Lưu trữ cho từ khóa: đại táo

Thực phẩm giúp tóc khỏe bóng mượt

Y học cổ truyền cho rằng tóc là phần thừa của huyết (phát vi huyết dư). Những người đầy đủ huyết dịch, tóc sẽ khỏe, đen mượt, không bị gãy, rụng hoặc bạc sớm. Trái lại, khi bị huyết hư (thiếu máu), sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và khỏe mạnh của đầu tóc.

Bình thường, người trẻ tuổi khí huyết đầy đủ sẽ có mái tóc xanh tốt, mềm mại. Khi đến tuổi già, hoạt động của tạng can và thận suy yếu, đầu tóc trở nên bạc trắng, dễ rụng. Nếu tuổi chưa cao mà tóc rụng nhiều và bạc sớm, cần phải bổ can, bổ thận, dưỡng huyết, để nuôi tóc khỏe trở lại.

Để có huyết dịch, cần duy trì chế độ ăn uống đầy đủ, cân đối và hợp lý các chất dinh dưỡng. Cần lưu ý sử dụng các thực phẩm giàu chất đạm, dễ tiêu hóa, dùng dầu thực vật, ngũ cốc, các loại đậu hạt, rau, củ, quả, hoa để bồi dưỡng cơ thể. Các loại thực phẩm giàu vitamin A, vitamin C, các vitamin nhóm B (B1, B2, B6, B9, B12), nhiều sắt, kẽm, selenium… rất cần cho việc thúc đẩy quá trình mọc tóc, làm giảm tình trạng tóc gãy, tóc rụng và bạc tóc sớm.

Những món ăn có ích cho tóc đều được chế biến từ những thực phẩm (hoặc hương liệu) có tác dụng bổ can, bổ thận, dưỡng huyết, bổ huyết, như nấm đông cô (nấm hương), nấm mèo (mộc nhĩ đen), đại táo, mè đen, gạo lứt, đậu đen, tóc tiên, cải bó xôi, súp lơ xanh, rau cần, bí đỏ, giá đậu, cà rốt, cà chua, xà lách xoong, rau dền đỏ, hành tây, trái bơ, kiwi, dâu tây, dưa hấu, đu đủ chín, mít, long nhãn, vải, sữa tươi… Ngoài ra còn có hải sâm, cá rô, cá trê, cá lóc, cá trắm,  lươn, cá chạch, rùa, ba ba, thịt bò, thịt gà, trứng gà, trứng cút, lộc nhung, yến sào, hà thủ ô, câu kỷ tử, khoai mài, đương qui, hồ đào nhục (quả óc chó), tang thầm (quả dâu tằm)…

Vài món ăn có lợi cho sức khỏe của tóc

– Canh thịt heo, mè đen

Nguyên liệu: Thịt nạc lợn 250g, mè đen 60g, bạch phục linh 40g, cúc hoa 10g.

Cách làm: Thịt làm sạch, ướp gia vị. Cúc hoa rửa sạch, để ráo. Nấu mè đen + phục linh khoảng 30 phút, cho cúc hoa và thịt vào. Nấu tiếp cho chín, nêm gia vị vừa ăn. Dùng trong bữa cơm.

Mè đencó thể chế biến thành các món ăn tốt cho tóc.
Mè đen có thể chế biến thành các món ăn tốt cho tóc. Ảnh: twoday

– Chè mè đen, khoai mài

Nguyên liệu: Mè đen 30g, khoai mài (hoài sơn) 30g, đường phèn 15g.

Cách làm: Mè đen rang thơm, xay thành bột, khoai mài rang khô, tán thành bột, trộn hai thứ bột vào nhau.

Nấu bột với 500ml nước, dùng lửa lớn nấu sôi, nêm tí đường phèn, khuấy đều, nấu thêm chừng 5 phút là được.

Cách dùng: Một ngày ăn một lần.

– Thịt gà chưng rau bó xôi

Nguyên liệu: Thịt gà 100-150g, rau bó xôi 80-120g, gia vị các loại.

Cách làm: Thịt gà rửa sạch, cắt miếng nhỏ, nêm gia vị vừa ăn. Đem chưng cách thủy. Rau bó xôi rửa sạch, cắt nhỏ.

Khi thịt gà chín mềm, cho rau bó xôi vào, chưng tiếp 20-30 phút. Dùng ăn khi đói bụng.

– Cá trê hầm đậu đen

Nguyên liệu: Cá trê 250g, đậu đen 150g, gia vị các loại.

Cách làm: Cá trê làm sạch. Nấu đậu đen với lượng nước vừa đủ, sôi liu riu khoảng 1 giờ cho chín mềm. Cho cá trê vào nấu tiếp 20 phút. Nêm gia vị vừa ăn. Dùng ăn trong bữa cơm.

– Cháo hà thủ ô

Nguyên liệu: Hà thủ ô 25g, đại táo 4 trái, gạo tẻ 100g.

Cách làm: Nấu hà thủ ô rửa sạch, ngâm mềm, nấu với 1 lít nước, sắc còn 500ml, lọc lấy nước. Dùng nước sắc này để nấu với gạo tẻ + đại táo thành cháo nhừ. Thêm ít đường phèn, đánh tan. Dùng ăn vào lúc đói bụng.

– Cháo gạo lứt, hà thủ ô, táo đỏ

Nguyên liệu: Gạo lứt 80g, hà thủ ô 25g, táo đỏ 5 trái.

Cách làm: Hà thủ ô rửa sạch, rang khô, tán thành bột. Táo đỏ rửa sạch bỏ hột. Cho ba thứ vào nồi nấu thành cháo. Lúc đầu nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm 40 phút là được.

Cách dùng: Ăn mỗi ngày một lần.

– Bắp bò hầm hà thủ ô

Nguyên liệu: Bắp bò 200g, hà thủ ô 30g, mè đen 30g, đại táo 6 quả, gừng sống 2 lát.

Cách làm: Nấu ½ lít nước trong nồi đất cho thật sôi, cho bắp bò + hà thủ ô + đại táo + gừng vào hầm cho chín nhừ (khoảng 2 giờ).

Cho mè đen (rang chín, giã mịn) vào, nầu thêm 15-20 phút, vớt bắp bò ra, xắt lát mỏng, cho vào tô, múc nước hầm tưới lên bắp bò. Dùng ăn nóng trong bữa cơm.

Người bị tiêu chảy không nên dùng món này.

– Trứng cút nấu long nhãn

Nguyên liệu: Trứng chim cút 6-8 cái, long nhãn nhục 15g tươi hoặc 8g khô.

Cách làm: Cho 2 thứ vào nồi với 300ml nước, nấu sôi khoảng 10 phút, dùng ăn vào lúc đói bụng.

– Cần tây xào câu kỷ

Nguyên liệu: Rau cần tây 100g, câu kỷ 12g, thịt lợn nạc 150g, nấm hương 30g, gừng 3g, hành 10g, nước tương (xì dầu) một ít, tỏi 10g, dầu lượng thích hợp.

Cách làm: Rau cần rửa sạch, cắt khúc, đậu hủ cắt miếng; câu kỷ rửa sạch; thịt cắt miếng, nấm hương ngâm nước cho mềm, bỏ rễ, cắt nhỏ; gừng cắt lát; hành cắt khúc; tỏi cắt lát.

Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào khử cho thơm, rồi cho tất cả các thứ vào xào chín là được.

Cách dùng: Mỗi ngày ăn một lần, dùng vào lúc bụng đói.

– Củ sen, đậu đỏ hầm thăn bò

Nguyên liệu: Củ sen 600g, đậu đỏ 150g, vỏ quýt 1 miếng 6 x 6cm, thịt thăn bò 300g, muối bột.

Cách làm: Củ sen rửa sạch, gọt bỏ vỏ, xắt từng miếng dày 2cm, dùng sống dao chần nhẹ, để ráo. Thăn bò rửa sạch, để ráo. Đậu đỏ, vỏ quýt rửa sạch, để sẵn.

Cho vào nồi đất ½ lít nước. Nấu nước thật sôi, cho củ sen, đậu đỏ, vỏ quýt, thăn bò vào. Nấu sôi lại rồi để lửa nhỏ đủ cho nước trong nồi sôi nhẹ là được. Đậy kín nắp nồi, hầm các thứ khoảng 3 giờ thì nêm ít muối vừa miệng, khi thịt chín mềm thì nhấc xuống. Múc ra tô, dùng ăn nóng trong bữa cơm..                         

Lương y Đinh Công Bảy
Tổng Thư ký Hội Dược liệu TP HCM

Dược thiện trị mất ngủ

Mất ngủ là một chứng bệnh hay gặp chiếm khoảng 48% dân số, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, công việc hằng ngày. Mất ngủ do rất nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do áp lực công việc, do mắc các bệnh mạn tính, hoặc các biểu hiện của rối loạn tâm thần, trầm cảm… Nữ bị mất ngủ nhiều hơn nam nhất là ở tuổi tiền mãn kinh, tuổi càng lớn càng dễ bị mất ngủ.

Theo y học cổ truyền, mất ngủ thuộc phạm vi các chứng “bất đắc miên”, “bất đắc ngọa”, “bất mị”; nguyên nhân do âm hư, huyết ứ, dinh vệ khí huyết bất hòa, âm dương thất điều, có liên quan đến các tạng tâm, tỳ, can, đởm, thận. Y học cổ truyền có nhiều biện pháp điều trị chứng mất ngủ bao gồm dược pháp, ẩm thực liệu pháp và phương pháp không dùng thuốc như châm cứu, tâm lý liệu pháp, dưỡng sinh, xoa bóp, ấn huyệt… có hiệu quả, không gây tác dụng phụ cho gan, thận, đặc biệt không gây hiện tượng lệ thuộc thuốc. Dưới đây xin giới thiệu một số món ăn, nước uống chữa mất ngủ.

Canh thiên ma thịt gà.

Món ăn chữa mất ngủ

Bài 1: Canh tim lợn: tim lợn 1 cái, bổ đôi rửa sạch cho vào nồi đun cùng 15g toan táo nhân, 15g phục linh, 5g viễn chí. Đun to lửa đến khi sôi, vớt bỏ bọt rồi vặn nhỏ lửa đun tới khi chín là dùng được. Món ăn có tác dụng bổ huyết, dưỡng tâm, ích can, định thần, điều trị chứng tâm can huyết hư dẫn đến tâm quý, không yên, mất ngủ, ngủ mê nhiều, trí nhớ giảm sút…

Bài 2: Canh long nhãn, liên tử: long nhãn 20g, liên tử 30g, bột ngó sen 50g. Rửa sạch liên tử đun chín rồi thêm long nhãn đun nhỏ lửa cho tới khi liên tử chín nhuyễn thì cho bột ngó sen đã hòa với nước lạnh vào quấy đều cho tới sôi là được. Tác dụng: dưỡng tâm, kiện tỳ, ích khí huyết, an thần. Thích hợp với những bệnh nhân tâm tỳ hư, suy nhược thần kinh, ngày dùng 2 lần sáng, chiều.

Bài 3: Cơm canh thiên ma: thiên ma 5g, thịt gà 25g, măng tây, cà rốt 50g, nấm hương, khoai sọ, gia vị vừa đủ. Ngâm thiên ma khoảng 1 giờ cho mềm, thái nhỏ ninh nhừ, thêm thịt gà băm nhỏ, cà rốt, măng tây, nấm hương, khoai sọ thái con chì cho vào ninh chín thêm gia vị là được, ăn cùng cơm ngày 1 lần. Món ăn có tác dụng: kiện não, cường thân, trấn kinh, an thần, phù hợp với các chứng hay đau đầu, hoa mắt, ngủ ít, hay mê, hay quên.

Bài 4: Long nhãn 30g, liên tử 50g, thịt nạc 200g, gia vị vừa đủ nấu canh ăn.

Các loại nước uống tốt cho người bị mất ngủ

– Trà tam thất: hoa tam thất pha trà uống có tác dụng trấn kinh, an thần, phù hợp với bệnh nhân tăng huyết áp gây đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, đặc biệt ở phụ nữ tiền mãn kinh.

– Trà tây dương sâm, linh chi: linh chi 15g, tây dương sâm 3g pha trà uống.

– Long nhãn, táo nhân mỗi thứ 10g, ngũ vị tử 5g, đại táo 10 quả, sắc lấy nước uống.

– Lộc giác phiến 1g, tây dương sâm 3g, ngũ vị tử 5g, sắc nước uống.

– Ngũ vị tử, linh chi 10g, tây dương sâm 5g, đại táo 5 quả, sắc nước uống

– Ngũ vị tử 10g, long nhãn 10g, hợp hoan bì 5g, toan táo nhân 5g, sắc nước uống.

– Long nhãn 200g, đào nhân 100g, tây dương sâm 10g, đại táo nhục 200g, mật ong 10g. Tất cả sắc đặc nấu cao, mỗi ngày dùng 1 – 2 thìa canh.

– Bách hợp 30g, long nhãn 15g, tây dương sâm 5g, đại táo 10 quả; sắc nước uống ngày 2 lần.

– Liên tử 50g, bách hợp 10g, toan táo nhân 5g, sắc nước uống.

Người bị mất ngủ nên lưu ý:

– Thiết lập tính tự tin, không nên quá căng thẳng, quá kích động trước các vấn đề.

– Thư giãn, vứt bỏ mọi ưu phiền, buồn bực trước khi đi ngủ.

– Tự tìm các phương pháp phù hợp chiến thắng sự mất ngủ như: đếm số, ngâm chân nước nóng trước khi đi ngủ.

– Hãy cho rằng mất ngủ không phải là bệnh nghiêm trọng, một ngày hay vài ngày ngủ vài tiếng không có gì đáng ngại.

– Thông thường sau khi điều trị được căn nguyên, tâm lý và cơ thể được thư giãn thì chứng mất ngủ cũng sẽ hồi phục.

TS. Nguyễn Thị Tâm Thuận

Meo.vn (Theo SK&ĐS)

Trị lạnh tay chân bằng thuốc nam

Khi thời tiết chuyển lạnh, nhiều người có cảm giác bàn chân, bàn tay luôn lạnh cóng, buốt giá, tay chân đỏ tấy hoặc trắng bệch, đau nhức… mặc dù đã mặc ấm, đi tất.  Cảm giác này thường gặp nhiều ở phụ nữ, người cao tuổi, người ăn uống kiêng khem, thiếu dinh dưỡng, sức đề kháng kém.  Đông y cho rằng chân tay lạnh là do thận dương suy yếu, do tỳ hư. Để chữa trị bệnh này cần phải bổ thận dương, bổ tỳ dương, điều hòa thân nhiệt.

Xin giới thiệu một số bài thuốc nam điều trị chứng bệnh này, bạn đọc có thể tham khảo áp dụng khi cần.

Lạnh tay chân do thận dương suy yếu: Biểu hiện lạnh tay chân, đau lưng mỏi gối, da xanh, sức yếu, ăn uống kém, hay bị hoa mắt chóng mặt. Nếu là nam giới dễ bị tảo tiết, ngủ mơ, tim hồi hộp. Phép trị là ôn bổ thận dương. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: Phá cố chỉ 6g, nhục thung dung 10g, ngũ gia bì 16g, sơn thù 12g, tần giao 12g, hoàng kỳ 12g, mẫu lệ chế 16g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g, đại táo 3 quả, ngải diệp 12g, trần bì 10g, cam thảo 10g, quế 10g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Cây và củ đinh lăng.

Bài 2:

Thục địa (sao khô) 12g, đậu đen (sao thơm) 16g, ngũ gia bì 16g, cẩu tích 12g, ngải diệp 16g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g, khởi tử 12g, thỏ ty tử 12g, phá cố chỉ 10g, quế 8g, thiên niên kiện 10g, trần bì 10g, đại táo 3 quả, sinh khương 4g, phòng sâm 12g, cam thảo 12g, ngũ vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Bài 3: Phòng sâm 12g, đương quy 12g, thục địa 10g, liên nhục 12g, tơ hồng xanh 16g, cẩu tích 16g, phụ tử 6g, sinh khương 4g, ngải diệp (khô) 12g, tần giao 12g, tế tân 10g, dâm dương hoắc 10g, trạch tả 12g, sơn thù 16g, tất bát 12g, lương khương 10g, chích thảo 12g, hoàng kỳ 10g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. 10 – 13 ngày một liệu trình.

Lạnh tay chân do tỳ hư: Biểu hiện chân tay lạnh, dày da bụng, da xanh, môi nhợt, bụng đau âm ỉ, thỉnh thoảng sôi bụng, phân lỏng, ăn uống kém, chân tay yếu mềm. Phép trị là ôn bổ tỳ dương. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: Bạch truật (sao hoàng thổ) 16g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g, trần bì 12g, đại táo 6 quả, củ đinh lăng 16g, ngũ gia bì 12g, quế 8g, sa nhân 10g, hoàng kỳ (sao mật) 12g, sinh khương 4g, chích thảo 12g, đương quy 12g, hậu phác 10g, thần khúc 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Bài 2: Cao lương khương 12g, ngũ gia bì 12g, ngải diệp 10g, bạch truật 16g, đương quy 12g, hậu phác 10g, sinh khương 6g, phòng sâm 16g, hà thủ ô 16g, rễ đinh lăng 16g, cây ngấy hương 16g, trần bì 10g, thần khúc 10g, chích thảo 12g, quế 8g, đại táo 6 quả. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Lương y Trịnh Văn Sỹ

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)

Các phương pháp trị béo phì

Theo y học cổ truyền, béo phì thuộc phạm trù Phì nhân, Nhục nhân và tùy theo từng thể để áp dụng phương pháp điều trị thích hợp.


Hóa thấp pháp: do tỳ hư vận hóa không tốt làm cho thấp tụ lại mà gây béo phì, biểu hiện người mệt mỏi, ăn uống không ngon, tâm ngực đầy tức, rêu lưỡi bẩn, mạch trầm tế.
Bài thuốc: Phòng kỷ hoàng kỳ thang gia giảm. Phòng kỷ 10g, hoàng kỳ 15g, bạch truật 12g, cam thảo 8g, sinh khương 6g, đại táo 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Khứ đàm pháp: do đàm trọc gây béo phì, biểu hiện các chứng khí hư, ngực đầy tức, đầu nặng, thích ngủ ngại vận động, chất lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng bẩn, mạch hoạt.

Bài thuốc: Ôn đởm thang gia giảm. Bán hạ 10g, trúc nhự 8g, chỉ thực 12g, quất bì 10g, phục linh 12g, sinh khương 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Lợi thủy pháp: hay gặp ở những người béo bệu, mặt phù chân phù, tiểu tiện ít, bụng chướng, đại tiện nát, mạch trầm tế.

Bài thuốc: Đạo thủy phục linh thang gia giảm. Xích linh 10g, mạch môn đông 12g, trạch tả 10g, bạch truật 12g, tang bạch bì 10g, tử tô 6g, binh lang 8g, mộc qua 10g, đại phúc bì 8g, trần bì 8g, sa nhân 8g, mộc hương 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thông phủ pháp: thường gặp ở những người béo phì do ăn nhiều đồ béo ngọt, uống rượu nhiều, đại tiện bí kết, đàm trọc tích tụ, phủ khí không thông mà kèm theo có bụng trướng, tức ngực khó chịu, rêu lưỡi vàng dày, mạch thực.

Bài thuốc: Phòng phong thông thánh tán gia giảm. Phòng phong 8g, kinh giới 6g, bạc hà 8g, liên kiều 8g, cát cánh 12g, xuyên khung 10g, đương quy 12g, bạch thược 10g, bạch truật 12g, chi tử 8g, đại hoàng 8g, mang tiêu 8g, thạch cao 15g, hoàng cầm 12g, hoạt thạch 20g, cam thảo 8g, ma hoàng 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Sơ lợi pháp: người béo phì kiêm có can uất khí trệ hoặc huyết ứ; lâm sàng biểu hiện đau mạng sườn, cấp táo, huyễn vựng, mệt mỏi, bụng trướng, miệng đắng phiền muộn, phụ nữ kinh nguyệt không đều, kinh bế hoặc trước kỳ kinh nhũ phòng trướng đau, rêu lưỡi vàng, mạch huyền.

Bài thuốc: Đại sài hồ thang gia giảm. Sài hồ 15g, hoàng cầm 9g, đại hoàng 6g, chỉ thực 9g, xích thược 9g, bán hạ 9g, sinh khương 12g, đại táo 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Kiện tỳ pháp: thường có biểu hiện của tỳ hư khí nhược, người mệt mỏi không có lực, đoản khí ngại nói, ăn uống kém, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhạt, mạch tế nhược vô lực.

Bài thuốc: Dị công tán gia giảm. Đảng sâm 15g, bạch truật 12g, phục linh 10g, cam thảo 8g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Tiêu đạo pháp: gặp ở những người ăn ít mà vẫn béo phì, mệt mỏi ngại vận động, sau ăn bụng trướng đầy khó tiêu, rêu lưỡi trắng.

Bài thuốc: Bảo hòa hoàn gia giảm. Sơn tra 20g, thần khúc 12g, mạch nha 10g, bán hạ 10g,    phục linh 10g, trần bì 8g, liên kiều 8g, lai phục tử 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ôn dương: bệnh lâu ngày, tuổi cao, lâm sàng biểu hiện: sợ lạnh, lưng gối đau mỏi, tứ chi phù nặng, thường hay gặp ở người do thận dương hư.

Bài thuốc: Tế sinh thận khí hoàn gia giảm. Phụ tử chế 9g, nhục quế 8g, thục địa 15g, sơn dược 12g, sơn thù du 10g, mẫu đan bì 10g,  trạch tả 12g, trư linh 12g, ngưu tất 15g, xa tiền tử 10g, ba kích 12g, thỏ ty tử 10g, tang ký sinh 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Dưỡng âm: do âm dịch không đủ, âm hư sinh nội nhiệt, thường có biểu hiện trên lâm sàng: đau đầu, váng đầu, lưng gối đau mỏi, hai gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng, mạch tế sác hoặc vi huyền.

Bài thuốc: Tri bá địa hoàng hoàn gia giảm. Tri mẫu 10g, hoàng bá 8g, sơn dược 12g, sơn thù du 10g, thục địa 15g, mẫu đan bì 8g, phục linh 10g, trạch tả 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Béo phì thường phát sinh với tăng huyết áp, mỡ máu cao, bệnh mạch vành… do đó càng làm nhanh quá trình lão hóa và tử vong.    

TS. Trần Xuân Nguyên – Trung ương Hội Đông y Việt Nam

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)

Trị chứng vẹo cổ bằng đông y

Hàng ngày, chúng ta rất hay gặp những người mà khi gọi, họ thường phải quay cả người lại, chứ không thể ngoái cổ sau xem ai gọi phía sau.

Y học cổ truyền gọi bệnh này là lạc chẩm, là một loại bệnh thường gặp làm khó chịu khi chuyển động cổ.

Triệu chứng chính:

Bệnh vẹo cổ khi ngủ dậy thường là do tư thế lúc ngủ không hợp lý

Ngủ 1 đêm sáng thức dậy thấy cổ và các vùng gân cơ lân cận có cảm giác vướng, cứng đau, co cứng so với bên lành, không thể xoay trở qua phải hoặc trái được. Nếu cố gắng quay thì đau nhói ở đốt sống cổ làm cho bệnh nhân vừa đau đớn vừa khó chịu, toàn thân hơi sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch phù.

Nguyên nhân:

– Do lúc ngủ tư thế không thích hợp (lệch gối, hoặc gối quá cao…) làm cho khí huyết không điều hòa.

– Do phong hàn xâm nhập vào kinh lạc làm cho kinh khí bị ngăn trở.

Dưới đây là bài thuốc chữa vẹo cổ:

Bài 1: Bạch chỉ 8g, cam thảo 6g, ma hoàng 8g, phòng phong 8g, quế chi 8g, gừng 4g, đại táo 12g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Chính thảo 6g, độc hoạt 8g, đương quy 12g, hoàng kỳ 16g, khương hoàng 12g, khương hoạt 8g, xích thược 12g, gừng 4g, đại táo 12g. Sắc uống ngày một thang.

Theo Lương y Quốc Trung

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)

Ăn uống giữ ấm cơ thể

Tiết trời sắp lập đông, cần biết cách bảo vệ cơ thể để không mắc một số bệnh thường gặp trong mùa này.

Thường thì mùa đông bắt đầu khoảng tuần thứ hai của tháng 11 dương lịch. Theo y học cổ truyền, hàn tà và phong tà kết hợp gây ra bệnh cảm mạo phong hàn, viêm khí quản, đau các khớp… Nếu cơ thể không thích ứng với tiết trời, khí hậu lạnh rất dễ mắc bệnh. Đông y cho rằng giữa tạng phủ và thời tiết có quan hệ mật thiết với nhau. Trong mùa đông càng dễ xuất hiện các bệnh có quan hệ đến dương khí bất túc, đau mỏi eo lưng, phù thũng, đại tiện ít, tiểu tiện nhiều, kinh nguyệt không đều, hen suyễn nặng hơn…


Gừng


Hành


Ớt


Quế… đều có tính ấm nóng, giúp giữ ấm cơ thể  – Ảnh: K.Vy

Ăn uống, dưỡng sinh

Theo lương y Quốc Trung, mục đích của việc điều dưỡng cơ thể, phòng trị bệnh là giúp cho cơ thể, tinh thần phù hợp với tính chất của tự nhiên, phù hợp với sự thay đổi của thời tiết. Phương pháp cơ bản điều dưỡng cũng chính là tận dụng hết khả năng thích ứng với mọi thay đổi của thời tiết, sáng ngủ dậy nên xoa lòng bàn tay, bàn chân; cần giữ ấm cơ thể – nhất là những người hay ra ngoài khi còn sớm; hằng ngày nên mở cửa sổ vào buổi trưa để không khí lưu thông. Ngoài ra, mùa đông nên dùng thiên về các món, thực phẩm có tính ấm, cay (gừng, hành, ớt, hẹ, lá lốt…); dùng khi món ăn còn nóng ấm. Hạn chế các món béo, lạnh, hay còn sống.

Người nhiễm phong hàn thường có các triệu chứng như: nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, ho, đau đầu, phát nhiệt (sốt), sợ lạnh, khớp tay chân đau mỏi, cơ thể khó chịu. Để phòng và trị, theo lương y Quốc Trung, cần dùng các món ăn có vị tân (cay), tính ôn, sơ phong tán hàn như sau:

– Hành củ 30g, gạo tẻ 60g, gia vị. Đem nấu cháo, dùng lúc còn nóng ấm.

– Hành củ 15g, chao đậu 30g, đường đỏ 15g. Bỏ chao vào nước sôi luộc 15 phút, cho hành và đường đỏ vào, gạn lấy nước, uống nóng.

– Gừng tươi 15g, hoắc hương tươi 50g, đường đỏ 15g. Rửa sạch hoắc hương thái ngắn, gừng rửa sạch thái mỏng, rồi cho vào nồi nước sôi luộc 3-5 phút, gạn lấy nước uống nóng.

– Ma hoàng 6g, hạnh nhân 10g, đường trắng 15g. Rửa sạch ma hoàng, hạnh nhân bỏ vỏ bỏ tim, cho vào nước sôi luộc 15-20 phút, lọc lấy nước, cho đường vào khuấy đều, uống nóng.

– Quế chi 10g, bạch thược 10g, gừng tươi 10g, đại táo 5 quả, đường trắng 15g. Rửa sạch các loại, cho vào nồi cùng lượng nước vừa đủ, nấu với lửa lớn đến sôi, nấu tiếp 10-15 phút nữa. Lọc lấy nước cho đường vào khuấy đều uống nóng.

– Gừng tươi 20g, gạo tẻ 60g, đường đỏ 15g. Rửa sạch gừng tươi, thái thành dạng hạt nhỏ. Gạo vo sạch cho vào nồi với lượng nước vừa đủ, nấu với lửa lớn, đến khi gạo chín thì cho gừng vào, nấu tiếp cho cháo nhừ thì cho đường vào khuấy đều, dùng nóng.

Meo.vn (Theo TNO)

Bệnh nặng thêm vì trái cây

Bệnh nhân suy tim không nên ăn dưa hấu, nước dừa tránh cho tim khỏi bị nặng thêm.
Y học phương Đông nhấn mạnh, trái cây cũng như dược phẩm Đông y, chúng cũng có những thuộc tính hàn, nhiệt, ôn lương khác nhau.

Ví dụ lê sống tính hàn, quả đào tính nhiệt; quả mận tính ôn; dưa hấu tính lương. Nếu người bệnh bị tỳ dương hư, hàn thấp thịnh mà ăn nhiều lê sống thì thường dẫn đến đau bụng, đi ngoài. Tỳ hư bên trong hàn mà ăn nhiều dưa hấu cũng dễ bị như vậy.

Trái cây cũng có 5 vị: chua, ngọt, đắng cay, mặn, cũng dễ gây ra ảnh hưởng nhất định đối với bệnh tật. Vị ngọt phần nhiều có tác dụng bồi bổ, vị chua phần nhiều có tác dụng thu liễm và làm cho kết dính lại, có thể dùng để làm ngừng ra mồ hôi và ngừng đi lỏng, nhưng trường hợp thấp nhiệt thịnh thì không nên ăn.

Về lâm sàng, người bị bệnh đái tháo đường nên ít ăn dưa hấu, nếu mỗi lần ăn 1.000 – 2.000g, thì trong thời gian ngắn tăng 50 – 100g đường. Còn những loại trái cây có hàm lượng đường cao như chuối tiêu, táo, vải, lê, long nhãn, đại táo thì không ăn một cách tùy tiện.


Những người bị loét dạ dày, hành tá tràng, do axit trong dạ dày quá nhiều không nên ăn mơ, chanh.

Bệnh nhân suy tim không nên ăn dưa hấu, nước dừa tránh cho tim khỏi bị nặng thêm.

Những bệnh nhân thể chất dễ bị dị ứng, nếu ăn dứa, vải cũng dễ sinh dị ứng.


Những bệnh nhân cơ tim bị cứng tắc thì không nên ăn táo, hồng, hạt sen bởi những loại này có hàm lượng axit tương đối cao, sinh ra tác dụng thu liễm quá mạnh, làm cho bí tiểu tiện nặng thêm, dễ dẫn tới bệnh của cơ tim, phát đi phát lại.

Hồng là loại trái cây có tính hàn, những người bị khí hư, người yếu nhiều bệnh, phụ nữ sau khi sinh và những bệnh nhân cảm phong hàn bên ngoài thì không nên ăn.

Hồ đào là loại trái cây có tính ôn, tự nhuận (bồi bổ và nhuận) nhiều, những người bị đờm hỏa tích nhiệt nên dùng ít.

Long nhãn vị ngọt, tính ôn nếu bị cảm mạo phong hàn, tiêu hóa không tốt, rêu lưỡi dày và nhầy thì không nên dùng.

Theo BS. Nguyễn Đức Lê

Meo.vn (Theo alobacsi)

Đông y chữa viêm lợi

Viêm lợi là bệnh rất thường gặp trong các bệnh răng miệng, người bệnh thường có triệu chứng lợi bị sưng nề, lợi màu đỏ, dễ chảy máu, lợi và chân răng bị viêm tấy do nhiều loại vi khuẩn, ngứa lợi, răng đau lung lay. Triệu chứng toàn thân: ăn uống kém, cảm giác nóng trong bụng, phân thường bị táo, đau đầu ít ngủ… Theo Đông y, viêm lợi là do nhiệt.

-Nguyên tắc điều trị: Chống viêm, thanh nhiệt đồng thời tăng cường vệ sinh răng miệng.

Thuốc trị:

Bài 1: Hoài sơn 12g, sơn thù 12g, đan bì 10g, trạch tả 10g, sinh địa 12g, chi tử 12g, đại táo 12g, cam thảo 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần.

Bài 2:-Rau rệu phơi khô 50g, chè xanh 30g, rau má 30g, lá đinh lăng 30g. Nấu nước uống trong ngày

Bài 3: -Rễ cỏ xước 16g, rễ xấu hổ 16g, nam hoàng bá 16g, nam tục đoạn 16g, bạch truật 12g, liên nhục 12g, cam thảo 12g, trần bì 10g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần.

Bài 4: Lá hương nhu 16g, rau má 24g, hoàng liên 10g, hoàng cầm 10g, chi tử 12g, đương quy 12g, đan sâm 16g, cam thảo 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Công dụng: thanh nhiệt ở trung tiêu đồng thời dùng lá hương nhu và lá đinh lăng nấu nước để súc miệng hàng ngày.

Hoàng liên ngâm rượu chấm vào răng lợi bị viêm rất tốt.

Bài 5: -Hoàng liên 100g, cho thuốc vào chai thủy tinh đổ ngập rượu để ngâm. Sau 1 tuần là dùng được. Lấy bông chấm thuốc rồi sát vào răng lợi.

Bài 6:-Vỏ cây gạo 50g, thạch xương bồ 50g. Hai thứ sắc lấy nước đặc, ngậm trong miệng ít phút rồi nhổ đi.

Bài 7: -Trần bì 10g, chỉ xác 10g, hoàng bá 12g, sơn trà 10g, đương quy 12g, mạch môn 12g, thiên môn 12g, bạch thược 12g, sâm đại hành 12g, tam thất 10g, đinh lăng 16g, bán hạ 10g hậu phác 10g, cam thảo 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Công dụng: chống viêm, trừ nhiệt ở trường vị, lợi tiêu hóa.

Phòng bệnh:

-Thường xuyên vệ sinh răng lợi. Phương pháp dân gian rất có hiệu quả: ngậm và súc miệng nước muối hàng ngày. Bệnh nhân viêm lợi cần kiêng ăn những thứ như: mắm tôm, cá tanh, thịt chó, ớt, riềng… Nên uống thêm vitamin C, nước cam, nước chanh, nước ép quả dứa…

BACS.com I(Theo 123suckhoe)

Đông y trị chứng huyết áp thấp

Đông y cho rằng, chứng huyết áp thấp do bất kỳ nguyên nhân nào đều thuộc chứng hư. Cách trị liệu còn tùy thuộc vào thể bệnh.

Điều trị theo thể bệnh

Tâm dương bất túc

Thường gặp ở tuổi thanh nữ và người cao tuổi. Biểu hiện lâm sàng là váng đầu, hoa mắt, tinh thần mệt mỏi, buồn ngủ, ngón tay lạnh, chất lưỡi nhạt, thân lưỡi bệu, rêu trắng nhuận, mạch hoãn vô lực hoặc trầm tế.

Phép trị: ôn bổ tâm dương.

Dùng phương “Quế chi cam thảo thang gia vị”, gồm nhục quế, quế chi, chích cam thảo đều 10g, mỗi ngày 1 thang, sắc uống liên tục 9 – 12 thang, hoặc hãm nước sôi uống như nước trà. Gia giảm: trong trường hợp chất lưỡi đỏ, rêu vàng khô, là chứng khí âm bất túc, gia mạch môn, ngũ vị để ích khí dưỡng âm.

Trường hợp khí hư, ít nói, ra mồ hôi thì bổ khí, gia hồng sâm để bổ khí trợ dương.

Trường hợp huyết áp tâm thu dưới 60mmHg, chân tay lạnh, có triệu chứng vong dương, đơn trên bỏ quế chi gia hồng sâm, phụ tử chế để hồi dương cứu thoát.

Trung khí bất túc, tỳ vị hư nhược

Biểu hiện lâm sàng như váng đầu, tim hồi hộp, hơi thở ngắn, tinh thần mệt mỏi, chân tay mềm yếu, sợ lạnh, dễ ra mồ hôi, ăn kém, ăn xong đầy bụng, chất lưỡi nhợt, rêu trắng hoạt, mạch hoãn vô lực.

Phép trị cần bổ trung ích khí, kiện tỳ vị.

Dùng phương “Hương sa lục quân gia giảm”, gồm hồng sâm 8g, bạch truật 10g, bạch linh 10g, đương quy 12g, hoàng kỳ 12g, bạch thược 12g, chỉ thực 8g, trần bì 8g, mộc hương 6g, sa nhân 6g, quế chi 6g, chích thảo 4g, đại táo 12g, gừng tươi 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang.

Tỳ thận dương hư

Biểu hiện lâm sàng như váng đầu, ù tai, mất ngủ, mệt mỏi, hơi thở ngắn, ăn kém, đau lưng mỏi gối, chân tay lạnh, sợ lạnh hoặc di tinh, liệt dương, tiểu đêm, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm nhược.

Phép trị là ôn bổ tỳ thận dương.

Dùng phương “Chân vũ thang gia vị”, gồm đảng sâm 12g, chế phụ tử 6 – 8g (sắc trước), bạch truật 12g, bạch thược 12g, bạch linh 12g, nhục quế 6g, câu kỷ tử 12g, liên nhục 12g, bá tử nhân 12g, ích trí nhân 10g, toan táo nhân (sao) 20g, dạ giao đằng 12g, gừng tươi 3 lát, sắc uống.


Khí âm lưỡng hư

Biểu hiện lâm sàng: đau đầu, chóng mặt, mồm khát, họng khô, lưỡi thon đỏ, ít rêu, khô, mạch tế sác. Phép trị là ích khí dưỡng âm. Dùng phương “Sinh mạch tán gia vị”, gồm tây dương sâm 20g, mạch môn 16g, ngũ vị tử 4g, hoàng tinh 12g, sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Những phương thuốc kinh nghiệm

– Trà Quế cam(Vương Hưng Quốc, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc): quế chi, cam thảo đều 8g, quế tâm 3g, ngày 1 gói hãm nước sôi uống. 50 ngày là 1 liệu trình.

– Quế chi cam phụ thang(Dương Vạn Lâm, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc): quế chi, cam thảo, xuyên phụ tử đều 15g, ngày 1 thang hãm nước sôi uống thay trà trong ngày.

Gia giảm lúc dùng thuốc bệnh nhân ngủ kém gia dạ giao đằng 50 – 70g. Trường hợp nặng có thể gia thêm hồng sâm 15 – 25g, phụ tử gia đến 30g sắc trước 1 giờ.

– Thục địa hoàng kỳ thang (Vương Triệu Khuê, Hà Bắc, Trung Quốc): thục địa 24g, sơn dược 24g, đơn bì, trạch tả, phục linh, mạch môn, ngũ vị tử đều 10g, sơn thù 15g, hoàng kỳ 15g, nhân sâm 6g (đảng sâm 12g) sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Biện chứng gia giảm: khí hư rõ dùng hoàng kỳ 20 – 30g, khí âm lưỡng hư: thay nhân sâm bằng thái tử sâm 20g, huyết hư gia đương quy, váng đầu nặng gia cúc hoa, tang diệp, âm hư hỏa vượng gia hoàng bá, tri mẫu, kiêm thấp: trọng dụng phục linh, lưng gối nhức mỏi, chân sợ lạnh: gia phụ tử, nhục quế.

– Trương thị thăng áp thang (Trương Liên Ba, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc): đảng sâm 12g, hoàng tinh 12g, nhục quế 10g, đại táo 10 quả, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Liệu trình: 15 ngày.

Theo BS. Hoàng Xuân Đại

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)

Thịt thỏ bổ trung, ích khí

Theo Đông y, thịt thỏ có vị ngọt, tính bình, vào tỳ vị và đại tràng; có tác dụng bổ trung ích khí, hoạt huyết giải độc.

Thành phần dinh dưỡng trong thịt thỏ: Hàm lượng protein 11,8%, cao hơn thịt bò, thịt dê, thịt lợn, 4,4% lipid, hàm lượng cholesterol thấp, có Ca, S, P, Na và các vitamin. Có ovophospholipid có tác dụng bảo vệ thành mạch, chống xơ hoá.

Theo Đông y, thịt thỏ: vị ngọt, tính bình, vào tỳ vị và đại tràng; có tác dụng bổ trung ích khí, hoạt huyết giải độc.

Gan thỏ: vị ngọt mặn, tính hàn tác dụng bổ gan, làm sáng mắt, chữa choáng váng, mắt mờ có màng mộng, đau mắt do gan yếu.

Tiết thỏ: vị mặn, tính hàn, không độc tác dụng hoạt huyết lương huyết, chữa các chứng ngộ độc. Da lông thỏ (thỏ bì mao) đốt tồn tính rắc vết thương, vết bỏng…

Một số thực đơn chữa bệnh có thịt thỏ:

Thịt thỏ tiềm vỏ quít: Thịt thỏ 200g, vỏ quít (trần bì) 8g. Thịt thỏ chặt miếng to, cho muối, dầu, sa lát, rượu, hành, gừng trộn đều ướp trong 30 phút; vỏ quít ngâm rửa, thái lát.

Đun sôi dầu rán, cho thịt thỏ vào rán vừa chín; tiếp tục cho vỏ quít, ớt tươi, gừng, hành vào xào với thịt thỏ, sau đó cho nước hàng (gồm mì chính, đường trắng, muối, mắm, dấm) đảo đều, đun đến khi thịt khô chuyển màu đỏ nâu sậm, đổ ra đĩa, gắp bỏ gừng hành, đổ ít dầu vừng lên.

Dùng cho bệnh nhân sau thời kỳ bệnh nặng dài ngày cơ thể suy nhược, người có mỡ máu cao.

Chữa suy nhược cơ thể sau khi ốm, phụ nữ huyết hư, người gầy yếu: Thịt thỏ 100 – 200g, đại táo 20g. Thịt thỏ chặt nhỏ, đại táo xé. Hấp cách thủy hay nấu chín. Ăn nóng, ngày 1 lần.

Nước ép thịt thỏ: Thỏ 1 con, lột da, bỏ lòng ruột, làm sạch, hầm lấy nước, để nguội. Uống khi khát. Dùng cho các trường hợp người ốm suy kiệt, tiểu đường, tiểu không cầm hoặc di niệu.

Chữa đái tháo đường: Thịt thỏ 100 – 200g, kỷ tử 15g. Thịt thỏ chặt nhỏ cho cùng với kỷ tử, đun nhỏ lửa với nước đến chín nhừ, thêm ít muối. Ngày ăn 1 lần, dùng nhiều ngày.

Thịt thỏ ăn thường ngày: Thịt thỏ nấu ăn thường ngày, nấu dạng cari. Dùng cho bệnh nhân nôn ói trào ngược, táo bón.

Súp thịt thỏ bổ tỳ: Thịt thỏ 200g, sơn dược 30g, câu kỷ tử 15g, đảng sâm 15g, hoàng kỳ 15g, đại táo 30g. Nấu dạng súp ăn. Dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể.

+ Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn không dùng.

Meo.vn (Theo SK&ĐS)