cho thấy thiền định làm thay đổi sự đau”.

Công trình nghiên cứu kể trên được thực hiện bởi các nhà khoa học của Khoa Sinh học Não bộ và Giải phẫu, Khoa Thao tác Y sinh học (trường Đại học Y khoa Wake Forest, Winston Salem, North Carolia) và Khoa Tâm lý (trường Đại học Marquette, Milwaukee, Wiscosin). Đây là thử nghiệm lâm sàng thử trên 15 người tình nguyện khỏe mạnh, gồm 6 nam, 9 nữ độ tuổi từ 23 đến 35, có 14 người da trắng và 1 da vàng châu Á.

Các nhà nghiên cứu trong công trình này đã dùng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh tiên tiến là fMRI (functional magnetic resonance imaging) và PASL MRI (pulsed arterial spin labeled MRI) để chứng minh sự giảm đau do thực hiện thiền định liên kết với hình ảnh rõ ràng của các biến đổi ở những vùng khác nhau của não bộ. Nội dung thử nghiệm gồm 4 giai đoạn:

– Giai đoạn chuẩn bị tâm lý: người tình nguyện làm quen với việc kích thích gây đau bằng nhiệt (từ 350C tăng dần 490C) và giúp ghi cách đánh giá thang tâm lý do cường độ đau gây ra từ “cảm giác không đau ” hay “không khó chịu chút nào” đến mức đau nhất là “khó chịu gần như không chịu nổi” (most unpleasant imaginable).

– Giai đoạn đo MRI lần 1 (trước khi tập thiền định): giai đoạn này lại chia ra làm 2: nửa giai đoạn đầu MRI lần 1, người thử nghiệm tập “nhắm mắt và nằm im” đồng thời chịu kích thích nhiệt và được đo MRI; nửa giai đoạn sau MRI lần 1, người thử nghiệm tập “chú ý theo dõi hơi thở”, đồng thời chịu kích thích nhiệt và được đo MRI. Ngoài đo MRI, mức độ tâm lý chịu đau cũng được đánh giá, đây được xem là giai đoạn đối chứng (chưa biết về thiền định) với giai đoạn sau là giai đoạn thực hành thiền định.

– Giai đoạn tập thiền định: kéo dài 4 ngày, mỗi ngày người thử nghiệm có 20 phút tập thiền định Shamatha dưới sự hướng dẫn của thiền giả đã có ít nhất 10 năm thực hành thiền định. Đặc biệt vào 2 ngày cuối, người thử nghiệm tập thiền định trong âm thanh của máy đo MRI để điều kiện thử nghiệm giống như thử nghiệm giai đoạn cuối.

– Giai đoạn đo MRI lần 2 (trong khi thực hành thiền định): trong giai đoạn này, người thử nghiệm không chỉ “nhắm mắt, nằm im”, “tập trung chú ý hơi thở như khi chưa tập thiền định” mà còn thực hành thiền định Shamatha như đã tập khi phải chịu đau do kích thích nhiệt. Việc đo MRI và đánh giá tâm lý ở các mức độ đau khác nhau cũng giống như giai đoạn MRI lần 1.

Kết quả của nghiên cứu cho thấy, “nhắm mắt, nằm im” hay “tập trung chú ý hơi thở khi chưa tập thiền định” không làm giảm đau, chỉ có thiền định mới giúp giảm đau. Thiền định đã giúp làm giảm đau đến 57% dựa vào thang đánh giá mức độ đau (tức đau bình thường là 100% thì đau ở trạng thái thiền định chỉ còn 43%). Đặc biệt, nhờ kỹ thuật đo MRI các tác giả đã xác định rất rõ ràng các vùng não bộ chịu trách nhiệm về cảm giác đau và khi giảm đau thì những vùng này có sự thay đổi hình ảnh rất cụ thể.

Có thể nói, công trình nghiên cứu thiền định giúp trị đau mở ra triển vọng tìm được phương thức giảm đau không gây tai biến như dùng thuốc mà loài người mơ ước từ lâu. Không những thế, công trình bước đầu cho thấy con người có thể giải mã phần nào cái gọi là “thần diệu bất khả tri” của thiền định. Kinh nghiệm thiền định không chỉ người nào thực hành người đó biết mà còn có thể chứng minh cho người khác biết bằng tiến bộ của khoa học.

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC

Meo.vn (Theo SK&ĐS)

Phòng u xơ tử cung, hãy ăn nhiều hoa quả

Nghiên cứu gồm hơn 20.000 phụ nữ tại Mỹ cho thấy những người ăn từ 2 phần hoa quả trở lên mỗi ngày ít có chẩn đoán u xơ tử cung hơn so với những phụ nữ ít khi ăn hoa quả.

U xơ không phải lúc nào cũng xuất hiệu triệu chứng nhưng có thể gây đau hoặc kéo dài kỳ kinh. U xơ cũng có thể phát triển to và trong một số trường hợp gây các biến chứng thai kỳ và vô sinh.

Các tác giả thuộc Trường Đại học Boston đã theo dõi phụ nữ ở độ tuổi 30 trong hơn 10 năm để xem liệu việc tiêu thụ hoa quả và rau xanh có liên quan với khả năng bị u xơ hay không.

Họ đã sử dụng số liệu từ Nghiên cứu Sức khỏe Phụ nữ da đen, được bắt đầu từ năm 1995, trong đó những người tham gia báo cáo về tần suất tiêu thụ thực phẩm. Các đối tượng tham gia cũng trả lời bảng câu hỏi 2 năm/lần về các chẩn đoán bệnh mới. Tổng hợp cho thấy 29% trong số 23.000 đối tượng nghiên cứu bị u xơ tử cung trong khoảng từ năm 1997 đến 2009.

Kết quả nghiên cứu chỉ rõ: phụ nữ ăn ít nhất 4 phần hoa quả và rau xanh mỗi ngày ít bị u xơ hơn 10% so với phụ nữ ăn chưa đầy 1 phần hoa quả và rau xanh mỗi ngày. Khi phân tích tách biệt giữa hoa quả và rau xanh, nhóm nghiên cứu thấy rằng ăn nhiều hoa quả giúp giảm nguy cơ u xơ tử cung. Rau xanh không mang lai tác dụng tương tự.

Theo các kết quả được công bố trên tạp chí American Journal of Clinical Nutrition thì phụ nữ ăn ≥ 2 phần hoa quả mỗi ngày ít bị u xơ hơn 11% so với phụ nữ ăn chưa đầy 2 phần hoa quả mỗi tuần.

Không có mối liên quan giữa lượng vitamin C, E, folate hoặc chất xơ tiêu thụ với nguy cơ u xơ, song nghiên cứu này cho thấy bổ sung vitamin A từ các sản phẩm sữa cũng có thể làm giảm nguy cơ u xơ.

Meo.vn (Theo Dantri)

Động tác làm giảm đau xương khớp

Người cao tuổi hay bị các bệnh xương khớp như hở sụn, loãng xương, thoái hóa khớp, viêm khớp… gây đau đớn làm hạn chế vận động và trở ngại sinh hoạt.

Ảnh minh họa

Tốt nhất là đi bộ và đi xe đạp tại chỗ,  có tác dụng thư giãn khớp

Bệnh nhân có thể tập vài động tác như xoa bóp huyệt thận du, động tác này có tác dụng bổ thận giãn gân cơ. Đứng thẳng, úp hai bàn tay vào vùng thắt lưng, xát lên xuống 20 lần tới khi nóng lên rồi đặt hai bàn tay vào vùng hông, ngón cái hướng ra sau bấm nhẹ vào huyệt thận du (huyệt nằm cách khe giữa đốt sống thắt lưng 2 và 3 hai bên khoảng 2cm) day huyệt khoảng 20 lần theo chiều kim đồng hồ rồi day ngược lại.

Khi bị thoái hóa khớp gối thì có thể xoa nhẹ phần đùi trên khớp và phần cẳng chân dưới khớp khi ngồi và khi nằm giúp tăng cường tuần hoàn đến khớp, mỗi lần khoảng 15 phút, ngày 2 lần sáng tối.

Ngoài ra, bạn nên lựa chọn hình thức luyện tập phù hợp với tình trạng sức khỏe bản thân, tốt nhất là đi bộ và đi xe đạp tại chỗ, nó có tác dụng thư giãn khớp, tránh tình trạng để cho các khớp bị ì ít hoạt động mà không cần vận động quá sức.

 

PGS.TS Phạm Thúc Hạnh
(Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam)

Meo.vn (Theo Bee)

Ăn khế để giảm mụn

Những người hay bị nổi mụn, ngứa, lở miệng, đau răng, sỏi niệu… có thể cải thiện tình trạng bệnh bằng cách dùng khế thường xuyên.

Theo Đông y quả khế vị chua ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, hòa trung, chỉ khát, hạ khí, lợi niệu.

Sưng khớp gây đau nhức: Lấy 2-3 quả khế, rửa sạch rồi xay hoặc giã nhuyễn để lấy nước. Thêm nước sôi để nguội vào nước khế, chia uống ngày 2 lần.

Làm nhuận tràng, giải nhiệt, tốt cho người hay bị ngứa, nổi mụn trên da: Ăn khế vào buổi sáng và tối, mỗi lần một quả. Hoặc lấy 500 gr khế tươi giã nát, hoặc xay rồi nấu lên. Lấy nước này rửa chỗ ngứa rất hiệu nghiệm.


Sỏi niệu làm đi tiểu khó, đau rát: Lấy 3-5 quả khế rửa sạch, giã nát, quấy đều với nước sôi để nguội rồi uống dần.

Tức ngực, chướng bụng, tiêu hóa kém: Lấy khế đem ngâm vào giấm. Lấy nửa quả  nhai nhuyễn rồi nuốt từ từ.

Ho do phong nhiệt, lở miệng, đau răng: Lấy 1 – 2 quả khế rửa sạch, nhai nát rồi nuốt. Ngày ăn 2 – 3 lần.

Lưu ý: Những người tỳ vị hư hàn không nên dùng quá nhiều khế.

Theo BS Nguyễn Thị Nhân

Meo.vn (Theo Datviet)

Món ăn dưỡng gan

Những người bị nhiệt nóng gây đau đầu, hoa mắt chóng mặt ăn cháo rau cần thường xuyên có tác dụng dưỡng gan, giảm huyết áp.

Gan có nhiều chức năng quan trọng nhưng chủ yếu là hỗ trợ quá trình trao đổi chất và chống độc trước khi đưa các chất dinh dưỡng vào cơ thể. Do vậy khí ở gan không thuận sẽ làm cho quá trình tuần hoàn khí và máu trong toàn cơ thể bị rối loạn, tính tình dễ trở nên cáu gắt, nóng nảy hay đau tức ngực, và có hiện tượng kinh nguyệt không đều ở phụ nữ.

Để khắc phục tình trạng trên, xin giới thiệu một số món cháo dưỡng gan theo kinh nghiệm dân gian có thể giúp tự điều chỉnh trong cơ thể.

Cháo rau cần: Rau cần 150g, gạo tẻ 100g, lượng vừa đủ muối ăn. Rửa sạch rau cần, đun kỹ lấy nước. Sau đó dùng nước rau cần nấu gạo tẻ thành cháo, cho muối ăn vừa đủ. Những người bị nhiệt nóng gây đau đầu, hoa mắt chóng mặt ăn cháo rau cần thường xuyên có tác dụng dưỡng gan, giảm huyết áp.

Rau cần nấu cháo – Món ăn dưỡng gan

Cháo rau chân vịt:

Rau chân vịt 250g, gạo tẻ 250g, lượng vừa đủ muối ăn. Rửa sạch rau chân vịt, chần qua nước sôi, cắt khúc. Cho gạo tẻ vào nồi ninh nhừ với lượng nước thích hợp, rồi cho rau chân vịt vào ninh thành cháo. Sau đó cho muối ăn vừa đủ dùng.

Món cháo này có tác dụng tốt cho gan, hỗ trợ chữa bệnh tương đối tốt đối với các bệnh tăng huyết áp, thiếu máu, hoa mắt chóng mặt, tiểu đường.

Cháo hoa cúc: Hoa cúc 15g, gạo tẻ 100g, lượng vừa đủ muối ăn. Ngâm rửa sạch hoa cúc và gạo tẻ, sau đó cho vào nồi với lượng nước và muối ăn vừa đủ, đun lửa to, khi sôi chuyển lửa nhỏ ninh thành cháo.

Món cháo này có tác dụng tán phong nhiệt, hạ nhiệt gan, giảm huyết áp, thích hợp với người bị các chứng đau đầu, chóng mặt, tăng huyết áp…

Cháo hoa hồng: Hoa hồng trắng 5g, gạo tẻ 80g. Nấu gạo tẻ thành cháo, sau đó cho hoa hồng trắng vào đun sôi trong 2-3 phút. Mỗi bữa ăn 1 bát, liên tục 3-5 ngày. Hoa hồng tính bình, có tác dụng điều khí, dưỡng gan, kích thích tạo cảm giác muốn ăn.

Cháo dâu tằm: Dâu tằm tươi 60g, gạo tẻ 60g, lượng vừa đủ đường phèn. Rửa sạch dâu, cho vào nồi nấu chín cùng gạo tẻ, sau đó cho đường phèn vào dùng.

Món cháo này bổ gan âm, dưỡng huyết, làm sáng mắt, thích hợp với các chứng chóng mặt hoa mắt, mất ngủ, hay nằm mơ, ù tai, đau mỏi eo… do suy gan thận gây ra.

Cháo quyết minh tử: Quyết minh tử 10g, gạo 60g, đường phèn vừa đủ. Đun quyết minh tử lấy nước để nấu gạo thành cháo. Sau đó cho đường phèn vào dùng.

Món cháo này giúp thanh gan, sáng mắt, thông tiện, thích hợp với các chứng như tăng huyết áp, mỡ máu cao, hay táo bón…

Theo BS Hoàng Tuấn Linh

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)

Món ăn công hiệu dưỡng gan

Gan có nhiều chức năng quan trọng nhưng chủ yếu là hỗ trợ quá trình trao đổi chất và chống độc trước khi đưa các chất dinh dưỡng vào cơ thể. Do vậy khí ở gan không thuận sẽ làm cho quá trình tuần hoàn khí và máu trong toàn cơ thể bị rối loạn, tính tình dễ trở nên cáu gắt, nóng nảy hay đau tức ngực, và có hiện tượng kinh nguyệt không đều ở phụ nữ. Để khắc phục tình trạng trên, xin giới thiệu một số món cháo dưỡng gan theo kinh nghiệm dân gian có thể giúp tự điều chỉnh trong cơ thể.

Cháo rau cần: Rau cần 150g, gạo tẻ 100g, lượng vừa đủ muối ăn. Rửa sạch rau cần, đun kỹ lấy nước. Sau đó dùng nước rau cần nấu gạo tẻ thành cháo, cho muối ăn vừa đủ. Những người bị nhiệt nóng gây đau đầu, hoa mắt chóng mặt ăn cháo rau cần thường xuyên có tác dụng dưỡng gan, giảm huyết áp.


Rau cần nấu cháo – Món ăn dưỡng gan.

Cháo rau chân vịt:

Rau chân vịt 250g, gạo tẻ 250g, lượng vừa đủ muối ăn. Rửa sạch rau chân vịt, chần qua nước sôi, cắt khúc. Cho gạo tẻ vào nồi ninh nhừ với lượng nước thích hợp, rồi cho rau chân vịt vào ninh thành cháo. Sau đó cho muối ăn vừa đủ dùng. Món cháo này có tác dụng tốt cho gan, hỗ trợ chữa bệnh tương đối tốt đối với các bệnh tăng huyết áp, thiếu máu, hoa mắt chóng mặt, tiểu đường.

Cháo hoa cúc: Hoa cúc 15g, gạo tẻ 100g, lượng vừa đủ muối ăn. Ngâm rửa sạch hoa cúc và gạo tẻ, sau đó cho vào nồi với lượng nước và muối ăn vừa đủ, đun lửa to, khi sôi chuyển lửa nhỏ ninh thành cháo. Món cháo này có tác dụng tán phong nhiệt, hạ nhiệt gan, giảm huyết áp, thích hợp với người bị các chứng đau đầu, chóng mặt, tăng huyết áp…

Cháo hoa hồng: Hoa hồng trắng 5g, gạo tẻ 80g. Nấu gạo tẻ thành cháo, sau đó cho hoa hồng trắng vào đun sôi trong 2-3 phút. Mỗi bữa ăn 1 bát, liên tục 3-5 ngày. Hoa hồng tính bình, có tác dụng điều khí, dưỡng gan, kích thích tạo cảm giác muốn ăn.

Cháo dâu tằm: Dâu tằm tươi 60g, gạo tẻ 60g, lượng vừa đủ đường phèn. Rửa sạch dâu, cho vào nồi nấu chín cùng gạo tẻ, sau đó cho đường phèn vào dùng. Món cháo này bổ gan âm, dưỡng huyết, làm sáng mắt, thích hợp với các chứng chóng mặt hoa mắt, mất ngủ, hay nằm mơ, ù tai, đau mỏi eo… do suy gan thận gây ra.

Cháo quyết minh tử: Quyết minh tử 10g, gạo 60g, đường phèn vừa đủ. Đun quyết minh tử lấy nước để nấu gạo thành cháo. Sau đó cho đường phèn vào dùng. Món cháo này giúp thanh gan, sáng mắt, thông tiện, thích hợp với các chứng như tăng huyết áp, mỡ máu cao, hay táo bón…

BS. HOÀNG TUẤN LINH

Meo.vn (Theo SK&ĐS)

Cốt khí củ – Khu phong trừ thấp

Cốt khí củ còn gọi là hổ trượng, điền thất, hoạt huyết đan, nam hoàng cầm. Bộ phận dùng làm thuốc là rễ, củ. Thu hái củ quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa thu (tháng 8, 9)… Theo Đông y, cốt khí củ vị ngọt đắng, tính mát, có tác dụng khu phong, trừ thấp, hoạt huyết thông kinh, giảm đau, giải độc, lợi tiểu. Chữa phong thấp tê bại, đau nhức gân xương; ứ huyết do ngã, chấn thương, kinh nguyệt bế tắc gây đau đớn, sau khi đẻ huyết hôi bị tích lại gây bụng trướng, đái dắt, đái buốt, đái ra máu. Dùng ngoài trị mụn nhọt, lở ngứa, làm thuốc cầm máu. Liều dùng: 8 – 12g, dạng thuốc sắc, thuốc bột, rượu.

Một số cách dùng cốt khí củ làm thuốc:

Chữa phong thấp, đau nhức xương

– Cốt khí củ 12g, đơn gối hạc 12g, cỏ xước 8g, hy thiêm 8g, uy linh tiên 6g, binh lang 6g. Các vị sao vàng hạ thổ. Sắc uống 2 lần trong ngày. Ngày 1 thang.

– Cốt khí củ 12g, dây đau xương 12g, rễ lá lốt 12g, rễ cỏ xước 12g, bồ bồ 8g, cam thảo nam 8g, mã đề 8g, quế chi 6g. Sắc uống ngày 1 thang; kết hợp xoa bóp bằng rượu ngâm quế chi, huyết giác.

Chữa thương tích, ứ máu, đau bụng: Cốt khí củ 20g, cây lá móng 16g. Sắc lấy 300ml nước, cô lại còn 150ml, thêm 20ml rượu, chia uống 2 lần trong ngày.

Chữa sưng vú: Cốt khí củ 12g, hạt muồng 12g, rễ lá lốt 10g, rễ bồ công anh 10g, bạch truật 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

TS.Nguyễn  Đức Quang

Meo.vn (Theo SK&ĐS)

Cách ăn bưởi giảm béo dịp cuối thu, đầu đông

Bưởi là thực phẩm giảm béo hiệu quả, nhưng không phải ai cũng biết ăn cho hợp lý, đặc biệt là trong tiết trời cuối thu, đầu đông này.

Sau khi nghiên cứu tác dụng giảm béo của trái bưởi trong 12 tuần với 100 người tình nguyện, các chuyên gia Trung Quốc phát hiện rằng, việc ăn bình quân mỗi bữa nửa quả bưởi sẽ giúp giảm được 1,6 kg sau 12 tuần, uống ba cốc nước bưởi ép mỗi ngày giảm được 1,4 kg. Điều thú vị là, nhiều người giảm tới 4,5 kg trong suốt 12 tuần ăn bưởi.


Trong tiết trời giao mùa cuối thu, đầu đông này, để trái bưởi vừa có tác dụng giảm béo, vừa giúp bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như axit hữu cơ, canxi, phốt pho, magiê, natri…, bạn có thể chế biến loại quả này thành các món ăn thông dụng nhưng vẫn đảm bảo yếu tố ngon miệng.

Theo các chuyên gia Trung Quốc, món salad bưởi, nước sinh tố bưởi phục linh (pha chế bưởi với cam thảo, phục linh, bạch truật và một lượng đường vừa phải), gà hấp nhồi bưởi là những món ăn bổ dưỡng thích hợp cho tiết trời giao mùa này.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cảnh báo, bưởi tuy rất tốt nhưng không nên ăn nhiều hoặc ăn lúc đang uống thuốc. Các bệnh nhân mắc chứng mỡ máu cao càng nên chú ý hạn chế ăn bưởi trong thời gian trị bệnh, tránh bị trúng độc, gây đau cơ, thậm chí có nguy cơ mắc chứng viêm thận.

Meo.vn (Theo Baodatviet)