Lưu trữ cho từ khóa: Thuốc điều trị

Sắp có thuốc mới ngăn chặn được virus sởi

Loại thuốc này ngăn cản virus sởi nhân bản và lan rộng khắp cơ thể bệnh nhân.

Sởi, căn bệnh từng được cho là đã bị xóa sổ ở nhiều nước phát triển, giờ đây lại đang tái xuất và hoành hành ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Mặc dù vắc xin MMR đã làm giảm đáng kể những ca mắc bệnh sởi trên toàn thế giới, song vì một số lý do khác nhau, vẫn có nhiều trẻ em không được tiêm phòng sởi, khiến dịch sởi còn bùng phát rải rác ở nhiều khu vực đông dân cư ở các nước.

sap-co-thuoc-moi-ngan-chan-duoc-virus-soi

Dịch sởi đang bùng phát ở nhiều quốc gia trên thế giới

Trong một nỗ lực nhằm chấm dứt dịch sởi đang hoành hành ở nhiều nước, trong đó có Mỹ và Canada, các nhà nghiên cứu tại Đại học Bang Georgia, Mỹ và Viện Paul-Ehrlich ở Langen, Đức đã tạo ra một loại thuốc uống có tên gọi ERDRP-0519 có thể ngăn chặn được virus sởi lây lan trên loài chồn sương.

Theo các nhà nghiên cứu, họ hy vọng loại thuốc này sẽ sớm được sử dụng kết hợp với chương trình tiêm chủng mở rộng trên toàn cầu để có thể loại bỏ hoàn toàn virus sởi.

Người phụ trách nhóm nghiên cứu Richard Plemper tại Đại học Bang Georgia cho biết: “Loại thuốc của chúng tôi không phải là một giải pháp thay thế tiêm chủng, tuy nhiên việc kết hợp nó với tiêm chủng có thể tạo ra hiệu ứng cộng hưởng để dập tắt và loại trừ dịch sởi ra khỏi những cộng đồng thực hiện tốt chương trình tiêm chủng.”

Là loại virus phát tán trong không khí qua đường hô hấp, ho hoặc hắt hơi, sởi là căn bệnh có thể lây lan rất nhanh chóng trong cộng đồng. Theo Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC), trong thực tế sởi dễ lây lan đến mức 90% những người chưa được tiêm chủng tiếp xúc với virus này sẽ bị lây nhiễm.

sap-co-thuoc-moi-ngan-chan-duoc-virus-soi

Hình ảnh virus sởi dưới kính hiển vi điện tử

Giống như nhiều loại virus gây bệnh khác, sởi có thời gian ủ bệnh khoảng hai tuần trước khi các triệu chứng bộc lộ rõ ràng, và các nhà nghiên cứu coi đây là thời gian vàng mà loại thuốc của họ có thể phát huy hiệu quả.

Lý giải về điều này, ông Plemper nói: “Khi xuất hiện các triệu chứng sởi như phát ban cũng là lúc virus đang bị hệ miễn dịch của cơ thể kiểm soát. Nhiều triệu chứng xuất hiện là hậu quả của việc hệ miễn dịch đang tìm cách tiêu diệt virus lây nhiễm. Trong thời kỳ toàn phát, lượng virus trong cơ thể bệnh nhân giảm nhanh chóng, vì chúng đã bị hệ miễn dịch tiêu diệt phần lớn. Thế nên lúc này việc sử dụng thuốc kháng virus không còn mấy hiệu quả.”

Loại thuốc ERDRP-0519 này có thể tấn công và loại trừ enzim polymerase, một loại enzim mà virus sởi cần để nhân bản và phát triển. Khi enzim này bị loại trừ, virus sẽ không thể tổng hợp được các protein mới và không lan tỏa ra khắp cơ thể.

Để đánh giá hiệu quả của loại thuốc này, ông Plemper và đồng nghiệp đã sử dụng ERDRP-0519 trên nhiều con chồn sương đã bị lây nhiễm virus CDV, một căn bệnh nguy hiểm ở động vật có vú tương tự như bệnh sởi ở người. Những con chồn sương được sử dụng thuốc sau 3 ngày bị lây nhiễm đã sống sót và virus bị loại trừ hoàn toàn khỏi cơ thể chúng.

Ông Plemper giải thích: “Loài chồn sương dùng thuốc cũng trở nên miễn dịch với loại virus này. Những con chồn sống sót đã sản sinh kháng thể chống lại virus, thế nên khi chúng tôi tiêm lại virus CDV vào người chúng, chúng không hề bị mắc bệnh.”

sap-co-thuoc-moi-ngan-chan-duoc-virus-soi

Loại thuốc này có thể ngăn cản hiệu quả sự nhân bản của virus sởi

Ông Plemper hy vọng ERDRP-0519 sẽ không gây ra tác dụng phụ ở người và sẽ trở thành một loại thuốc uống cho người rẻ hơn thuốc tiêm rất nhiều trong tương lai không xa.

Trong điều kiện lý tưởng, các nhà nghiên cứu cho rằng thuốc của họ sẽ là một công cụ hữu hiệu để dập tắt dịch sởi ở những quốc gia thực hiện tốt chương trình tiêm chủng. Mặc dù tỉ lệ tử vong do sởi chỉ là 1/1000 ở các nước phát triển, nhưng những biến chứng mà căn bệnh này gây ra có thể rất nghiêm trọng.

Ông Plemper nói: “Đó là căn bệnh không thể xem thường. Loại virus này ảnh hưởng đến hệ miễn dịch trong một thời gian dài sau khi khỏi bệnh. Thế nên chúng tôi hy vọng loại thuốc này không chỉ cứu được nhiều bệnh nhân khỏi căn bệnh quái ác này mà còn giảm bớt những biến chứng tiềm tàng sau khi nhiễm bệnh.”

Kết quả công trình nghiên cứu của họ vừa được đăng tải trên tạp chí Science Translational Medicine.

Theo Khampha.vn

Các loại thuốc điều trị bệnh viêm kết mạc

Bệnh viêm kết mạc (đau mắt đỏ) thường bùng phát vào giai đoạn thời tiết chuyển mùa.

Thời gian qua tại Hà Nội, bệnh viêm kết mạc lây lan rất nhanh trong gia đình, trường học, công sở… với nguy cơ trở thành “dịch bệnh đau mắt đỏ”.

Tìm hiểu bệnh viêm kết mạc

Bệnh viêm kết mạc (VKM) thường gây ra cảm giác khó chịu ở mắt và ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt hàng ngày.

Bệnh viêm kết mạc là một bệnh thông thường hay gặp ở nước ta, nếu không điều trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm như: loét giác mạc…

Nguyên nhân:

Bệnh viêm kết mạc thường được gây ra bởi các nguyên nhân sau:

Do nhiễm khuẩn bởi các loại vi khuẩn trong điều kiện vệ sinh kém.

Do nhiễm virút với các chủng virút: Adenovirus, Enterovirus.

Do dị ứng với phấn hoa, bụi, phấn trang điểm…

Do kích ứng với các hóa chất như: chất chlorine trong hồ bơi, khói thuốc lá, dầu gội đầu…

Bệnh viêm kết mạc do nhiễm khuẩn và nhiễm virút thường lây lan rất nhanh từ người này sang người khác.

cac-loai-thuoc-dieu-tri-benh-viem-ket-mac

Triệu chứng:

Bệnh viêm kết mạc thường có các triệu chứng sau:

Kết mạc đỏ (kết mạc là màng niêm mạc bao phủ phía trước của mắt và phía bên trong của mi mắt).

Xuất hiện ghèn dính chặt hai mi mắt lại với nhau sau khi ngủ dậy.

Tăng sự nhạy cảm với ánh sáng.

Chảy nước mắt nhiều.

Ngứa mắt, xốn mắt.

Mắt mờ…

Thuốc điều trị

Thuốc được sử dụng trong điều trị bệnh viêm kết mạc bao gồm những loại thuốc viên, thuốc nhỏ mắt, thuốc tiêm… Tùy theo nguyên nhân gây ra bệnh viêm kết mạc, các thầy thuốc sẽ chọn lựa loại thuốc thích hợp để điều trị. Người bị bệnh viêm kết mạc cần phải tuận theo chỉ định chặt chẽ của thầy thuốc, tránh việc tự ý sử dụng vì có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm đến mắt!

Thuốc kháng sinh: thường được sử dụng để điều trị viêm kết mạc do nhiễm khuẩn. Trong thành phần của thuốc là các kháng sinh phổ rộng như: cloramphenicol, neomycin, tobramycin, offloxacin, sulfocetamid, polymycin B…

Cần lưu ý: với loại thuốc nhỏ mắt có chứa kháng sinh không được sử dụng với thời gian quá một tuần.

Thuốc kháng viêm: thường được sử dụng để làm giảm bớt triệu chứng sưng, đỏ ở mắt do viêm kết mạc. Trong thành phần của thuốc là các corticosteroid như: Dexamethason, fluoromethason, prednisolon… hay chất kháng viêm non-steroid (NSAID) như: Diclophenac, Indomethacin…

Cần lưu ý: khi sử dụng trong một thời gian dài, với thuốc kháng viêm ở dạng viên sẽ gây ra các tác dụng phụ như viêm loét dạ dày – tá tràng, cao huyết áp… Với thuốc nhỏ mắt có chứa corticosteroid sẽ gây ra các biến chứng nguy hiểm như: đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp…

Thuốc kháng histamin H1: thường được sử dụng để điều trị viêm kết mạc do dị ứng. Trong thành phần của thuốc là các kháng histamin H1: chlorpheniramin, antazoline, diphenhydramin…

Cần thận trọng khi sử dụng nhóm thuốc kháng histamine H1 với người bị tăng nhãn áp hay viêm tiền liệt tuyến.

Thuốc nhỏ mắt kháng kích ứng: thuốc nhỏ mắt mà thành phần là các chất bôi trơn và nước mắt nhân tạo: Glycerin, Polyvidon, Polyvinyl alcohol… giúp ngăn ngừa tình trạng khô mắt hay chất co mạch cục bộ: naphazoline,tetrahydrozoline có tác dụng chống sung huyết mắt do kích ứng

Thuốc nhỏ mắt kết hợp: trong thành phần là sự kết hợp hai hay nhiều nhóm thuốc với nhau như kháng sinh, kháng viêm corticosteroid… giúp tăng hiệu quả điều trị.

Đối với bệnh viêm kết mạc, thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh: tránh tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh, không dùng chung khăn mặt, không sử dụng nước rửa mặt không đảm bảo vệ sinh, không chạm tay bẩn lên mắt, mang kính để bảo vệ mắt… là hết sức quan trọng giúp bảo vệ mắt khỏi bị bệnh viêm kết mạc.

DS. MAI XUÂN DŨNG

Theo Suckhoedoisong..vn

Các loại thuốc điều trị vô sinh nam

Vô sinh là một bệnh tương đối phổ biến, khoảng 15% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản gặp những vấn đề trục trặc về chuyện sinh con ở các mức độ khác nhau. Trong đó, nam giới chiếm khoảng 50% nguyên nhân trong tổng số này.
Hiện nay có rất nhiều kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phát triển mạnh mẽ làm cho tỷ lệ điều trị thành công vô sinh tăng lên đáng kể. Tuy nhiên giá thành điều trị của các kỹ thuật này lại rất cao, không đáp ứng được nhu cầu điều trị ngày càng tăng của người bệnh. Vì vậy, các biện pháp điều trị vô sinh nam bằng thuốc vẫn đóng một vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản. Các thuốc điều trị vô sinh nam thường tập trung vào nhóm thuốc nội tiết.

Testosteron

Testosteron là một trong các loại hormon sinh dục nam có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và tồn tại của nam giới. Nó có tác động đến nhiều quá trình chuyển hóa cũng như nhiều cơ quan quan trọng trong cơ thể.
Testosteron được sản xuất ra từ cơ quan sinh dục là tinh hoàn rồi đưa vào máu, dưới sự tác động của các nội tiết tố LH, một loại nội tiết do tuyến yên tiết ra. Sau một vài lần chuyển hóa, testosteron lại quay trở lại cơ quan sinh dục để phát huy tác dụng.
cac-loai-thuoc-dieu-tri-vo-sinh-nam
Số lượng tinh trùng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.
Ngoài tác dụng đối với cơ thể nói chung, đối với quá trình biệt hóa giới tính, testosteron có tác dụng kích thích phát triển các đặc tính sinh dục phụ mang tính nam như râu, tóc, cơ bắp phát triển… Điều này giúp phân biệt được nam giới với nữ giới về hình thức bên ngoài. Còn đối với cơ quan sinh dục thì testosteron kích thích tinh hoàn sản xuất tinh trùng và làm cho tinh trùng trưởng thành, đóng vai trò quan trọng trong việc sinh sản ở nam giới.
Testosteron được chỉ định điều trị các trường hợp suy giảm testosteron máu gây nên các tình trạng bệnh lý như suy sinh dục nam giới, rối loạn cương dương, không có tinh trùng, tinh trùng ít hay tinh trùng yếu.
Hiện ở Việt Nam có 4 dạng testosteron thường được sử dụng là testosterone enanthate, testosterone propionate, testosterone undecanoate và testosterone mesterolone. Qua nghiên cứu, cả 4 dạng thuốc trên đều có tác dụng như nhau trong việc điều trị vô sinh nam giới.
Tuy nhiên, dạng thuốc uống là dạng hay được sử dụng vì đơn giản và thuận tiện cho người bệnh. Testosterone mesterolone và testosterone undecanoate là dạng thuốc viên dùng để uống. Đối với dạng tiêm bắp, testosterone enanthate có thể tiêm khoảng 3-4 tuần một lần.
Cho đến nay, thời gian dùng thuốc kéo dài bao lâu vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nghiên cứu. Do vậy, tùy thuộc vào kinh nghiệm và đáp ứng của bệnh nhân mà thầy thuốc có thể quyết định thời gian dùng thuốc.

Gonadotropin

Gonadotropin gồm có LH và FSH là những glycoprotein được tiết ra từ thùy trước của tuyến yên, chúng có tác động kích thích và duy trì hoạt động chức năng của tuyến sinh dục. LH và FSH đều cần thiết cho quá trình sinh tinh. LH tác động lên quá trình sinh tinh thông qua testosteron, còn FSH có tác dụng duy trì cơ chế sinh sản tinh trùng bình thường thông qua việc kích thích tế bào sinh tinh ở tinh hoàn phát triển và bài tiết các chất quan trọng cho quá trình sinh sản tinh trùng.
Các gonadotropin thường được chỉ định trong các trường hợp suy thùy trước tuyến yên gây nên các tình trạng suy sinh dục nam giới (gọi là suy sinh dục thứ phát), không có tinh trùng,  suy giảm số lượng cũng như chất lượng tinh trùng…
Có ba dạng thuốc thường được sử dụng trong lâm sàng. Dạng thuốc có hoạt tính giống như LH (thường gọi là hCG, được chiết xuất từ rau thai người), dạng phối hợp có hoạt tính của cả LH và FSH (thường gọi là hMG, gồm hai thành phần là  FSH 75 UI và LH 75 UI). Gần đây, người ta bắt đầu sử dụng các dạng FSH tinh khiết hoặc tái tổ hợp để điều trị vô sinh nam trong các trường hợp suy giảm tinh trùng.

Các thuốc kháng estrogen

Các thuốc kháng estrogen, một loại nội tiết tố sinh dục nữ, là một trong những thuốc cổ điển nhất dùng để điều trị vô sinh nam. Cơ chế tác dụng của các thuốc này là ức chế tác dụng điều khiển ngược của estrogen lên vùng dưới đồi và tuyến yên làm cho tuyến yên tăng sản xuất LH và FSH,  từ đó tác động đến tinh hoàn làm tăng sản xuất testosteron và kích thích sinh sản tinh trùng.
Dựa trên cơ sở này mà người ta đã sử dụng các thuốc kháng estrogen để điều trị các trường hợp vô sinh do tinh trùng yếu không rõ nguyên nhân. Theo kết quả của nhiều nghiên cứu thì thuốc này cũng có tác dụng nhất định.
Thuốc hay được sử dụng nhất là clomiphene citrate và tamoxifen.

Bromocriptine

Là một thuốc có tác dụng ức chế thùy trước tuyến yên sản xuất ra nội tiết tố prolactin. Vì một lý do nào đó mà prolactin tăng cao quá mức, làm ức chế quá trình sản xuất testosteron và các nội tiết tố sinh dục khác trong cơ thể. Từ đó gây nên các tình trạng suy sinh dục nam, rối  loạn cương dương, rối loạn quá trình tạo tinh trùng và trưởng thành tinh trùng…
Bromocriptin có tác dụng làm giảm prolactin trong các trường hợp tăng prolactin máu không rõ nguyên nhân hay do u tuyến yên thể tăng tiết prolactin. Do vậy, thuốc được chỉ định dùng cho nam giới trong các trường hợp tăng prolactin máu gây ảnh hưởng đến hoạt động tình dục và hoạt động sinh sản của nam giới.
Thuốc được dùng theo đường uống. Thông thường sau 4 tuần dùng liên tục thuốc mới bắt đầu có tác dụng ức chế bài tiết prolactin.  Ngoài ra, để điều trị vô sinh nam người ta còn dùng nhóm thuốc có tác dụng chống lại quá trình ôxy hóa tế bào và các nhóm thuốc có tác dụng dinh dưỡng cho tinh trùng…

BS. Nguyễn Hoài Bắc

(Trung tâm Nam học – BV Việt Đức Hà Nội)
Theo Suckhoedoisong.vn
The post Các loại thuốc điều trị vô sinh nam appeared first on Tin Sức Khỏe.

Bệnh Suy Nhược Thần kinh và Thuốc điều trị

Bệnh Suy Nhược Thần kinh và Thuốc điều trị
Suy Nhược Thần kinh (SNTK) là tình trạng rối loạn chức năng của vỏ não do tế bào não làm việc quá căng thẳng, sinh ra quá tải và suy nhược làm ảnh hưởng đến quá trình phục hồi và nghĩ ngơi của cơ thể.
Là trạng thái rối loạn chức năng của hệ thần kinh trung ương do mất thăng bằng tạm thời trung tâm hoạt động cao cấp bởi các tác nhân tinh thần gây ra. Bệnh hay gặp ở lứa tuổi thanh niên và trung niên. Triệu chứng bệnh thường thay đổi, những triệu chứng chính thường là mất ngủ, nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, kém trí nhớ, lo buồn.
– Các triệu chứng khác thường do rối loạn chức năng hệ thần kinh thực vật, như đánh trống ngực, thở nông, mặt đỏ bừng hoặc tái nhợt, chóng mặt, ù tai… Nếu bệnh nhân có những triệu chứng kể trên, dù không phát hiện được một biểu hiện bệnh lý thực thể nào khi khám bệnh, vẫn có thể chẩn đoán được là Suy NhượcThần kinh
Biểu hiện lâm sàng Suy Nhược Thần kinhchủ yếu là các triệu chứng chủ quan của người bệnh xuất hiện sau những chấn thương tâm lý và một số bệnh nội khoa. Các dấu hiệu sớm thường là nhanh mệt mỏi, khó tập trung vào công việc, ăn kém ngon, ngủ không sâu giấc.
Đến giai đoạn điển hình Suy Nhược Thần kinh có các triệu chứng sau:– Bệnh nhân thường kêu ca phàn nàn, mệt mỏi, dai dẳng tăng lên sau một cố gắng trí óc hoặc một cố gắng tối thiểu về thể lực. Tự nhiên đau mỏi cơ bắp, khả năng làm việc sút kém, chóng mệt, hiệu quả thấp.
– Bệnh nhân kém kiên nhẫn, không chịu nổi khi phải chờ đợi, dễ kích thích, nóng nảy, cáu gắt, phản ứng quá mức. Khi có ý định làm việc gì bệnh nhân muốn nôn nóng làm ngay nhưng khó làm, lại mau chán, mệt mỏi hay bỏ cuộc.
– Mất ngủ: khó đi vào giấc ngủ, ngủ không say, hay có mộng, dễ đánh thức và khó ngủ lại, đôi khi mất ngủ trắng đêm, nếu mất ngủ kéo dài thấy quầng mắt bị thâm, sáng dậy bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, ngáp vặt.
– Giảm trí nhớ: bệnh nhân giảm cả trí nhớ gần và trí nhớ xa nhưng đặc biệt là trí nhớ gần, học hành sút kém và khó tiếp thu cái mới.
– Bệnh nhân dễ xúc động, mủi lòng, dễ khóc, lo lắng, mất tự chủ, khí sắc giảm.
– Đau đầu: bệnh nhân đau âm ỉ lan tỏa toàn bộ đầu, có cảm giác như đội mũ, thắt khăn chặt, đau đầu tăng lên khi có kích thích, suy nghĩ, lo lắng có thể kèm theo chóng mặt, choáng váng.
Rối loạn Thần kinh thực vật như hay hồi hộp, đánh trống ngực, mạch nhanh, khó thở, toát mồ hôi, có từng cơn nóng bừng hay lạnh toát, run chân tay, run mi mắt, giảm hoạt động tình dục, di mộng tinh ở nam giới, rối loạn kinh nguyệt ở nữ giới.
Các triệu chứng trên kéo dài có tính dai dẳng, hay tái phát, nghỉ ngơi thư giãn hồi phục ít hay không hồi phục.
Khi thấy các triệu chứng trên bệnh nhân cần đến phòng khám chuyên khoa để được tư vấn, xét nghiệm tìm và chữa các bệnh lý nội ngoại khoa gây hội chứng Suy Nhược Thần kinh. Nếu bệnh do căn nguyên tâm lý gây nên thì phải có biện pháp giải quyết và loại trừ căn nguyên tâm lý, tuỳ kinh nghiệm của bác sĩ và điều kiện của bệnh nhân có thể áp dụng các phương pháp phù hợp.
Thuốc điều trị Bệnh Suy Nhược Thần kinh.Các thuốc tác động lên cơ chế sinh bệnh như các thuốc có tác dụng lên quá trình hưng phấn hệ thần kinh: sulbutiamine (arcalion) hoặc asthenal uống sau ăn sáng. Nếu uống vào buổi trưa hoặc tối có thể gây mất ngủ, nếu uống vào lúc đói có thể gây cồn cào, khó chịu vùng thượng vị.
. Các thuốc hay được các bác sĩ khuyên dùng là:
– Tăng cường tuần hoàn và dinh dưỡng não: piracetam, ginkgo biloba…
– Các vitamin: đừng quan niệm vitamin là các thuốc bổ mà sử dụng tùy tiện. Đây là nhóm thuốc cung cấp các yếu tố vi lượng, có tác dụng tới quá trình chuyển hoá của cơ thể đồng thời nó cũng có tác dụng phụ không tốt nếu ta dùng quá liều và không đúng chỉ định.
– Các thuốc y học cổ truyền: tâm sen, lá vông, lạc tiên, củ bình vôi (rotunda),…
– Thuốc an thần, trấn tĩnh: nên dùng các thuốc có tác dụng an thần nhẹ, trấn tĩnh. Tuy nhiên nhóm thuốc này thường gây quen thuốc nên sử dụng cần thận trọng.
– Thuốc giảm đau: hay dùng là các dẫn chất của paracetamol: các thuốc này có đặc điểm là tác dụng nhanh nhưng bất lợi là độc với gan nếu dùng liều cao và thường xuyên. Khi sử dụng nên dùng xa bữa ăn, uống với nhiều nước.
Bộ 02 sản phẩm điều trị hiệu quả nhất cho Bệnh Suy Nhược Thần kinh gồm :
-Golden Valley SOD:
Được bào chế từ công nghệ phân hủy emzyme hiện đại được coi là quý nhất trong điều trị một số bệnh:
– giúp ức chế khối u, bảo vệ tế bào gan, tăng cường hoạt động não bộ trong những di chứng Tai biến mạch máu não, tăng trí nhớ và sự minh mẫn, điều hòa hoạt động thức ngủ, chống stress, tăng cường hệ thống miễn dịch qua trung gian tế bào, cải thiện tuần hoàn, chống lão hóa
Những tác dụng của Golden Valley SOD tea thể hiện rất rõ ở những người suy nhược, rối loạn chức năng cơ thể, người cao tuổi. Vì không chỉ ổn định huyết áp,Golden Valley SOD còn làm giảm mỡ máu, điều hòa đường huyết, gia tăng thể lực và trí lực, cải thiện tình trạng mất ngủ, một số rối loạn thần kinh, rối loạn sắc tố da, rụng tóc ở người cao tuổi.
-Ginkovita :
Tác dụng của Ginkovita :
1. Bồi bổ sức khỏe toàn diện, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, điều hòa quá trình trao đổi chất, giải độc tố
2. Tăng cường chức năng gan, thận, tiền liệt tuyến.
3-Suy tuần hoàn não .Rối Loạn Tuần Hoàn Não và các biểu hiện chức năng chóng mặt ,nhức đầu ,giảm trí nhớ ,giảm khả năng nhận thức .rối loạn vận động ,rối loạn cảm xúc
4-Di chứng Tai biến mạch máu não và chấn thương sọ não
5-Rối loạn thần kinh cảm giác,tuần hoàn ở mắt ,tai ,mũi ,họng
6-Hỗ trợ giúp tăng vững bền thành mạch ngoại vi ,Cải thiện hội chứng Raynaud tê lạnh và tím tái đầu chi ,bệnh động mạch chi dưới, điều hoà huyết áp
7-Phòng ngừa và làm chậm quá trình tiến triển của bệnh Alzheimer
8-Hỗ trợ điều trị bệnh gan nhiễm mỡ
Điều trị tăng cường :bô xung thêm Neurozan plus có tác dụng bổ não ,dưỡng não
Sản phẩm được nhập khẩu chính hãng và đã qua kiểm duyệt của bộ y tế .
Nhà phân phối Dược Phẩm Phú Hải : DT 0945.388.697
Phụ trách Tư vấn sản phẩm TsThienquang: ĐT :0972690610
Website chuyên nghành về Bệnh học >>>: http://thaythuocgioi.vn/
Website chuyên Thuốc và biệt dược >>>: http://thuocchuabenh.com.vn/
Trung tâm tư vấn và hỗ trợ sản phẩm : BV đa khoa TP Bắc Giang
Trung tâm Tư vân và phân phối sản phẩm Tại TP Hà Nội :Chi nhánh số 1 :Phòng khám chuyên khoa -Thạc sỹ bác sỹ Bạch Tuấn Long – Phố Bạch mai – HBT – HN
SP có bán tại các Bệnh viên và các nhà thuốc trên toàn quốc
CHUYỂN HÀNG TẬN TAY KHÁCH HÀNG TRÊN TOÀN QUỐC

Hy vọng cho người bệnh run chân tay

Run là một vận động cơ không chủ ý của một hay nhiều phần cơ thể xảy ra khi không bị tác động của môi trường, cảm xúc được coi là bệnh và cần điều trị sớm để phục hồi khả năng vận động bình thường của cơ thể.

Nguyên nhân chính gây run là sự suy giảm chức năng (tiếp nhận, xử lý, dẫn truyền thông tin) của hệ thần kinh vận động – điều tiết hoạt động của cơ xương trong các bệnh Parkinson (thoái hóa tế bào nhân xám); hội chứng Parkinson (tổn thương tế bào thần kinh do chấn thương, đột quỵ não, viêm não, thuốc và một số bệnh); rối loạn thần kinh thực vật; run vô căn hoặc lão hóa, thoái hóa não ở người cao tuổi.

Việc điều trị chứng run hiện gặp nhiều khó khăn do khó chẩn đoán chính xác nguyên nhân, đồng thời không có thuốc đặc hiệu cho mọi chứng run. Có một số ít thuốc từ hóa dược đáp ứng với điều trị như các chất dẫn truyền thần kinh trong điều trị run do bệnh Parkinson, hội chứng Parkinson. Tuy nhiên, người bệnh phải sử dụng thuốc suốt đời và việc điều trị mới dừng ở triệu chứng. Nhiều nghiên cứu cho thấy acid alpha –lipoic, l-carnitin, magiê được sử dụng trong điều trị giúp tăng cường sự nuôi dưỡng, bảo vệ tế bào thần kinh sẽ giảm quá trình thoái hóa, lão hóa và tăng cường chất lượng hoạt động của hệ thần kinh, cho kết quả khả quan.

Quan điểm của y học cổ truyền về nguyên nhân gây nên chứng run là do ảnh hưởng của tuổi tác, do can huyết và thận âm bị suy yếu. Từ đó làm cho huyết kém không nuôi dưỡng được các khớp và các mạch máu gây nên co rút, co cứng, run giật. Vì thế các bài thuốc đông y sử dụng cho chứng run, rung giật không thể thiếu câu đằng, thiên ma để trị triệu chứng. Đồng thời sự có mặt của một số vị dược liệu như hà thủ ô đỏ, câu kì tử, đinh lăng, mẫu lệ, xà sàng tử, nhục thung dung giúp bồi bổ khí huyết, tăng cường sự nuôi dưỡng hệ thần kinh, để tác động vào một phần vào nguyên nhân sinh bệnh. Kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trong điều trị chứng run để tận dụng tối đa lợi thế của hai phương pháp là xu hướng được nhiều thầy thuốc và người bệnh lựa chọn.

Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc điều trị (Ảnh do nhãn hàng Vương Lão Kiện cung cấp)

Thực phẩm chức năng Vương Lão Kiện chứa các thảo dược câu đằng, thiên ma, hà thủ ô đỏ, câu kì tử, đinh lăng, mẫu lệ, xà sàng tử, nhục thung dung và các hoạt chất acid alpha -lipoic, l-carnitin, magiê. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa y học cổ truyền và y học hiện đại với ưu điểm nổi bật là giúp giảm dần các chứng run do mọi nguyên nhân như: run do bệnh Parkinson, hội chứng Parkinson, run sau tai biến mạch não, run ở người cao tuổi, rối loạn thần kinh thực vật,… đồng thời giúp tăng cường sức khỏe toàn trạng và phục hồi khả năng vận động bình thường của cơ thể. Sản phẩm an toàn, thích hợp để sử dụng lâu dài. Đây là hy vọng mới cho những người không may mắc bệnh cũng như những người có nguy cơ cao bị chứng run.

Ds. Lê Việt Ánh

Tư vấn: 0906.268.403 – 04.3775.9866

Website: dongtay.net.vn

Phân biệt cảm cúm nặng, nhẹ để biết cách phòng tránh

Khi trời bắt đầu trở lạnh cũng chính là lúc các virus cảm cúm có cơ hội phát triển. Không có ít người vẫn chỉ nghĩ cảm cúm là một bệnh xoàng, chỉ cần dùng vài viên thuốc trị cảm là giải quyết xong vấn đề. Song, sự thật về cảm cúm không đơn giản như thế.

Một trong những nội dung tập huấn quan trọng của chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng “Bác sĩ tại gia” là phân biệt cảm cúng nặng và nhẹ, vì nó có những triệu chứng tương tự nhau nên rất dễ gây nhầm lẫn. Chương trình đã lần lượt diễn ra tại 13 tỉnh thành phố trong cả nước.

Theo các chuyên gia tư vấn của chương trình, nếu cảm nhẹ (hay còn gọi là cảm lạnh), cơ thể sẽ có 3 triệu chứng thường gặp nhất là: hắt hơi, sổ mũi (hoặc nghẹt mũi), đau đầu và có thể kèm sốt nhẹ hoặc nhức mình mẩy… Nguyên nhân gây ra cảm nhẹ là do cơ thể có sức đề kháng kém nên sẽ dễ bị nhiễm các siêu vi trùng có trong không khí trong mùa cảm cúm. Bạn cần hạn chế tiếp xúc với người bệnh và rửa tay đúng cách để tránh bị lây nhiễm.

(Ảnh được cung cấp bởi nhãn hàng Panadol Extra)

Trong khi đó, người bị cảm nặng (cảm cúm) sẽ có 6 triệu chứng thường gặp nhất là: sốt cao kèm đau nhức mệt mỏi toàn thân, ho, đau họng, hắt hơi, nghẹt mũi, sổ mũi. Nguyên nhân gây bệnh do virus cúm truyền từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp, hơi thở, nước mũi. Khi xác định bị cảm cúm nặng, người bệnh nên hạn chế tiếp xúc với người khác để tránh lây nhiễm.

Lý do cần phải lưu ý 2 loại cảm nhẹ và nặng là vì thuốc cảm là thuốc không kê toa nên đang có tình trạng: người muốn mua cứ mua, người bán cứ bán. Cả 2 đối tượng đều bỏ qua giai đoạn tìm hiểu và gọi tên bệnh cho đúng để dùng đúng thuốc và điều trị cho hiệu quả. Nếu người cảm nhẹ mà dùng các loại thuốc trị cảm liều mạnh rất dễ dẫn đến tình trạng ngà ngật, buồn ngủ thiếu tỉnh táo ảnh hưởng đến công việc sinh hoạt hằng ngày. Ngược lại, người bị cảm nặng nhưng lại dùng thuốc điều trị cảm nhẹ sẽ không dứt được bệnh làm cho bệnh kéo dài lâu ngày dễ dẫn đến bội nhiễm, thậm chí viêm phổi rất nguy hiểm.

“Bác sỹ tại gia” là chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng do Hội liên hiệp Phụ nữ ViệtNamkhởi xướng và được tài trợ bởi công ty GlaxoSmithKline – nhãn hàng Thuốc Panadol cảm cúm Extra.

Nội dung lớp tập huấn nêu ra thông điệp rất đơn giản giữa cảm nhẹ và cảm nặng khi dùng các con số 3, 6 để phân biệt triệu chứng cảm cúm nhẹ và cảm cúm nặng. Thông điệp khẳng định dùng thuốc 3 thành phần trị cảm nhẹ và 6 thành phần  trị cảm nặng. Việc này cũng giúp ích cho các chị em xử lý bệnh cảm ngay tại nhà trước khi phải đến các cơ sở y tế tuyến trên.

 

Rụng tóc – Dùng thuốc gì?

Rụng tóc là một triệu chứng khá phổ biến mà bất kỳ người nào gặp phải cũng lo lắng. Tuy nhiên hiện nay, các nhà khoa học đã chứng minh có thể thúc đẩy quá trình mọc lại tóc nhờ vào thuốc.

Finasteride và minoxidil là hai loại thuốc có thể điều trị khỏi được vài hình thức rụng tóc. Cả hai loại thuốc này đều gây tác động đến chu trình mọc tóc và gia tăng chiều dài cũng như đường kính của sợi tóc nhưng với cơ chế khác nhau. Có hai hình thức rụng tóc khá phổ biến là Androgenetic alopecia (rụng tóc do nội tiết tố nam) và Alopecia areata (rụng tóc từng mảng). Cả hai hình thức rụng tóc này đều quan hệ đến sự biến đổi có thể phục hồi được của chu trình mọc tóc.

Rụng tóc thể Androgenetic alopecia

Là một tình trạng rụng tóc có tính di truyền do nội tiết tố nam gây ra và cả hai giới nam – nữ đều có thể mắc phải. Tình trạng này có thể được hiểu là rụng tóc hay hói đầu ở nam giới và rụng tóc ở nữ giới. Tóc thường rụng và thưa dần ở lứa tuổi từ 12 – 40 ở cả hai giới và khoảng 50% dân số có biểu hiện này trước 50 tuổi.

Mục đích của việc điều trị là làm tăng lượng tóc bao phủ da đầu và làm chậm lại sự rụng tóc. Finasteride uống và dung dịch minoxidil 2 – 5% xịt tại chỗ là phương pháp điều trị Androgenetic alopecia phổ biến hiện nay. Cả hai loại thuốc đều có tác dụng làm gia tăng lượng tóc bao phủ da đầu và chậm lại sự rụng tóc. Tuy nhiên, cả hai đều không thể phục hồi được toàn bộ lượng tóc và không phải mọi người được áp dụng đều có đáp ứng giống nhau. Thời gian điều trị cần thiết phải từ 6 – 12 tháng mới có thể cải thiện được sự mọc tóc. Việc điều trị liên tục rất cần thiết để duy trì kết quả. Nếu ngưng điều trị, tóc có thể bị rụng lại sau 6 – 12 tháng và tình trạng sẽ trở lại giống như lúc ban đầu chưa điều trị.

Ảnh minh họa (nguồn Internet).

Hiện nay, chưa có loại thuốc nào có thể điều trị hữu hiệu cho người hói đầu hoàn toàn hay người rụng không còn sợi tóc nào ở hai bên thái dương.

Finasteride được dùng an toàn và hấp thu rất tốt. Thời gian điều trị kéo dài từ 1 – 2 năm. Tác dụng phụ thường xảy ra là các rối loạn về tình dục như: giảm ham muốn, rối loạn cương dương, không xuất tinh… Các rối loạn này sẽ mất dần khi điều trị kéo dài hay biến mất hoàn toàn khi ngưng điều trị.

Minoxidil kích thích sự mọc tóc khi bị rụng tóc do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có Androgenetic alopecia. Nó có tác dụng kéo dài giai đoạn tăng trưởng và làm trưởng thành các nang tóc chín non vì bất cứ nguyên nhân nào. Khi được dùng để điều trị Androgenetic alopecia, minoxidil có thể giúp cho tóc mọc ở những bệnh nhân bị rụng tóc từng vùng, chứng thiếu lông – tóc bẩm sinh, hội chứng kém phát triển. Thuốc có tác dụng làm giãn mạch, vốn từng được dùng để điều trị tăng huyết áp và sau đó người ta phát hiện thêm đặc tính kích thích sự mọc tóc mà cơ chế tác dụng vẫn còn chưa rõ nhưng dường như độc lập với việc giãn mạch.

Minoxidil có thể được dùng tại chỗ với các nồng độ 2% và 5%, xịt 2 lần mỗi ngày. Tác dụng phụ chủ yếu ở ngoài da như: khô da, ngứa, đỏ da – tróc vẩy nhẹ… Minoxidil cũng có thể gây viêm da tiếp xúc dị ứng hay viêm da tiếp xúc dị ứng với ánh sáng. Tình trạng rậm lông tóc cũng có thể xảy ra cho nữ giới khi dùng minoxidil nhưng hiếm gặp ở phái nam.

Minoxidil 2% hay 5% đều có thể gây xáo trộn nhịp tim, huyết áp tâm thu cũng như tâm trương với liều dùng 2 lần mỗi ngày nhất là đối với dung dịch 5%.

Đối với nữ giới cũng bị rụng tóc kiểu Androgenetic nhưng thường được che phủ bởi các kiểu tóc dài. Tóc rụng ở nữ có tính cách lan tỏa khắp da đầu nhưng thường gặp ở vùng trán hay hai bên thái dương. Minoxidil hiện vẫn là thuốc điều trị tại chỗ thích hợp nhất cho phái nữ bị rụng tóc kiểu này. Dung dịch minoxidil được dùng xịt tại chỗ 2 lần mỗi ngày. Các hình thức tác dụng phụ của thuốc cũng xảy ra tương tự như ở nam giới nhưng tình trạng mọc nhiều lông có thể xuất hiện nhiều hơn ở 3-5% bệnh nhân nữ dùng minoxidil. Vị trí mọc nhiều lông thường xảy ra ở chân mày, hai bên gò má và đôi khi có ở cằm, môi trên. Tác dụng gây rậm lông này sẽ giảm hay biến mất sau khoảng 1 năm, ngay cả khi vẫn tiếp tục dùng minoxidil.

Finasteride không được dùng cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai hay có thể mang thai vì việc ức chế 5 alpha- reductase có thể gây dị dạng cho lá phôi ngoài của phôi thai nam.

Nang có tóc và nang không tóc.

Rụng tóc thể Alopecia areata

Rụng tóc từng mảng là một bệnh tự miễn khá phổ biến. Tóc rụng thành từng đốm tròn, nhỏ lốm đốm trên da đầu và có thể xâm lấn toàn bộ da đầu gây rụng tóc toàn thể. Bệnh này có thể xảy ra cho cả hai giới nam – nữ và ở tất cả mọi lứa tuổi. Bệnh có thể giảm tự nhiên và thường hay tái phát. Các bệnh nhân này đa số khỏe mạnh nhưng thường bị bạch biến hay các bệnh về tuyến giáp nhiều hơn người khác.

Bệnh nhân bị Alopecia areata được điều trị đồng thời giữa sự điều hoà hệ miễn dịch với glucocorticoides, điều trị miễn dịch tại chỗ, anthralin hay minoxidil. Các điều trị này kích thích sự mọc tóc nhưng không ngăn ngừa rụng tóc và gần như không ảnh hưởng đến tiến trình bệnh lý. Việc điều trị được tiếp tục cho đến khi nào bệnh giảm và các đốm rụng tóc có tóc mọc lại đầy đủ, có thể kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm. Việc chọn lựa cách điều trị tùy thuộc vào tuổi bệnh nhân và mức độ trầm trọng của sự rụng tóc. Sự điều trị có hiệu quả tốt nhất ở các trường hợp rụng tóc vừa phải và không có hiệu quả trong các trường hợp rụng tóc hoàn toàn. Các nang tóc không bị phá hủy ở các bệnh nhân bị Alopecia areata và khả năng mọc tóc lại vẫn còn duy trì.

(Theo SK&ĐS)

Thuốc điều trị viêm da cơ địa

Viêm da cơ địa là một bệnh thường gặp. Bệnh được biểu hiện với nhiều hình thể lâm sàng khác nhau. Lứa tuổi nào cũng có thể mắc bệnh viêm da cơ địa.

Một số hình thái của viêm da cơ địa căn cứ trên lâm sàng chia làm 3 giai đoạn với các thuốc điều trị khác nhau:

Giai đoạn cấp tính: Tổn thương da là các mụn nước, sẩn, tiết dịch nhiều làm tổn thương luôn ẩm ướt, có chỗ chảy nước, có chỗ đóng vảy tiết vàng, nền da ở dưới phù nề, đỏ. Đôi khi có thể kèm theo mụn mủ do nhiễm trùng bồi phụ.

Giai đoạn bán cấp: Tổn thương da khô hơn với các sẩn nổi cao hơn mặt da, sắp xếp thành đám trên nền da đỏ, phù nề nhẹ. Có thể kèm theo nhiều vết xước, tiết dịch do bệnh nhân gãi.

Giai đoạn mạn tính: Tổn thương da hoàn toàn khô với các biểu hiện là một đám dày da, sần sùi, nền da thâm đen hoặc đỏ thẫm. Trên một mảng sẩn dày sừng có các khía lõm xuống trông như hằn cổ trâu do mắc bệnh lâu ngày kèm theo bệnh nhân chà xát, gãi nhiều. Có thể kết hợp biểu hiện da bàn tay, bàn chân bị khô, bong da, dày sừng, nứt nẻ kiểu á sừng.

Thuốc điều trị viêm da cơ địa, Da liễu, Sức khỏe đời sống, suc khoe, viem da co dia, thuoc, da lieu, nhiem trung

Thuốc điều trị:

Các thuốc điều trị phải phù hợp với từng giai đoạn bệnh.

Giai đoạn cấp tính: Không nên bôi các thuốc dạng mỡ vì sẽ làm da tấy thêm. Trong giai đoạn cấp tính sử dụng các thuốc dung dịch có tác dụng hút dịch làm khô tổn thương như jarish, dalibour, nước muối sinh lý… Nếu chảy nước nhiều thì thấm đẫm một trong các dung dịch trên vào gạc gấp 4 lớp, đắp ướt liên tục trong 10 phút, làm 2 – 3 lần/ngày. Đắp như vậy trong 3 ngày đầu để tổn thương da khô hơn. Sau đó bôi các thuốc dạng kem lên. Nên sử dụng các thuốc dạng kem chứa corticoid kết hợp với kháng sinh như fucicort, gentrison, caditrigel… Bôi ngày 2 lần trong 2 – 3 tuần.

Giai đoạn bán cấp: Vài ngày đầu có thể bôi các loại thuốc như hồ nước, hồ tetrapred để làm dịu da, mềm da. Bôi ngày 2 lần. Vài ngày sau bôi các thuốc dạng kem giống như ở giai đoạn cấp tính.

Giai đoạn mạn tính: Ta có thể sử dụng các loại thuốc bôi dạng kem hoặc mỡ như diproson, temproson, betacylic. Bôi ngày 2 lần trong 2 – 3 tuần. Nếu da dày sừng nhiều thì có thể bôi thêm mỡ salicylic 5%. Da khô bong vảy thì bôi thêm các loại kem làm mềm da, ẩm da như cream vitamin E, baby care, lacticare…

Trong khi bôi thuốc không được gãi, không cạo, không chà xát trước khi bôi. Không xát xà phòng vào chỗ da bị viêm.

Nếu tổn thương da có dấu hiệu nhiễm trùng bồi phụ thì phải điều trị kháng sinh như cephalexin, cefixim hoặc clarithromycin trong 5-10 ngày theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa da liễu.

Nếu bệnh nhân ngứa nhiều thì uống một trong các thuốc kháng histamin như loratadin, fexofenadin. Ngày uống 1 lần trong 10 – 20 ngày.

Chăm sóc da: Tắm hoặc rửa ngày 1 lần, không chà mạnh, không dùng đá kỳ hoặc bàn chải. Có thể tắm bằng nước chanh hoà loãng, lá kinh giới vò nát hoặc các loại sữa tắm cho da bị viêm như safforel, cetaphil…

Theo TS. Nguyễn Thị Lai (Sức khỏe & Đời sống)