Lưu trữ cho từ khóa: chất đạm

Ăn nhiều chất đạm có thể giảm nguy cơ đột quỵ

Các nhà khoa học tại ĐH Nam Kinh, Trung Quốc cho biết, việc dùng nhiều chất đạm có thể kéo giảm nguy cơ đột quỵ.
an-nhieu-chat-dam-co-the-giam-nguy-co-dot-quy
Ảnh minh họa.
Chất đạm có trong ngũ cốc, gạo, bánh mỳ, các loại đậu đỗ, lạc, cá, thịt gà, thịt bò,….
TS. Liu Xinfeng và cộng sự đã phân tích dữ liệu về mối liên quan giữa chất đạm trong khẩu phần ăn với nguy cơ đột quỵ trong 7 khảo sát trước đó trên 254.489 người, theo dõi họ trung bình trong 14 năm. Nhóm nghiên cứu nhận thấy trong số được khảo sát, những người dùng nhiều chất đạm nhất có tỉ lệ bị đột quỵ thấp hơn 20% so với những người ít dùng chất đạm nhất. Phân tích cho thấy, cứ mỗi 20g chất đạm tăng thêm mỗi ngày, nguy cơ đột quỵ giảm khoảng 26%. Nhóm nghiên cứu cho rằng, chất đạm có tác dụng làm giảm huyết áp nên góp phần giảm nguy cơ đột quỵ.
Tuy vậy, các nhà khoa học khuyên nên dùng nhiều nguồn đạm từ cá và thực vật. 2 trong số 7 khảo sát nói trên được tiến hành tại Nhật Bản, nơi cư dân dùng nhiều đạm từ cá hơn thịt và kết quả cũng cho thấy nguy cơ đột quỵ giảm nhờ việc dùng cá để thay thế thịt đỏ.
Theo Kienthuc.net.vn
The post Ăn nhiều chất đạm có thể giảm nguy cơ đột quỵ appeared first on Tin Sức Khỏe.

Ăn nhiều chất đạm giúp vết thương mau lành

 

Khi bị vết thương dù nhỏ hay to, ngoài việc chữa trị bằng thuốc thì chế độ dinh dưỡng cũng giúp vết thương mau lành và ít bị nhiễm trùng – bưng mủ.


Nhóm thực phẩm giàu đạm.

Sự lành của một vết thương bao gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn có xuất huyết và viêm. Ở giai đoạn này vết thương dễ bị nhiễm trùng – bưng mủ; giai đoạn tạo mô hạt để làm đầy vết thương và tái tạo biểu bì để vết thương lành hoàn toàn. Vết thương lành nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bản chất và mức độ tổn thương (nhỏ, nông) có thể không để lại sẹo hay bị bầm dập, dễ bị nhiễm trùng, bưng mủ và có thể để lại sẹo xấu. Một số yếu tố khác như thiếu đạm, vitamin, selen, kẽm hay người cao tuổi, bị bệnh đái tháo đường, đang điều trị bằng thuốc có corticoid, đang hóa trị ung thư…

Một số người cho rằng, khi có vết thương thì kiêng ăn tôm, cá biển, thịt bò, gà, rau muống… vì sợ vết thương bưng mủ, lồi thịt và ngứa. Thực ra, chỉ nên kiêng những thực phẩm khi nào ăn vào bị dị ứng (ngứa, nổi mề đay, sưng tay, chân, sưng mí mắt, khó thở, lên cơn hen…) vì dị ứng sẽ gây tăng hiện tượng viêm tại chỗ, làm tạo mủ nhiều hơn. Nếu không bị dị ứng thì vẫn có thể ăn các món này bình thường.

Để vết thương nhanh lành nên tuân thủ ăn đủ chất đạm, ăn các loại thực phẩm liên quan đến quá trình tạo máu và các vitamin B, A, E… Theo đó, chất đạm có nhiều trong thịt, cá, tép, trứng, lươn… các loại đậu, chất đạm là nguyên liệu chính để tạo các tế bào mới, các thành phần có liên quan đến quá trình lành vết thương.

Các thức ăn có liên quan đến quá trình tạo máu như sắt, axit folic, vitamin B12… có nhiều trong gan, thịt, huyết, trứng, sữa, rau xanh đậm vì máu sẽ mang protein, vitamin, khoáng chất và oxy đến nuôi dưỡng các mô bị tổn thương. Đồng thời, mang các tế bào bạch cầu, đại thực bào đến tiêu diệt các vi khuẩn xâm nhập vào vết thương, dọn dẹp các chất thải như xác vi trùng chết, xác các tế bào đã chết.

Còn các vitamin B, A, E, C… có vai trò quan trọng trong việc tạo mô mới và làm vết thương mau lành. Vitamin C giúp tăng sức đề kháng chống lại hiện tượng nhiễm trùng, bưng mủ. Rau lá xanh đậm, đu đủ, thanh long, cam, giá đỗ… có chứa các vitamin này. Kẽm và selen cũng giúp vết thương nhanh lành, chống nhiễm khuẩn, có nhiều trong cá, thịt gia cầm, trứng, nghêu, sò, hàu…

(Theo Bee)

 

Ăn chay không chữa được bệnh tiểu đường

 

Như ANTĐ đã đưa tin, mới đây, một bệnh nhân nam hơn 60 tuổi tại Hà Nội, bị tiểu đường type 2 phải vào Viện bỏng Quốc gia cấp cứu trong tình trạng nguy kịch do tin theo chỉ dẫn của thầy lang thực hiện ăn chay gần 1 tháng.

Trao đổi về chế độ ăn cho người tiểu đường, GS.TS Nguyễn Thy Khuê, Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam cho biết, thức ăn chay không phải là thuốc nên không thể ăn chay để thay thuốc chữa bệnh tiểu đường. Mặt khác, khi ăn chay, cơ thể có nguy cơ thiếu một số chất vi lượng cần thiết như vitamin B12, vitamin D, canxi, chất sắt và kẽm… nên rất có hại cho điều trị. Theo GS. Khuê, đái tháo đường là bệnh có thể duy trì tình trạng ổn định được bằng ăn uống đúng cách, luyện tập, uống thuốc đầy đủ. Với khẩu phần ăn, cần đảm bảo lượng chất bột đường (gạo) chiếm 50-60%, chất đạm chiếm 15% (với người lớn), mỡ động vật dưới 7%.

 (Theo ANTD)

 

Hạn chế tăng cân nhờ đạm

Nếu bạn muốn duy trì cân nặng hiện tại, chỉ cần thêm chất đạm (protein) đúng cách vào bữa ăn. Theo một số nghiên cứu trước đây, đạm khiến bạn có cảm giác no lâu hơn các loại thức ăn chứa nhiều chất bột đường hay chất béo, nhờ vậy bạn ăn ít hơn nhưng vẫn có cảm giác no.

Theo ABC News, các nhà khoa học của Đại học Sydney vừa công bố một kết quả giúp khẳng định quan điểm này. Theo kết quả, những người thực hiện chế độ ăn kiêng với lượng đạm thấp nhất, phần năng lượng ăn thêm sẽ khiến họ tăng khoảng 1 kg trong vòng 1 tháng. Đạm là chất tạo thành cơ bắp và chúng ta cần nhiều năng lượng để duy trì cơ bắp hơn dự trữ chất béo. Điều này có nghĩa là cơ bắp giúp bạn thúc đẩy quá trình trao đổi chất của cơ thể và một chế độ ăn uống đầy đủ chất đạm đóng vai trò quan trọng cho quá trình này. Mặt khác, thức ăn giàu đạm sẽ chứa nhiều kẽm và vitamin B, giúp củng cố hệ thống miễn dịch, ngăn ngừa các bệnh cảm cúm. Bạn nên dành khoảng 15% nguồn calo trong bữa ăn cho chất đạm. Chẳng hạn, với chế độ ăn 1.800 calo/ngày thì trong đó cần có khoảng 68 gr đạm.

(Theo Thanhnien)

 

Vì sao bị ong đốt lại có cảm giác nóng rát?

Khi bị ong đốt tôi có cảm giác nóng rát. Tại sao lại vậy? Tôi muốn biết thành phần của nọc ong gồm những chất gì?

Tiến sĩ Phùng hữu Chính, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Ong cho biết: Thành phần của nọc ong khá phức tạp gồm các enzym, protein và axit amin như các axit formic, clohydric, octophotphoric, lưu huỳnh…

Nọc ong chứa một lượng lớn chất đạm, các tinh dầu bay hơi các enzym hyaluronidaza, photpholipaza… Chính các tinh dầu bay hơi gây cảm giác nóng rát khi bị ong đốt.

Ngoài ra, trong nọc ong có mặt một số kháng sinh, enzym – phospholipase A, cũng như hai axit amin giàu lưu huỳnh methionine và cystine.

Làm gì khi bị ong đốt?

– Tìm cách gắp ngòi và túi độc của ong.

– Có thể rửa bằng một trong những loại nước sau: Nước xà phòng, dung dịch Amoniac, nước vôi hoặc không có thì nước sạch cũng được.

– Nếu bị ong đốt, điều cần làm là bôi hồ nước lên chỗ đốt để làm mát tại chỗ, sẽ giảm sưng, giảm ngứa và đợi cho cơ thể loại bỏ chất độc đi. Nếu bị ong đốt quá nhiều, đốt ở những vùng nguy hiểm như mặt, mũi, cổ, gáy, hoặc khi có các triệu chứng khó thở, tím da, thì cần đưa đi cấp cứu ngay.

(Theo Xaluan)

5 thành phần quan trọng trong sữa

Trong sữa có 5 thành phần quan trọng là đạm, béo, đường lactose, vi khoáng chất và nước. Và các chất này sẽ quyết định chất lượng cũng như màu sắc, độ đặc của sữa.

Dù là đóng dạng chai, lon hay hộp, lượng các chất trong sữa thường được thể hiện rất rõ ở Thành phần (Ingredients) ghi trên bao bì

Đạm whey và casein

Sữa là một nguồn protein tuyệt vời bởi các protein trong sữa có cấu trúc phân tử lớn, không hòa tan trong nước. Có hai loại protein trong sữa là casein và whey.

Các protein casein trong sữa kết hợp với một số khoáng chất trong sữa và hình thành các mixen (chứa khoảng 65% nước, còn lại là các casein và khoáng gồm can-xi, ma-giê, phốt-phát…).

Ánh sáng phản xạ từ các mixen làm cho sữa có màu trắng.

Protein casein sẽ đông lại, tách khỏi nước khi có axit. Casein trong sữa “túm tụm” lại với nhau và hoạt động như những bọt biển nhỏ để giữ nước. Chúng có thể chứa và giữ tới 70% nước cho mỗi mảnh cợn sữa. Axit, muối hay nhiệt độ cao có thể khiến các casein đông này bị mất nước.

Đạm whey cũng bị đông lại dưới sức nóng, chứ không phải là axit và muối. Đây chính là bí quyết cơ bản để tạo ra sữa chua và phô-mai.

Chất béo

Sữa cũng là một nguồn chất béo dồi dào. Chất béo nổi trên sữa nước. Có nhiều loại chất béo khác nhau trong sữa.

Các chất béo trong sữa thường có cholesterol thấp. Trong bơ, hàm lượng chất béo cao hơn và thường giá của nó cũng cao hơn sản phẩm sữa.

Ở sữa tươi, những hạt chất béo sẽ gắn kết với nhau, lớn đến mức nổi lên bề mặt sữa, tạo ra 2 lớp khác nhau. Để ngăn chặn điều này xảy ra, hầu hết sữa đóng hộp đều phải được xử lý chia nhỏ các phân tử chất béo để tạo sự đồng nhất.

Đường lactose

Sữa cũng chứa một số carbon hydrate dưới dạng đường tự nhiên. Đường trong sữa được gọi là lactose và chỉ tìm thấy trong trong sữa. Lactose tạo vị hơi ngọt cho sữa. Lactose chỉ có thể được tiêu hóa bởi 1 enzyme đặc biệt do cơ thể sản xuất.

Một số người không thể uống sữa tươi vì họ không thể tiêu hóa lactose trong sữa. Cơ thể họ thiếu enzym lactase trong hệ tiêu hóa.

Không có lactase, lactose không thể phân chia thành glucose và galactose để có thể hấp thụ và đốt cháy thành năng lượng. Khi lactose lên men trong hệ tiêu hóa, nó sẽ sinh ra khí và 1 số axit (những người bất dung nạp lactose sẽ không thể chuyển hóa năng lượng từ lactose). Lactose sẽ bị caramen hóa khi sữa được làm nóng và sẽ biến sữa thành màu xỉn.

Vitamin và khoáng chất

Sữa là một nguồn tuyệt vời của rất nhiều vitamin và khoáng chất. Can-xi và ma-giê giúp các mixen trong sữa ổn định. Can-xi giúp tăng cường sức khỏe cho xương và răng.

Sữa cũng rất giàu riboflavin, một vitamin có thể bị phá hủy bởi ánh sáng, vì vậy cần bảo quản sữa trong những hộp ngăn ánh sáng.

Chất béo trong sữa có chứa vitamin A.

Rất nhiều sản phẩm sữa được bổ sung vitamin D.

BACSI.com (Theo Dân trí)

Nam giới ăn chay sẽ giảm lượng tinh trùng

Theo các bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng, trong chế độ ăn chay, chất đạm chủ yếu là từ đậu tương, mà trong đậu tương hàm lượng oestrogen (nội tiết tố chủ yếu của nữ giới) thực vật cao, do đó sẽ phần nào ảnh hưởng đến nam tính. Nói như vậy không có nghĩa là nam giới không được ăn đậu phụ hoặc các sản phẩm chế biến từ đậu tương mà không nên dùng quá nhiều như người ăn chay tuyệt đối.

Không đủ chất dinh dưỡng

Ăn chay cũng có thể dẫn đến thiếu máu do thiếu vitamin B12, A, D, can xi; thiếu sắt, đồng, kẽm… vì các vi chất này chỉ có nhiều trong thức ăn nguồn gốc động vật. Trong thức ăn thực vật cũng có sắt, kẽm nhưng giá trị sinh học không cao và rất khó hấp thu. Đặc biệt là tình trạng thiếu kẽm bởi đây là loại vi chất quan trọng trong các loại thịt, những người ăn chay có nguy cơ thiếu kẽm cao gấp đôi.

Mỗi ngày nam giới cần 30mg kẽm, nữ giới là 24mg. Thiếu kẽm dẫn đến suy giảm tinh trùng, giảm khả năng làm cha; tăng nguy cơ viêm nhiễm, suy giảm thị lực, suy giảm vị giác, làm chậm quá trình lành vết thương.

Trên khía cạnh cung cấp các chất protid, ăn chay có thể cung cấp đủ hàm lượng các chất đạm. Nhưng ăn chay lại không đảm bảo thành phần các axit amin cần thiết cho cơ thể. Có tất cả 8 loại axit amin cơ thể không tự tổng hợp được mà bắt buộc phải đưa vào từ thực phẩm. Nếu ăn chay, chỉ có thể cung cấp được hai loại axit amin là lysin và methionin, còn lại là thiếu hẳn và thiếu hoàn toàn 6 loại axit amin khác. Sự thiếu hụt các axit amin cần thiết làm rối loạn các quá trình chuyển hoá protid, làm rối loạn các quá trình thần kinh và các chu trình chuyển hóa ở gan.

Không chỉ vậy, người ăn chay thường xuyên cũng rất dễ bị yếu xương. Một kết quả khảo sát trên 2.700 người cho thấy, người ăn chay tăng 5% nguy cơ bị yếu xương so với người ăn thịt. Tuy nhiên, với người ăn chay bao gồm trứng và sữa thì sức khỏe của bộ xương không có gì khác biệt.

Ngoài ra, những món ăn lên men như tương, chao, cải muối, dưa cải, cà… có hàm lượng muối rất cao, chỉ nên dùng hạn chế và nên loại khỏi danh sách thực phẩm của những người cao tuổi có bệnh huyết áp, tim mạch, bệnh thận hay tiểu đường.

Những người không nên ăn chay

Vì liên quan đến gốc tự do và quá trình phân huỷ mô nên những người bị nhiễm khuẩn, sốt cao không nên ăn đồ chay chứa nhiều thành phần béo như dừa, vừng, lạc vì làm nặng thêm tình trạng bệnh.

Chế độ chay được coi là không phù hợp với những đối tượng như phụ nữ mang thai, cho con bú. Bởi trong quá trình mang thai, người mẹ cần được bổ sung đa dạng và đầy đủ vi chất, dưỡng chất, đặc biệt là protein, canxi và sắt… để đảm bảo sự phát triển toàn diện nhất cho thai nhi. Vậy nên một chế độ ăn uống kiêng khem, nghèo nàn sẽ rất bất lợi cho bào thai.

Người gầy yếu, suy dinh dưỡng, thiếu máu, nam giới dưới tuổi 50 cũng là những đối tượng không nên ăn chay.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, Viện Dinh Dưỡng Quốc gia, khuyến cáo, khi ăn chay trên một tuần hoặc muốn áp dụng ăn chay để phòng trị bệnh, bắt buộc phải quan tâm đến việc cân đối bữa ăn để đảm bảo một chế độ ăn phù hợp nhất cho sức khỏe. Khi ăn chay, nên ăn đa dạng các loại thực phẩm cả về hương vị, màu sắc…, ưu tiên thực phẩm có chứa nhiều kẽm, sắt, vitamin B12 (có trong đậu tương hoặc rau có lá màu xanh sẫm, chế phẩm từ đậu nành, các loại hạt) vì trong chế độ ăn chay không thịt thường bị thiếu loại chất này.

(Theo DanOng)

Khi trẻ bị nổi hạch ở cổ

Hạch có ở nhiều nơi trong cơ thể, thường không sờ được. Chúng thực ra là các tổ chức lympho có chức năng sản xuất bạch cầu và kháng thể chống lại các tác nhân gây bệnh: vi trùng, vi sinh vật, virut…

Vì sao trẻ bị hạch ở cổ?

Hạch lympho đóng vai trò quan trọng đối với khả năng đề kháng của cơ thể. Hạch thường sưng lên khi cơ thể chống chọi với sự viêm nhiễm gây ra do vi trùng gây bệnh tại chỗ hoặc bệnh toàn thân.

Các hạch sau tai bị sưng thường là kết quả của cảm cúm, viêm họng, viêm da đầu, hoặc một số bệnh nhiễm như Rubella, tăng đơn nhân nhiễm khuẩn. Trong một số trường hợp nhất định, sưng hạch là dấu hiệu của những nguy cơ tiềm ẩn lớn hơn. Những vị trí hạch dễ bị sưng sờ được là vùng 2 bên cổ, sau tai, nách và bẹn. Trong đó, hạch sưng thường làm các bậc phụ huynh lo lắng khi sờ thấy là ở vùng cổ, sau tai.

Hạch cũng sưng lên trong trường hợp do vết côn trùng cắn hay vết thương rách da. Chúng có thể sưng kể cả đối với những bệnh truyền nhiễm thông thường mà trẻ em thường hay mắc phải.

Khi hạch sưng to, kéo dài, trẻ sốt cao thì cần đưa trẻ đi khám bác sĩ

Khi hạch bị viêm

Viêm hạch có thể do siêu vi trùng gây ra, cũng có thể do vi trùng lao. Một số trường hợp trẻ có viêm amiđan, viêm tai, viêm xoang, các hạch vùng quanh tai, dưới cằm và quanh cổ cũng to ra và hơi đau, nhưng sau khi điều trị các bệnh lý trên, hạch vùng lân cận sẽ nhỏ lại, hết đau.

Trường hợp viêm hạch nhiễm trùng, trẻ sẽ có sốt cao, hạch sưng to, đỏ, nóng đau, có thể bị áp xe do có mủ bên trong hạch hay bị rò mủ ra ngoài. Trẻ cần được trị liệu với kháng sinh thích hợp, khoảng 7-10 ngày sẽ khỏi bệnh và không để lại di chứng gì. Nếu có tụ mủ, trẻ sẽ được rạch và dẫn lưu mủ.

Hạch mới phát hiện thường chỉ to bằng hạt đậu, di động dưới da, không đau hoặc chỉ đau ít. Viêm nhiễm nặng có thể làm các hạch sưng lên thành những khối u to chắc và rất đau. Các hạch lympho có thể tiếp tục sưng lên khá lâu kể cả khi hết bị viêm nhiễm.

Cảm giác đau ở hạch sưng là do sự phồng lên nhanh chóng của hạch trong thời kỳ đầu chống chọi với bệnh truyền nhiễm và sẽ biến mất sau vài ngày. Thời gian hạch nhỏ lại thường lâu hơn thời gian chúng bị sưng lên.

Bệnh không nguy hiểm nếu trẻ được khám và chữa trị kịp thời. Ngược lại, nếu trẻ không được điều trị, vi trùng sẽ lan vào máu gây nhiễm trùng toàn thân, nguy hiểm cho tính mạng.

Chăm sóc và điều trị

Nếu hạch sưng nhỏ đi kèm với cảm lạnh, viêm họng, viêm tai hay viêm nhiễm nhẹ, và các hạch không có dấu hiệu đỏ đau không cần điều trị cụ thể. Bạn có thể tiếp tục theo dõi tại nhà dưới sự hướng dẫn của y tế.

Kháng sinh đường uống có thể dùng để điều trị bệnh nhiễm vi khuẩn. Nếu trẻ có sốt hoặc sưng đau nhiều ngay vị trí hạch viêm, có thể cho trẻ dùng thuốc giảm đau hạ sốt Acetaminophen, với liều 10 – 15 mg cho mỗi kilogram cân nặng. Tuy nhiên, trẻ cần uống thuốc theo toa bác sĩ chỉ định và tiếp tục uống cho đủ liều ngay cả khi triệu chứng bệnh có giảm bớt hoặc hết triệu chứng.

Thời gian này, bạn nên cho trẻ uống càng nhiều nước càng tốt. Bên cạnh đó, bạn cần cung cấp chất bổ dưỡng chủ yếu là chất đạm (thịt, cá, tôm cua, đậu đỗ), các vitamin và chất khoáng có nhiều trong hoa quả, rau xanh.

Ngoài ra, bạn cũng cần quan sát kích thước hạch. Ba mẹ có thể dùng bút vẽ lại đường kính của hạch và so sánh với những lần sau xem hạch có tăng kích thước hay không. Khi bệnh đã hết nhưng hạch chưa nhỏ lại. Với những hạch này thì bạn không phải lo lắng và không cần điều trị hạch cũng tự mất đi.

Nên cho trẻ tái khám theo hẹn của bác sĩ điều trị.

Lưu ý

Bạn nên đưa trẻ đến bác sĩ khi trẻ có những dấu hiệu sau:

– Trẻ sốt trên 38oC mà không tìm thấy nguyên nhân khác.

– Hạch sưng to, có màu đỏ, sờ thấy rất chắc và đau.

– Sưng hạch có liên quan đến những dấu hiệu nhiễm trùng khác ở các vết thương.

– Da có những vết thương bị chảy máu, bị sưng và đau.

– Các hạch tiếp tục sưng to hoặc xuất hiện không rõ nguyên nhân và kéo dài trên 2 tuần.

Khi thấy trẻ bị rất nhiều hạch ở nhiều nơi như gáy, chẩm, sau tai, góc hàm, sau cơ ức đòn chũm… thì phải đưa trẻ đi khám bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ chuyên khoa lao để xem trẻ có bị bệnh lao sơ nhiễm, hay lao hạch, bệnh về máu…

Meo.vn (Theo Meyeucon)

Chế độ ăn phù hợp cho người cao tuổi

Nhu cầu dinh dưỡng của người cao tuổi cũng có nhiều thay đổi theo thời gian. Vậy làm thế nào để có chế độ dinh dưỡng hợp lý?


Lựa chọn thực phẩm phù hợp

Nhu cầu năng lượng của con người giảm đi theo thời gian, khi về già, người cao tuổi ăn ít hơn so với lúc trẻ. Tuy nhiên, có nhiều người khi ăn vẫn thấy ngon miệng, không giảm chế độ ăn nên mắc các bệnh như béo phì, tăng huyết áp… Vì vậy khi về già, người cao tuổi nên ăn ít hơn, chọn lựa các thực phẩm phù hợp. Các sinh tố và muối khoáng cần cho sự hoạt động của cơ thể có sẵn trong các thực phẩm chúng ta ăn vào hằng ngày. Các thực phẩm như gạo, thịt, mỡ, đường, bánh kẹo, rượu bia nên hạn chế dùng, chế độ ăn nhạt là phù hợp.

Chế độ dinh dưỡng phù hợp giúp người cao tuổi sống khỏe, sống vui.
Nên ăn nhiều đậu, lạc, vừng, khoai củ các loại: Tốt nhất nên ăn gạo lứt và có thể thay thế bằng gạo dẻo, không mốc và không xát trắng quá. Việc tiêu hóa, hấp thu các chất đạm đối với người cao tuổi rất kém nên việc ăn bổ sung chất béo, chất đạm từ thực vật như lạc, đậu và vừng là rất quan trọng. Đặc biệt là các chế phẩm từ đậu nành như đậu phụ, giá đậu nành, đặc biệt, đậu nành còn có tác dụng phòng chống ung thư.

Ăn nhiều rau tươi, quả chín: Đối với người cao tuổi, táo bón luôn là nỗi “bức xúc”. Táo bón ở người cao tuổi là do ít vận động, ăn không đủ chất xơ, uống không đủ nước, sức co bóp của dạ dày giảm, nhu động ruột cũng giảm… Vì vậy, người cao tuổi nên chú ý ăn nhiều rau tươi, quả chín để bổ sung chất xơ nhằm kích thích nhu động ruột, tránh gây táo bón. Các thực phẩm nên ăn là cà chua (giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt), bắp cải, súp lơ (chống ung thư bàng quang)… Quan trọng hơn cả, rau quả tươi còn cung cấp các loại vitamin, các yếu tố vi lượng và các chất chống ôxy hóa – các chất dinh dưỡng mà người cao tuổi cần bổ sung.

Ăn nhiều cá, uống sữa: Đối với người cao tuổi, nên hạn chế ăn thịt và tăng cường ăn cá, tốt nhất nên ăn cả xương cá để có thêm canxi, phòng xốp và loãng xương. Bổ sung sinh tố và muối khoáng. Sữa chua rất tốt cho mọi lứa tuổi, đặc biệt là người già.

Cách ăn như thế nào?

Dinh dưỡng phù hợp đối với người cao tuổi ngoài việc lựa chọn thực phẩm, khẩu phần ăn thì việc ăn đúng, ăn đủ rất quan trọng. Tránh để người già ăn quá no, tránh thức ăn cứng và nhất định trong bữa ăn hằng ngày nên có canh (theo mùa). Canh vừa cung cấp nước lại bổ sung các chất dinh dưỡng cho cơ thể. Thức ăn phải chế biến dưới dạng ninh nhừ, thái nhỏ, hấp… Khi ăn uống, người cao tuổi phải bảo đảm đa dạng thực phẩm, ăn đúng giờ, nhai kỹ, nuốt chậm. Người già cũng không nên ăn mặn vì cơ thể sẽ thừa muối làm ảnh hưởng tới tim, thận…

Rèn luyện thể chất

Khi về già, người cao tuổi thường mắc rất nhiều bệnh như tăng huyết áp, tim mạch, suy giảm trí nhớ, rối loạn tuần hoàn não… Việc vận động cơ thể là rất quan trọng. Người cao tuổi nên rèn luyện cơ thể bằng cách đi bộ 1-2 giờ mỗi ngày, đều đặn và theo chế độ, phương pháp lựa chọn thích hợp cho từng người và từng bệnh.

Theo ThS. Hà Hùng Thuỷ

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)

Sò huyết giúp kéo dài “chuyện ấy”

Sò huyết không chỉ ngon mà còn là đặc sản dành riêng cho những cặp vợ chồng đang hưởng tuần trăng mật vì tính chất đặc biệt “đại bổ” của nó.

Theo y học cổ truyền, sò huyết có vị ngọt, tính mặn, có tác dụng bổ huyết, kiện vị, chữa chứng huyết hư, thiếu máu. Trong con sò huyết có nguồn chất đạm phong phú, chứa nhiều khoáng chất có giá trị dinh dưỡng cao như magne và kẽm, hai chất này giúp tăng cường sức chịu đựng dẻo dai cho cơ thể. Trong 100g sò huyết có các thành phần chính: 81,3g moisture; 11,7g protein; 1,2g lipid; các chất khoáng; các loại vitamin A, B1, B2, C; giá trị năng lượng 71,2 Kcal.


Cách chọn và chế biến sò huyết: nên chọn sò huyết tươi, sống. Người ta thường dùng thịt sò huyết để chế biến các món ăn. Rửa sạch sò, đun sôi nước, tắt bếp rồi đổ sò vào, đậy kín vung trong 5 phút là có thể dùng được.

Các món ăn:

Cháo sò huyết, trứng muối: gạo tẻ ngon 200g, sò huyết tươi 500g, trứng vịt muối 1 quả, gừng, gia vị, hành, hạt tiêu đủ dùng. Sò huyết rửa sạch bùn đất, đun sôi nước rồi thả vào, ngâm 5 phút vớt ra, cạy lấy thịt. Sau đó ướp sò huyết với dầu, hành gia vị. Gạo tẻ thơm nấu nhừ thành cháo. Khi cháo chín cho trứng muối vào khuấy đều, đổ sò huyết vào nấu sôi là dùng được.

Sò huyết xào nui: nui 100g, sò huyết 100g, cà chua, nấm rơm, hành tây, gia vị đủ dùng. Nui luộc chín tới, ngâm nước lạnh, vớt ra trộn với 1 ít dầu ăn cho nui đỡ dính. Thịt sò huyết sốt cùng với cà chua, tỏi. Hành tây, cà chua, nấm rơm thái nhỏ. Phi thơm tỏi rồi đổ tất cả các thứ trên đun nhỏ lửa, cho thêm nước đến khi hỗn hợp hơi sệt thì cho sò huyết vào đảo cùng. Nên ăn món này lúc nóng.

Sò huyết sốt me: 1kg sò huyết, 50g me chín, đường, muối, tỏi, gia vị vừa đủ. Sò huyết rửa sạch, để ráo nước. Me chín cho vào đun với nước, bỏ hạt. Phi thơm tỏi rồi cho nước me, gia vị quấy đều, đun khoảng 5 phút. Thịt sò đã hấp, phi hành tỏi, xào to lửa, rồi đổ nước sốt có me vào đun khoảng 5 phút là được.

Theo BS. Thu Nga

Meo.vn (Theo Suckhoedoisong)