Lưu trữ cho từ khóa: rối loạn thần kinh

Bệnh Suy Nhược Thần kinh và Thuốc điều trị

Bệnh Suy Nhược Thần kinh và Thuốc điều trị
Suy Nhược Thần kinh (SNTK) là tình trạng rối loạn chức năng của vỏ não do tế bào não làm việc quá căng thẳng, sinh ra quá tải và suy nhược làm ảnh hưởng đến quá trình phục hồi và nghĩ ngơi của cơ thể.
Là trạng thái rối loạn chức năng của hệ thần kinh trung ương do mất thăng bằng tạm thời trung tâm hoạt động cao cấp bởi các tác nhân tinh thần gây ra. Bệnh hay gặp ở lứa tuổi thanh niên và trung niên. Triệu chứng bệnh thường thay đổi, những triệu chứng chính thường là mất ngủ, nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, kém trí nhớ, lo buồn.
– Các triệu chứng khác thường do rối loạn chức năng hệ thần kinh thực vật, như đánh trống ngực, thở nông, mặt đỏ bừng hoặc tái nhợt, chóng mặt, ù tai… Nếu bệnh nhân có những triệu chứng kể trên, dù không phát hiện được một biểu hiện bệnh lý thực thể nào khi khám bệnh, vẫn có thể chẩn đoán được là Suy NhượcThần kinh
Biểu hiện lâm sàng Suy Nhược Thần kinhchủ yếu là các triệu chứng chủ quan của người bệnh xuất hiện sau những chấn thương tâm lý và một số bệnh nội khoa. Các dấu hiệu sớm thường là nhanh mệt mỏi, khó tập trung vào công việc, ăn kém ngon, ngủ không sâu giấc.
Đến giai đoạn điển hình Suy Nhược Thần kinh có các triệu chứng sau:– Bệnh nhân thường kêu ca phàn nàn, mệt mỏi, dai dẳng tăng lên sau một cố gắng trí óc hoặc một cố gắng tối thiểu về thể lực. Tự nhiên đau mỏi cơ bắp, khả năng làm việc sút kém, chóng mệt, hiệu quả thấp.
– Bệnh nhân kém kiên nhẫn, không chịu nổi khi phải chờ đợi, dễ kích thích, nóng nảy, cáu gắt, phản ứng quá mức. Khi có ý định làm việc gì bệnh nhân muốn nôn nóng làm ngay nhưng khó làm, lại mau chán, mệt mỏi hay bỏ cuộc.
– Mất ngủ: khó đi vào giấc ngủ, ngủ không say, hay có mộng, dễ đánh thức và khó ngủ lại, đôi khi mất ngủ trắng đêm, nếu mất ngủ kéo dài thấy quầng mắt bị thâm, sáng dậy bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, ngáp vặt.
– Giảm trí nhớ: bệnh nhân giảm cả trí nhớ gần và trí nhớ xa nhưng đặc biệt là trí nhớ gần, học hành sút kém và khó tiếp thu cái mới.
– Bệnh nhân dễ xúc động, mủi lòng, dễ khóc, lo lắng, mất tự chủ, khí sắc giảm.
– Đau đầu: bệnh nhân đau âm ỉ lan tỏa toàn bộ đầu, có cảm giác như đội mũ, thắt khăn chặt, đau đầu tăng lên khi có kích thích, suy nghĩ, lo lắng có thể kèm theo chóng mặt, choáng váng.
Rối loạn Thần kinh thực vật như hay hồi hộp, đánh trống ngực, mạch nhanh, khó thở, toát mồ hôi, có từng cơn nóng bừng hay lạnh toát, run chân tay, run mi mắt, giảm hoạt động tình dục, di mộng tinh ở nam giới, rối loạn kinh nguyệt ở nữ giới.
Các triệu chứng trên kéo dài có tính dai dẳng, hay tái phát, nghỉ ngơi thư giãn hồi phục ít hay không hồi phục.
Khi thấy các triệu chứng trên bệnh nhân cần đến phòng khám chuyên khoa để được tư vấn, xét nghiệm tìm và chữa các bệnh lý nội ngoại khoa gây hội chứng Suy Nhược Thần kinh. Nếu bệnh do căn nguyên tâm lý gây nên thì phải có biện pháp giải quyết và loại trừ căn nguyên tâm lý, tuỳ kinh nghiệm của bác sĩ và điều kiện của bệnh nhân có thể áp dụng các phương pháp phù hợp.
Thuốc điều trị Bệnh Suy Nhược Thần kinh.Các thuốc tác động lên cơ chế sinh bệnh như các thuốc có tác dụng lên quá trình hưng phấn hệ thần kinh: sulbutiamine (arcalion) hoặc asthenal uống sau ăn sáng. Nếu uống vào buổi trưa hoặc tối có thể gây mất ngủ, nếu uống vào lúc đói có thể gây cồn cào, khó chịu vùng thượng vị.
. Các thuốc hay được các bác sĩ khuyên dùng là:
– Tăng cường tuần hoàn và dinh dưỡng não: piracetam, ginkgo biloba…
– Các vitamin: đừng quan niệm vitamin là các thuốc bổ mà sử dụng tùy tiện. Đây là nhóm thuốc cung cấp các yếu tố vi lượng, có tác dụng tới quá trình chuyển hoá của cơ thể đồng thời nó cũng có tác dụng phụ không tốt nếu ta dùng quá liều và không đúng chỉ định.
– Các thuốc y học cổ truyền: tâm sen, lá vông, lạc tiên, củ bình vôi (rotunda),…
– Thuốc an thần, trấn tĩnh: nên dùng các thuốc có tác dụng an thần nhẹ, trấn tĩnh. Tuy nhiên nhóm thuốc này thường gây quen thuốc nên sử dụng cần thận trọng.
– Thuốc giảm đau: hay dùng là các dẫn chất của paracetamol: các thuốc này có đặc điểm là tác dụng nhanh nhưng bất lợi là độc với gan nếu dùng liều cao và thường xuyên. Khi sử dụng nên dùng xa bữa ăn, uống với nhiều nước.
Bộ 02 sản phẩm điều trị hiệu quả nhất cho Bệnh Suy Nhược Thần kinh gồm :
-Golden Valley SOD:
Được bào chế từ công nghệ phân hủy emzyme hiện đại được coi là quý nhất trong điều trị một số bệnh:
– giúp ức chế khối u, bảo vệ tế bào gan, tăng cường hoạt động não bộ trong những di chứng Tai biến mạch máu não, tăng trí nhớ và sự minh mẫn, điều hòa hoạt động thức ngủ, chống stress, tăng cường hệ thống miễn dịch qua trung gian tế bào, cải thiện tuần hoàn, chống lão hóa
Những tác dụng của Golden Valley SOD tea thể hiện rất rõ ở những người suy nhược, rối loạn chức năng cơ thể, người cao tuổi. Vì không chỉ ổn định huyết áp,Golden Valley SOD còn làm giảm mỡ máu, điều hòa đường huyết, gia tăng thể lực và trí lực, cải thiện tình trạng mất ngủ, một số rối loạn thần kinh, rối loạn sắc tố da, rụng tóc ở người cao tuổi.
-Ginkovita :
Tác dụng của Ginkovita :
1. Bồi bổ sức khỏe toàn diện, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, điều hòa quá trình trao đổi chất, giải độc tố
2. Tăng cường chức năng gan, thận, tiền liệt tuyến.
3-Suy tuần hoàn não .Rối Loạn Tuần Hoàn Não và các biểu hiện chức năng chóng mặt ,nhức đầu ,giảm trí nhớ ,giảm khả năng nhận thức .rối loạn vận động ,rối loạn cảm xúc
4-Di chứng Tai biến mạch máu não và chấn thương sọ não
5-Rối loạn thần kinh cảm giác,tuần hoàn ở mắt ,tai ,mũi ,họng
6-Hỗ trợ giúp tăng vững bền thành mạch ngoại vi ,Cải thiện hội chứng Raynaud tê lạnh và tím tái đầu chi ,bệnh động mạch chi dưới, điều hoà huyết áp
7-Phòng ngừa và làm chậm quá trình tiến triển của bệnh Alzheimer
8-Hỗ trợ điều trị bệnh gan nhiễm mỡ
Điều trị tăng cường :bô xung thêm Neurozan plus có tác dụng bổ não ,dưỡng não
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc
CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Hy vọng cho người bệnh run chân tay

Run là một vận động cơ không chủ ý của một hay nhiều phần cơ thể xảy ra khi không bị tác động của môi trường, cảm xúc được coi là bệnh và cần điều trị sớm để phục hồi khả năng vận động bình thường của cơ thể.

Nguyên nhân chính gây run là sự suy giảm chức năng (tiếp nhận, xử lý, dẫn truyền thông tin) của hệ thần kinh vận động – điều tiết hoạt động của cơ xương trong các bệnh Parkinson (thoái hóa tế bào nhân xám); hội chứng Parkinson (tổn thương tế bào thần kinh do chấn thương, đột quỵ não, viêm não, thuốc và một số bệnh); rối loạn thần kinh thực vật; run vô căn hoặc lão hóa, thoái hóa não ở người cao tuổi.

Việc điều trị chứng run hiện gặp nhiều khó khăn do khó chẩn đoán chính xác nguyên nhân, đồng thời không có thuốc đặc hiệu cho mọi chứng run. Có một số ít thuốc từ hóa dược đáp ứng với điều trị như các chất dẫn truyền thần kinh trong điều trị run do bệnh Parkinson, hội chứng Parkinson. Tuy nhiên, người bệnh phải sử dụng thuốc suốt đời và việc điều trị mới dừng ở triệu chứng. Nhiều nghiên cứu cho thấy acid alpha –lipoic, l-carnitin, magiê được sử dụng trong điều trị giúp tăng cường sự nuôi dưỡng, bảo vệ tế bào thần kinh sẽ giảm quá trình thoái hóa, lão hóa và tăng cường chất lượng hoạt động của hệ thần kinh, cho kết quả khả quan.

Quan điểm của y học cổ truyền về nguyên nhân gây nên chứng run là do ảnh hưởng của tuổi tác, do can huyết và thận âm bị suy yếu. Từ đó làm cho huyết kém không nuôi dưỡng được các khớp và các mạch máu gây nên co rút, co cứng, run giật. Vì thế các bài thuốc đông y sử dụng cho chứng run, rung giật không thể thiếu câu đằng, thiên ma để trị triệu chứng. Đồng thời sự có mặt của một số vị dược liệu như hà thủ ô đỏ, câu kì tử, đinh lăng, mẫu lệ, xà sàng tử, nhục thung dung giúp bồi bổ khí huyết, tăng cường sự nuôi dưỡng hệ thần kinh, để tác động vào một phần vào nguyên nhân sinh bệnh. Kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trong điều trị chứng run để tận dụng tối đa lợi thế của hai phương pháp là xu hướng được nhiều thầy thuốc và người bệnh lựa chọn.

Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc điều trị (Ảnh do nhãn hàng Vương Lão Kiện cung cấp)

Thực phẩm chức năng Vương Lão Kiện chứa các thảo dược câu đằng, thiên ma, hà thủ ô đỏ, câu kì tử, đinh lăng, mẫu lệ, xà sàng tử, nhục thung dung và các hoạt chất acid alpha -lipoic, l-carnitin, magiê. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa y học cổ truyền và y học hiện đại với ưu điểm nổi bật là giúp giảm dần các chứng run do mọi nguyên nhân như: run do bệnh Parkinson, hội chứng Parkinson, run sau tai biến mạch não, run ở người cao tuổi, rối loạn thần kinh thực vật,… đồng thời giúp tăng cường sức khỏe toàn trạng và phục hồi khả năng vận động bình thường của cơ thể. Sản phẩm an toàn, thích hợp để sử dụng lâu dài. Đây là hy vọng mới cho những người không may mắc bệnh cũng như những người có nguy cơ cao bị chứng run.

Ds. Lê Việt Ánh

Tư vấn: 0906.268.403 – 04.3775.9866

Website: dongtay.net.vn

Giấc ngủ với sức khỏe tim mạch

Những phát hiện mới nhất của Hiệp hội Tim mạch tại Mỹ đã chỉ ra rằng người lớn ngủ ít hay nhiều hơn 8 tiếng vào ban đêm đều có ảnh hưởng xấu tới các vấn đề về tim mạch.

Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu khoảng 3.000 bệnh nhân trên 45 tuổi, chia 3 nhóm theo thời lượng giấc ngủ: ngủ ít hơn 6 tiếng một đêm, ngủ từ 6 – 8 tiếng và nhóm người ngủ nhiều hơn 8 tiếng một đêm.

Kết quả cho thấy những người ngủ dưới 6 tiếng/đêm trong 2 tuần có nguy cơ bị một cơn đau tim và đột quỵ và khả năng suy tim cao gấp 1,6 lần so với nhóm ngủ 6-8 tiếng. Hơn nữa, những người ngủ ít còn bị suy giảm trí nhớ, ảnh hưởng tới hiệu suất học tập và làm việc, tăng nguy cơ mắc các bệnh tiểu đường, bệnh huyết áp,… Đặc biệt, khả năng tập trung trở nên tồi tệ hơn sau mỗi đêm thiếu ngủ. Chỉ sau 2 tuần, những người ngủ ít có nguy cơ rối loạn thần kinh hơn so với những người ngủ đủ 8 tiếng. Nhưng thật tiếc là ít ai nhận ra hiệu suất chậm chạp đó.   Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ngủ nhiều hơn 8 giờ làm tăng nguy cơ đau thắt ngực và bệnh động mạch vành.   Mặc dù ở những người ngủ quá ít thì không tìm thấy bằng chứng cho thấy nguy cơ mắc bệnh tim nhưng các nghiên cứu trước đó cho thấy thiếu ngủ có thể làm tăng nồng độ hooc-môn stress và các yếu tố gây viêm nhiễm và những chất này đều làm gia tăng nguy cơ đối với mạch máu ở tim và não bộ; nó cũng liên quan với bệnh tiểu đường, huyết áp cao… những bệnh gây ra bệnh tim mạch.

Vì vậy, một giấc ngủ lý tưởng đối với cơ thể con người nên từ 6-8 tiếng mỗi ngày và hãy tạo cho mình giấc ngủ sâu vào ban đêm để có được sức khỏe tốt nhất, đặc biệt quan trọng đối với những người già, người có nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.

N.T.Nhung / Theo Foxnews

Món ăn cho người suy nhược thần kinh

Suy nhược thần kinh là một bệnh do mất điều tiết chức năng của thần kinh đại não mà tạo thành suy giảm chức năng tinh thần và hoạt động thân thể. Suy nhược thần kinh biểu hiện trên lâm sàng: Tinh thần mệt mỏi, mẫn cảm đối với kích thích bên trong và bên ngoài, dao động tình cảm, thiếu tính kiên nhẫn, mất ngủ, hay mơ, trở ngại tâm sinh lý…

Ngoài việc dùng thuốc, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số món ăn, bài thuốc hỗ trợ điều trị suy nhược thần kinh để bạn đọc tham khảo và áp dụng khi cần.

Canh thịt gà.

Canh nấm đầu khỉ, thịt gà: Thịt gà 300g, nấm đầu khỉ 100g. Thịt gà thái thành miếng, nấm đầu khỉ rửa sạch cắt miếng mỏng, nấu thành canh, cho gia vị vào là ăn được, ăn liên tục trong mấy ngày.

Thịt gà có hàm lượng protein phong phú, cơ thể dễ hấp thu. Nấm đầu khỉ có chứa nhiều axit amin và vitamin, nhiều hoạt chất sinh học có thể trị chứng rối loạn thần kinh chức năng, cơ thể suy nhược.

Táo đỏ, câu kỷ tử nấu trứng gà: Táo đỏ 7 quả, câu kỷ tử 20g, trứng gà 2 quả. Cùng nấu 3 nguyên liệu trên với nhau, khi trứng chín bỏ vỏ rồi đun thêm một lúc, ăn trứng uống canh, ăn liên tục. Tác dụng kiện não ích khí, thích hợp với người bị mất ngủ, hay quên do suy nhược thần kinh.

Dâu tươi đường kính: Quả dâu tươi 1kg, đường trắng 1kg. Quả dâu rửa sạch, để ráo nước. Cho vào nồi, cho thêm 1,5 lít nước đun sôi trong 30 phút. Cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn rồi cho đường vào. Đun nhỏ lửa, khuấy liên tục cho tới khi tạo thành khối dẻo. Mỗi ngày ăn 2 lần sáng tối, mỗi lần 30g (2 thìa).

Canh hạt sen, tim lợn: Hạt sen 40g, tim lợn 1 quả, bá tử nhân 20g, gia vị vừa đủ. Rửa sạch tim lợn, thái thành miếng cùng với hạt sen, bá tử nhân cho vào trong nồi cho 1 lít nước vào nấu, đợi khi hạt sen chín nhừ thì cho gia vị, quấy đều để ăn. Tác dụng dưỡng tâm an thần, ích khí định tĩnh. Thích hợp cho chứng suy nhược tâm khí, tâm thần bất an, suy nhược thần kinh, mất ngủ, ra mồ hôi…

Lương y Vũ Quốc Trung

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)

Canh hến linh chi trị hen phế quản

Theo Đông y, linh chi có vị ngọt, tính ôn, với công năng làm ích tinh khí, mạnh gân cốt, công dụng làm thuốc bồi bổ cơ thể, đặc biệt sử dụng cho những người hay bị đánh trống ngực, mất ngủ, mệt mỏi, viêm phế quản mạn, hen suyễn, tiêu hóa kém, viêm gan B…

Ngoài ra, còn có khả năng nâng cao miễn dịch cơ thể, đặc biệt là hệ thống miễn dịch tế bào… Trong Đông y, canh hến linh chi có tác dụng đặc biệt điều trị hen phế quản.

Trong Đông y, canh hến linh chi có tác dụng đặc biệt điều trị hen phế quản.

Nguyên liệu: Linh chi 20 – 30g, thịt hến hoặc trai 200 – 300g, đường phèn 50g.

Chế biến: Linh chi thái lát mỏng cho vào nồi đất đun sôi từ 1 – 1 giờ 30 phút, lọc bỏ bã, thịt trai làm sạch đem nấu chung với nước linh chi. Khi thịt trai chín cho đường phèn vào đun nhẹ cho tới khi đường phèn tan hết múc ra ăn. Mỗi ngày ăn một lần có thể dùng liên tục.

Theo đại danh y Tuệ Tĩnh, thịt trai hến có tính lạnh, không độc, có tác dụng nhuận tràng, thanh nhiệt thông nhuận phế, mát gan, bổ thận, trị lở, thông tiểu, hạ áp, an thần…

Bài thuốc có tác dụng nâng cao miễn dịch, mạnh gân cốt tăng cường quá trình trao đổi chất và cung cấp oxy cho tế bào, đặc biệt là tim, gan và phổi, ức chế cơ thể phóng thích histamin (tác nhân gây dị ứng) và kìm hãm sự phóng thích amin gây co thắt phế quản…

Dùng trị các chứng bệnh: Viêm phế quản người già, hen phế quản, viêm gan mạn tính, giảm bạch cầu, rối loạn thần kinh tim, suy nhược thần kinh, mất ngủ, bệnh mạch vành, xơ gan thời kỳ đầu…

Lương y Chu Văn Tiến

Meo.vn (Theo Bee)

Xoa bóp, bấm huyệt phòng trị chuột rút

Chuột rút hay vọp bẻ là tình trạng co cơ quá mức gây cảm giác đau đớn bởi sự co rút của các nhóm cơ chủ yếu là ở bắp chân.

Có nhiều nguyên nhân gây ra chuột rút do làm việc, hoạt động quá sức (bơi lội, thể thao, gánh vác…), thiếu oxy đến cơ, stress, rối loạn điện giải, thiếu nước và muối khoáng, thiếu canxi, hạ kali hay viêm tắc động tĩnh mạch chi, rối loạn thần kinh thực vật…

Chuột rút ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng cuộc sống con người, nhất là ở phụ nữ mang thai. Tuy nhiên chuột rút hoàn toàn có thể phòng trị được.

Huyệt Thừa Sơn có vai trò quan trọng trong cấp cứu chuột rút. Ảnh minh họa: IE.

Khi có cơn chuột rút lập tức lấy ngay ngón cái bấm mạnh huyệt thừa sơn (ở giữa đường nối từ nếp kheo chân và gót chân, ngay chỗ lõm giữa 2 khe cơ sinh đôi ngoài và trong hay giữa bắp chân) trong 2 – 3 phút để cắt cơn. Kế tiếp bấm huyệt côn lôn (ở chỗ lõm giữa điểm cao nhất của mắt cá ngoài và bờ ngoài gân gót chân), ủy trung (ở giữa nếp ngang giữa kheo chân). Nếu chuột rút bàn chân thì bấm mạnh huyệt công tôn (ở chỗ lõm, nơi tiếp nối của thân và đầu sau xương bàn chân 1. Trên đường tiếp giáp da gan chân – mu chân, ở bờ trong bàn chân).

Sau khi đã cắt được cơn chuột rút ngồi thả lỏng người, dùng hai bàn tay xoa, bóp, lăn, vuốt từ bắp chân xuống dưới tận gót chân và ngược lại nhiều lần với một lực vừa phải. Kế tiếp rung lắc nhẹ bắp chân đồng thời cử động co duỗi bàn chân đứng nhẹ dậy nhằm giải tỏa sự co cơ làm cho khí huyết lưu thông.

Kế tiếp bấm huyệt thái khê (ở chỗ lõm giữa điểm cao nhất của mắt cá trong và bờ trong gân gót) huyết hải (duỗi thẳng chân từ điểm cao nhất của xương bánh chè đo lên một đốt ngón tay vào phía trong đùi hai đốt) và huyệt khí hải (rốn thẳng xuống 3cm) mỗi huyệt bấm từ 1 – 3 phút để củng cố. Phụ nữ có thai không bấm hai huyệt huyết hải và khí hải.

 

Lương y Chu Văn Tiến
(Trung tâm Cấy chỉ – Phục hồi chức năng Minh Quang)

Meo.vn (Theo Bee)

 

Sao tôi hay bị hồi hộp?

Tôi 28 tuổi, nhịp tim của tôi thường nhanh, trong một lần khám sức khỏe mới đây là 110 lần/phút, huyết áp thì bình thường. Trong cuộc sống, tôi thường cảm thấy hồi hộp, tim đập thình thịch, đặc biệt là những khi lo lắng, suy nghĩ nhiều, làm việc căng thẳng. Xin hỏi tôi bị bệnh gì và chữa trị ra sao? Xin chân thành cảm ơn! (Windy)

Bạn windy thân mến, trong điều kiện bình thường, nhịp tim của một người khỏe mạnh dao động trong khoảng từ 60-80 lần trong một phút. Tuy nhiên, nhịp tim có thể tăng lên đến 90-100 lần khi chúng ta làm việc, tập thể dục hay trong trạng thái xúc động… Chính vì vậy, khi đi khám bệnh hay khám sức khỏe, không nên đo huyết áp và đếm nhịp tim ngay khi vừa mới vào phòng khám, bao giờ cũng để cho bệnh nhân ngồi hay nằm nghỉ khoảng 10-15 phút, rồi mới thực hiện đo, lúc đó những kết quả thu được mới thật sự là chính xác.

Một số trường hợp dù trong trạng thái bình thường, nhịp tim của bệnh nhân vẫn tăng trên 100 lần, bệnh nhân cảm thấy hồi hộp, tim đập mạnh…, cần phải kiểm tra xem bệnh nhân có bị rối loạn thần kinh thực vật dạng cường giao cảm hay không? Bệnh nhân có bị hội chứng cường giáp, các rối loạn về chuyển hóa (như bệnh tiểu đường), hay đang sốt cao…Việc điều trị phải dựa theo nguyên nhân được xác định chính xác theo sự thăm khám của bác sĩ và các kết quả xét nghiệm. Trong một số trường hợp bệnh nhân có thể luyện tập thêm yoga để ổn định hệ thống thần kinh thực vật.

PGS.TS Nguyễn Hoài Nam
(ĐH Y Dược TP.HCM)

Meo.vn (Theo Khoemoingay)

Triệu chứng bệnh lao phổi

Lao phổi là bệnh nhiễm khuẩn do trực khuẩn lao gây nên. Người lao phổi có các triệu chứng như sau:

1. Triệu chứng lâm sàng

a. Triệu chứng về hô hấp:

– Các triệu chứng quan trọng nhất là: ho, khạc đờm, ho máu.

– Các triệu chứng khác là: đau ngực, khó thở, có tiếng rên khu trú ở một vùng của phổi v.v…

Ho là triệu chứng phổ biến của mọi bệnh phổi cấp hoặc mạn tính. Ho có thể do nhiều nguyên nhân: viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, lao, ung thư phổi v.v…

Mọi bệnh nhân ho trên 3 tuần không phải do viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, ung thư phổi dùng thuốc kháng sinh không giảm ho phải nghĩ đến do lao phổi.

Khạc đờm là biểu hiện tăng xuất tiết do phổi phế quản bị kích thích hoặc do có tổn thương tại phổi phế quản. Khạc đờm cũng như ho có thế do rất nhiều nguyên nhân gây ra mà các nguyên nhân thông thường nhất là viêm nhiễm. Do vậy nếu sau khi dùng thuốc kháng sinh triệu chứng khạc đờm không giảm thì mọi bệnh nhân có triệu chứng ho khạc trên ba tuần phải nghĩ đến do lao phổi.

Ho khạc đờm là những đấu hiệu hay gặp nhất trong các dấu hiệu quan trọng gợi tới chẩn đoán lao phổi.

Ho ra máu là triệu chứng có thể gặp ở 60% những người lao phổi thể hiện có tổn thương, chảy máu trong đường hô hấp. Nguyên nhân gây ho ra máu rất nhiều từ các bệnh phổi – phế quản (viêm phổi, viêm phế quản, áp xe phổi, ung thư phổi, phế quản v.v…) đến các bệnh ngoài đường hô hấp như bệnh tim mạch (suy tim, tăng huyết áp…), bệnh toàn thân (rối loạn đông máu, chảy máu, thiếu hụt vitamin C…).Tuy nhiên do có thể gặp với tỷ lệ cao trong lao phổi nên những ng­ời ho ra máu phải kiểm tra có lao phổi không.

b. Triệu chứng toàn thân:

Các triệu chứng toàn thân quan trọng nhất là: gầy, sút cân, sốt, ra mồ hôi.

Các triệu chứng toàn thân khác là: chán ăn, mệt mỏi v.v…

Gầy, sút cân là triệu chứng gặp ở số đông người lao phổi. Những bệnh nhân gầy, sút cân không có nguyên nhân rõ ràng không phải do tiêu chảy, suy dinh dưỡng, nhiễm HIV/AIDS v.v… có các triệu chứng hô hấp như­ trên đã nêu phải nghĩ tới do lao phổi.

Sốt là triệu chứng hay gặp ở người lao phổi. Sốt có thể ở nhiều dạng: sốt cao, sốt thất thường nhưng hay gặp nhất là sốt nhẹ hoặc gai gai lạnh về chiều.

Những người có triệu chứng sốt như trên, có các triệu chứng về hô hấp: ho, khạc đờm, ho ra máu.v.v…. phải nghĩ tới do lao phổi.

Ra mồ hôi là triệu chứng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Trong lao phổi ra mồ hôi là do rối loạn thần kinh thực vật mà người ta thường gọi là ra mồ hôi trộm ởtrẻ em triệu chứng này dễ nhận thấy nhất.

Nếu bệnh nhân gầy sút cân, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi trộm kèm theo có các dấu hiệu chán ăn, mệt mỏi… phải chú ý có thể đó là do lao phổi.

Mức độ quan trọng khác nhau của các triệu chứng lâm sàng của lao phổi được sắp xếp theo bảng dưới đây (bảng 3).

Các triệu chứng lâm sàng của lao phổi

Triệu chứng hô hấp

Triệu chứng toàn thân

Các triệu chứng quan trọng

Ho+++ Khạc đờm+++ Ho ra máu++

Gầy sút cân++ Sốt về chiều++ Ra mồ hôi trộm++

Các triệu chứng khác

Đau ngực+ Khó thở+ Các tiếng rên khu trú ở một vùng phổi+

Chán ăn+ Mệt mỏi+

Những bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng như trên cần được cho làm xét nghiệm đờm, thử nghiệm tuberculin, chụp X-quang phổi.

2. Triệu chứng thực thể

– Đối với lao phổi: nghe thấy các tiếng bất thường ở phổi.

– Đối với lao ngoài phổi: làm các xét nghiệm như sinh thiết hạch, chụp cắt lớp …

Meo.vn (Theo Cimsi)

Một số dấu hiệu của rối loạn thần kinh tim

Xin chào bác sĩ. Tôi 31 tuổi, nữ. Là nhân viên văn phòng làm việc chủ yếu trên máy tính nên tôi ít có thời gian giải trí và vận động.

Cách đây 2 năm, thỉnh thoảng tôi thấy mệt, đau đầu và khó thở nên đã đi chụp phim, siêu âm và đo điện tâm đồ tim.

Bác sĩ cho biết tôi bị huyết áp thấp và rối loạn thần kinh tim. Từ đó đến nay, tôi cũng hay mệt và thở dốc. Khoảng một tháng nay, tôi thấy ngực hay bị đau nhói, gặp chuyện xúc động tôi cũng hay khó thở.

Mong bác sĩ tư vấn dùm, tôi có nên đi khám bệnh hay không? Nếu khám thì nên khám chuyên khoa gì? Xin cám ơn bác sĩ! – (tuyetthu)

Trả lời


Rối loạn thần kinh tim là một bệnh thần kinh lo âu, được chẩn đoán sau khi đã loại trừ các tổn thương thực thể tại tim. Một số triệu chứng của bệnh như tim đập nhanh hoặc chậm, ngoại tâm thu, hồi hộp, choáng váng, hơi thở ngắn… Đôi lúc có cảm giác đau tức, đau nhói hoặc nặng ở vùng ngực.

Bạn đã làm nhiều cận lâm sàng cách đây 2 năm và có lẽ tất cả đều bình thường nên bạn được chẩn đoán “Rối loạn thần kinh tim”. Bạn có thể thực hiện một số biện pháp không dùng thuốc để giảm thiểu triệu chứng như: tập thể dục đều đặn, tránh những chất kích thích (như rượu, thuốc lá, trà đậm, cà phê…), cố gắng tránh những tình huống có thể gây xúc động quá mức…

Ngoài ra, bạn cũng nên đi khám bác sĩ chuyên khoa Thần kinh – Tâm thần để có kết quả đánh giá đầy đủ, và hỗ trợ điều trị bằng thuốc nếu có chỉ định.

Theo BS. Trần Thanh Sơn

Meo.vn (Theo alobacsi)

Bệnh trầm cảm dẫn tới tự sát ở Mỹ: Sự thật gây ngạc nhiên

Bệnh trầm cảm phổ biến hơn bệnh AIDS, ung thư, hay bệnh tiểu đường. Mỗi năm, nước Mỹ có gần 400.000 người tìm cách tự sát. Tuy đây là vấn đề xảy ra rất phổ biến và nghiêm trọng, nhưng nhiều người lại không có nhiều hiểu biết về bệnh. Rất khó phát hiện bệnh nhân nào là người nguy hiểm nhất, tại sao và khi nào họ dễ bị tổn thương nhất.


Khi bị trầm cảm thì khả năng tự vẫn rất cao

Nhiều nhất  vào các ngày nghỉ

Tiến sĩ Marcia Valenstein-nhà khoa học nghiên cứu tại Sở Nghiên cứu và Phát triển dịch vụ y tế cựu chiến binh Mỹ đã phát biểu rằng: “Tự tử thường xảy ra phổ biến tại một thời điểm trong năm, nhưng nó không như nhiều người nghĩ”.

Hầu hết mọi người nghĩ rằng, ngày nghỉ mùa đông là thời điểm nguy cơ tự tử xảy ra nhiều nhất; tuy nhiên, thực tế cho thấy, tỷ lệ tự tử thấp nhất là vào tháng 12 trong khi thời điểm tự tử cao nhất là vào mùa xuân.
Tại sao điều này lại không rõ ràng? Có thể là do mức độ thay đổi ánh sáng tự nhiên. Tiến sỹ Valenstein cũng là Giáo sư khoa Tâm thần học trường Đại học Michigan Depression Center ở Ann Arbor nói rằng: “Có thể mọi người có thừa “năng lượng” và thiếu tỉnh táo để suy xét”.

Tuổi vị thành niên

Tự tử ở tuổi vị thành niên đã trở thành những tiêu đề đang nổi lên, tuy nhiên, theo Tiến sỹ Valenstein, người cao tuổi có khuynh hướng tự sát cao hơn những người ở nhóm tuổi khác.

Tuy nhiên, thanh thiếu niên vẫn là nhóm có nguy cơ tự tử rất cao. Một trong năm học sinh trung học cho biết rằng, cô ấy (anh ấy) đã quan sát nhiều vụ tự tử trong 12 tháng qua và đưa ra kết luận rằng, 1 trong số 12 cái chết là do tự sát. (Tỷ lệ tự tử ở nhóm tuổi từ 15-19 là 6,9 người trong tổng số 100.000 người ).

Làm việc sáng tạo

Từ lâu, sáng tạo, trầm cảm và tự tử đã có liên quan đến nhau, do đó, không có gì là ngạc nhiên khi mà một số cá nhân sáng tạo nhất trong lịch sử lại mắc phải chứng bệnh tâm thần. Trầm cảm ảnh hưởng tới tâm trí, điều này có thể thấy ở các nhân vật rất nổi tiếng như Charles Dickens, John Keats và Tennessee Williams.
Một số nhà văn đã tự tử bao gồm Ernest Hemingway, Sylvia Plath và David Foster Wallace. Các nhà văn nổi tiếng này có một vài điểm chung: tất cả họ đều viết về một người trong tác phẩm đầu tiên của mình, đây được coi là dấu  hiệu  nguy cơ tự tử.

Tiền sử gia đình

Với gia đình có tiền sử mắc phải bệnh trầm cảm thì nguy cơ mắc phải bệnh trầm cảm ở đứa trẻ sẽ cao hơn. Một khuynh hướng trái ngược lại, gia đình (và bạn bè) cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn tự tử. Việc hỗ trợ xã hội càng mạnh thì càng làm giảm nguy cơ tự tử.

Tự sát không thành công

Theo Tiến sỹ Valenstein, cứ 10 – 25 người cố gắng tự tử thì chỉ duy nhất một người chết, đây quả thực là một con số rất may mắn. Để tiếp tục giảm tỷ lệ này, Tiến sỹ Valenstein gợi ý rằng “hãy tránh xa những suy nghĩ tiêu cực”.

“Hãy khẳng định với nhiều người là bạn không quan tâm tới súng” – vị tiến sỹ nói tiếp, “điều này giúp mọi người không cố chấp và dẫn tới tự tử”.

Đàn ông và nguy cơ tự sát

Phụ nữ cố gắng tự sát nhiều gấp 3 lần so với đàn ông; trong khi đó, đàn ông thực sự giết chết chính mình nhiều gấp 4 lần so với phụ nữ.

Hơn nửa số vụ tự tử ở Mỹ được thực hiện bằng súng. Hình thức không thể thay đổi và mang tính chất bạo lực này là sự lựa chọn của nam giới. Tuy nhiên, theo những gì mà Tiến sỹ Valenstein đã lưu ý thì hình thức tự tử phổ biến nhất ở phụ nữ là do ngộ độc, thường là do uống thuốc quá liều và hình thức này lại ít gây chết người hơn.

Làm giảm bớt nguy cơ tự tử

Tiến sỹ Valenstein nhận xét: “Hiện tại, có rất ít giải pháp để ngăn chặn tự tử. Tuy nhiên, điều trị bệnh rối loạn thần kinh là rất quan trọng và có thể làm giảm đi những ý nghĩ tự tử, đặc biệt là ở những người cao tuổi”. Tiến sỹ nói thêm rằng, trong vài tuần trị liệu đầu tiên, mối lo ngại lớn nhất là liệu các loại thuốc chống trầm cảm có thực sự làm tăng nguy cơ tự tử ở các bệnh nhân dưới độ tuổi 25. Valenstein đã quan sát và thấy rằng: “Nếu bạn điều trị thành công bệnh trầm cảm thì ý định tự tử sẽ giảm đi”.

Meo.vn (Theo Anninhthudo)