Lưu trữ cho từ khóa: vitamin D

Mọi lứa tuổi đều cần canxi cho xương chắc khỏe

Các loại thực phẩm chúng ta ăn hàng ngày cung cấp nhiều loại vitamin, khoáng chất và chất dinh dưỡng quan trọng khác trong đó có canxi và vitamin D. Đây là hai chất rất cần thiết cho xương chắc khỏe và cần thiết ở mọi lứa tuổi…

Vai trò của canxi

Canxi rất cần thiết cho hoạt động của tim, cơ bắp và thần kinh, là thành phần chủ yếu cấu tạo nên xương và răng, đồng thời cũng không thể thiếu để tham gia vào quá trình đông máu. Trẻ em khi thiếu canxi sẽ chậm lớn, lùn, còi xương, xương biến dạng, răng không đều, răng dị hình, chất lượng răng kém và bị sâu.

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu bổ sung không đầy đủ canxi trong suốt cuộc đời có liên quan đến khối lượng xương thấp và tỷ lệ gãy xương cao. Trong các cuộc điều tra dinh dưỡng quốc gia đã chỉ ra rằng, hầu hết mọi người không nhận được lượng canxi cần thiết để phát triển và duy trì xương khỏe mạnh.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), lượng canxi cần cho mọi lứa tuổi như sau: trẻ 0 – 1 tuổi cần 400 – 600mg/ngày; trẻ 1 – 10 tuổi cần 800mg/ngày; từ 11 – 24 tuổi cần 1.200mg/ngày; từ 24 – 50 tuổi cần 800 – 1.000mg/ngày; phụ nữ có thai, người cao tuổi cần 1.200 – 1.500mg/ngày.

caxi

Nên bổ sung canxi và vitamin D qua thực phẩm.

Các thực phẩm giàu canxi như đậu nành, đậu phụ, củ cải, rau cải xanh, tôm, cua, sữa… Nếu bạn gặp khó khăn khi hấp thụ canxi trong chế độ ăn uống có thể cần phải bổ sung canxi bằng thuốc. Có rất nhiều loại thuốc chứa canxi trên thị trường. Bởi vậy, muốn bổ sung loại nào và liều lượng ra sao cần tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng. Ngoại trừ ở những người bị bệnh đường tiêu hóa (ảnh hưởng tới việc hấp thu canxi) thì tất cả các thuốc chứa canxi đều được hấp thu tốt khi dùng cùng với thức ăn.

Và vitamin D

Cơ thể cần vitamin D để hấp thụ canxi. Nếu không có đủ vitamin D, cơ thể sẽ không thể hình thành đủ các calcitriol nội tiết tố (được gọi là “vitamin D hoạt động”). Điều này sẽ dẫn đến không đủ hấp thu canxi từ chế độ ăn uống. Trong trường hợp này, cơ thể phải lấy canxi từ “ngân hàng xương” của mình và hệ lụy của nó sẽ làm suy yếu xương hiện tại và ngăn ngừa sự hình thành xương mới.

Cơ thể chúng ta có thể nhận được vitamin D trong 3 cách: qua da (hấp thu qua ánh nắng mặt trời), chế độ ăn uống và bổ sung bằng thuốc. Các loại thực phẩm giàu vitamin D như lòng đỏ trứng, cá nước mặn, gan và sữa. Nếu chế độ ăn không cung cấp đủ lượng vitamin D cần thiết phải bổ sung bằng thuốc. Khi bổ sung bằng thuốc cũng rất cần ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng để tránh dùng thừa.

DS. Hoàng Thu Thủy

Theo Suckhoevadoisong.net

Thiếu vitamin D có thể gây tử vong

Các nhà khoa học Trường ĐH California, San Diego (Mỹ) vừa cảnh báo trên Tạp chí American Journal of Public Health (Mỹ) rằng, những người có nồng độ vitamin D thấp tăng gấp đôi nguy cơ tử vong sớm so với những người có mức vitamin D cao trong máu.

thieu-vitamin-d-co-the-gay-tu-vong

Thiếu  vitamin D có thể gây tử vong. Ảnh internet

Phát hiện này dựa trên cơ sở một cuộc phân tích có hệ thống của các nhà khoa học từ 32 nghiên cứu trước đây về mối liên quan giữa mức vitamin D trong máu và tỉ lệ tử vong ở con người.

Theo đó, các nhà khoa học Trường ĐH California, San Diego đã tiến hành kiểm tra và định lượng chất chuyển hóa 25-hydroxyvitamin D – một thể vitamin D trong máu và là thông số đáng tin cậy nhất để đánh giá mức vitamin D ở những người trong nghiên cứu.

Cedric Garland – giáo sư Khoa Gia đình và Y tế Dự phòng Trường ĐH California – người chủ trì nghiên cứu, phát biểu: “Ba năm trước, Viện Y khoa Mỹ (IOM) kết luận rằng những người có mức vitamin D thấp rất nguy hiểm cho sức khỏe”. Nghiên cứu mới này củng cố thêm kết luận trên, đồng thời cung cấp thêm những bằng chứng mới.

Theo báo cáo của IOM, những người có mức vitamin D 20 nanogram/1 ml máu, được cho là mức vitamin D thấp, có liên quan đến nguy cơ phát triển các bệnh về xương. Trong khi theo phát hiện của Giáo sư Garland: những người có mức vitamin D thấp còn liên quan đến nguy cơ tử vong sớm do tất cả vấn đề sức khỏe, chứ không chỉ mắc các bệnh về xương.

Các nhà nghiên cứu cho biết, một nửa các trường hợp tử vong sớm trong nghiên cứu có liên quan đến mức thấp vitamin D trong máu (khoảng 30 nanogram/1 ml máu). Và theo ước tính của IOM, hiện có khoảng 2/3 dân số Mỹ có mức vitamin D dưới 30 nanogram/1 ml máu.

Giáo sư Garland khuyến cáo, để tăng cường sức khỏe và giảm thiểu nguy cơ tử vong sớm, mỗi người cần cung cấp vào cơ thể khoảng 4.000 IU (đơn vị quốc tế) vitamin D mỗi ngày. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn, bạn nên thường xuyên kiểm tra mức chất 25-hydroxyvitamin D trong máu định kỳ hàng năm, nhằm xác định cụ thể liều lượng vitamin D cần bổ sung vào cơ thể.

Để bổ sung vitamin D cho cơ thể, ngoải việc tắm nắng và uống nguồn thuốc viên bổ sung, bạn cũng có thể thường xuyên tiêu thụ các loại thực phẩm giàu vitamin D như gan động vật, sữa, lòng đỏ trứng, cá hồi, cá trích, dầu gan cá, cá mòi đóng hộp, nấm… trong chế độ ăn hàng ngày.

Theo Phunuonline.com.vn

Thiếu vitamin D khiến phụ nữ chịu đau dữ dội hơn khi sinh

Sở hữu lượng vitamin D thấp trong máu có thể khiến phụ nữ phải chịu đau dữ dội hơn khi sinh nở, theo một nghiên cứu mới.

Các nhà khoa học Mỹ phát hiện, phụ nữ nhiều khả năng phải viện nhờ đến biện pháp gây tê ngoài màng cứng hơn để giảm cơn đau đẻ, nếu họ bị thiếu hụt vitamin D.

Kết luận được rút ra sau khi nhóm nghiên cứu theo dõi các bà bầu chuẩn bị sinh con. Họ đã đo nồng độ vitamin D trong máu của những thai phụ này trước khi lâm bồn. Tất cả các bà bầu này đều yêu cầu được gây tê ngoài màng cứng giảm đau trong khi chuyển dạ.

Các chuyên gia sau đó đã đo lượng thuốc giảm đau mà mỗi phụ nữ cần trong quá trình sinh nở, rồi đối chiếu so sánh với nồng độ vitamin D trong máu của họ. Kết quả hé lộ, những phụ nữ có lượng vitamin D trong máu thấp hơn đòi hỏi nhiều thuốc giảm đau hơn các bạn đồng giới có lượng vitamin D cao hơn.

thieu-vitamin-d-khien-phu-nu-chiu-dau-du-doi-hon-khi-sinh

Sở hữu lượng vitamin D thấp trong máu có thể khiến phụ nữ phải chịu đau dữ dội hơn khi sinh nở, theo một nghiên cứu mới. Ảnh minh họa

TS Andrew Geller, chuyên gia gây mê tại Trung tâm y tế Cedars-Sinai ở Los Angeles và là thành viên nhóm nghiên cứu, nhấn mạnh: “Phụ nữ trong giai đoạn mang thai thường có nồng độ vitamin D trong máu thấp hơn bình thường. Chúng nhận thấy, các phụ nữ có nồng độ vitamin D thấp sẽ trải nghiệm cơn đau gia tăng khi chuyển dạ”.

Mặc dù sự thiếu hụt vitamin D từ lâu đã được xác định liên quan đến sự trầm cảm và cơn đau, nhưng đây là nghiên cứu đầu tiên nêu bật mối liên hệ giữa vi chất này với mức độ đau đẻ.

Trường CĐ bác sĩ sản – phụ khoa Mỹ nhấn mạnh, sự thiếu hụt vitamin D rất phổ biến ở phụ nữ trong thời gian mang bầu, đặc biệt ở các nhóm nguy cơ cao như người ăn kiêng, những người ít tiếp xúc với mặt trời và người dân tộc thiểu số.

Vitamin D được phát hiện chủ yếu trong sữa gia tăng thành phần, nước hoa quả, dầu cá và thực phẩm chức năng.

Theo TS Geller, khám phá mới ám chỉ, việc phòng ngừa và chữa trị tình trạng thiếu vitamin D ở phụ nữ mang bầu có thể tác động lớn đến khả năng giảm đau đẻ cho hàng triệu chị em trên thế giới mỗi năm. Ông tin rằng, đề tài này cần có thêm nghiên cứu để xác định xem chúng ta có thể cải thiện trải nghiệm sinh nở cho mọi phụ nữ như thế nào.

Theo Afamily.vn

Phòng ngừa thoái hóa khớp gối ở phụ nữ

Thoái hóa khớp gối là quá trình phá hủy sụn bao bọc ngay vị trí tiếp giáp nhiều đầu xương tại đầu gối – khớp lớn chịu nhiều tải trọng cơ thể. Bệnh khiến cho 80% người mắc phải bị hạn chế trong di chuyển, và 25% người bệnh không thể tự chăm sóc cho bản thân mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác.

Tỷ lệ thoái hóa khớp gối ở phụ nữ thường cao hơn rất nhiều lần so với nam giới, đặc biệt là phụ nữ sau độ tuổi mãn kinh. Con số phụ nữ mắc chứng bệnh này lên đến 18%, trong đó tỷ lệ nam giới chỉ có 9.6%.

Vì sao phụ nữ hay bị thoái hóa khớp gối?

Tốc độ thoái hóa xương khớp của phụ nữ ngoài 30 tuổi mỗi năm là 0.25 đến 1%, qua độ tuổi mãn kinh tốc độ này tăng nhanh chóng ở mức 1-5%, suy giảm hooc môn estrogen là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ thoái hóa khớp ở phụ nữ gia tăng chóng mặt.

Chính quá trình lão hóa nhanh chóng đó, khiến khả năng hấp thụ canxi vào xương của người phụ nữ kém hơn đàn ông rất nhiều, khiến cho quá trình bào mòn sụn diễn ra nhanh hơn, sụn bao quanh gối nhanh chóng bị  hư hại, mất tính đàn hồi, từ đó nguy cơ mắc các căn bệnh thấp khớp, viêm khớp, đau nhức xương khớp đặc biệt tỷ lệ thoái hóa khớp gối không ngừng gia tăng ở phụ nữ sau mãn kinh.

phong-ngua-thoai-hoa-khop-goi-o-phu-nu

Ngay tại đầu gối, cấu trúc dây chằng của người phụ nữ thường yếu và dễ bị tổn thương hơn đàn ông.

Ngoài ra tính chất công việc buộc phụ nữ phải ngồi xổm, đứng lên, hoạt động tại khớp gối diễn ra liên tục, đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho sụn yếu, mât chức năng làm đệm cho gối, sụn bị bào mòn, hư hỏng nhanh chóng. Góp phần cho tỷ lệ thoái hóa khớp gối ở phụ nữ cao hơn nam giới.

Do chủ quan, không thăm khám thường xuyên kết hợp với chế độ dinh dưỡng không hợp lý khiến cho thoái hóa khớp gối ở nữ khi phát hiện đã quá muộn, ảnh hưởng trầm trọng đến di chuyển, vận động, sinh hoạt hằng ngày của phụ nữ.

Phòng ngừa thoái hóa khớp gối ở phụ nữ như thế nào?

Chế độ dinh dưỡng

Phụ nữ tăng cường bổ sung cho cơ thể và hệ xương khớp các thực phẩm hoạt chế phẩm thuốc chứa nhiều vitamin D, canxi, omega 3, tăng cường sự hấp thụ canxi giúp xương, khớp khỏe mạnh.

Ngoài ra thực phẩm chứa nhiều collagen sẽ tốt cho quá trình tái tạo sụn, giúp sụn bị tổn thương nhanh hồi phục.

Tuy nhiên khi sử dụng các chế phẩm thuốc cần phải có sự hướng dẫn của bác sĩ, tránh tự mua và sử dụng tại nhà nhằm hạn chế các tác dụng không mong muốn gây ra.

Luyện tập

Đi bộ vào sáng sớm, đạp xe đạp, dưỡng sinh, thái cực quyền là các bài tập đơn giản mà cực kỳ hiệu quả không chỉ giành riêng cho phụ nữ, bất kỳ ai có vấn đề về xương khớp hoặc muốn phòng bệnh đều có thể áp dụng. Mỗi ngày chỉ cần 30 phút là giúp bạn có hệ xương khớp khỏe mạnh.

Theo Toiyeusuckhoe.vn

Phụ nữ có thai có nên cần nhiều vitamin D?

Phụ nữ mang thai cần lượng vitamin nhiều hơn người bình thường để giúp xây dựng bộ xương trẻ sơ sinh cũng như duy trì sức khỏe cho chính cơ thể mẹ.

Tôi nghe nói phụ nữ có thai cần nhiều vitamin D, điều này có đúng không? – Nguyễn Thu Hoài (Hà Nội).

phu-nu-co-thai-co-nen-can-nhieu-vitamin-d

Ảnh minh họa.

TS Nguyễn Thị Lâm

, Viện Dinh dưỡng Quốc gia:

Cơ thể chúng ta cần vitamin D để xây dựng xương và ngăn ngừa một số bệnh. Phụ nữ mang thai cần lượng vitamin nhiều hơn người bình thường để giúp xây dựng bộ xương trẻ sơ sinh cũng như duy trì sức khỏe cho chính cơ thể mẹ.

Vì thế, phụ nữ mang thai cần bổ sung của vitamin D thông qua tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc trong chế độ ăn uống. Nếu mẹ thiếu vitamin D sẽ làm tăng nguy cơ phát triển bệnh cao huyết áp và tiểu đường thai kỳ, con sinh ra cũng có nguy cơ thiếu cân.

Teho Kienthuc.net.vn

Những căn bệnh nguy hiểm luôn song hành cùng nhau

Nếu bạn vừa phải nhập viện vì viêm phổi, thì nguy cơ đau tim và đột quị sẽ tăng đáng kể trong nhiều tuần và nhiều tháng sau đó – trên thực tế có thể tăng trong tới 10 năm.

nhung-can-benh-nguy-hiem-luon-song-hanh-cung-nhau

Nếu bạn vừa phải nhập viện vì viêm phổi, thì nguy cơ đau tim và đột quị sẽ tăng.

Suy tim và loãng xương

Bệnh tim có thể làm yếu xương. Một nghiên cứu năm 2012 đã liên hệ suy tim với xương mỏng và tăng 30% nguy cơ gãy xương lớn. Cơ chế chính xác còn chưa rõ, nhưng có nhiều giả thiết.

Một trong số đó là giả thiết về những gen chung tác động đến cả hai bệnh. Một giả thiết khác về tuần hoàn: Khi các động mạch bị tắc làm giảm lưu lượng máu tới chi dưới, việc vận chuyển chất khoáng từ máu vào mô xương bị ảnh hưởng.

Nếu bạn gặp vấn đề với tim, hãy đi kiểm tra mật độ xương. Và lần tới khi đi chụp X quang ngực, hãy đề nghị bác sĩ xem xét cẩn thận các dấu hiệu gãy xương. Nếu có, bạn sẽ cần tăng lượng can xi và vitamin D, tăng cường tập luyện, và nghĩ đến thuốc điều trị loãng xương. Các bác sĩ cho biết điều trị có thể làm giảm gãy xương tới 50%.

Bệnh xương khớp và tiêu hóa

Bệnh xương khớp và tiêu hóa là những căn bệnh khá phổ biến, ở một người có thể bị một bệnh nhưng có nhiều người hai bệnh này song hành cùng nhau. Khi đó bệnh nọ sẽ ảnh hưởng tới bệnh kia, y học gọi là vòng xoáy bệnh lý.

Các thuốc tây điều trị bệnh xương khớp thường có tác dụng phụ ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa, còn các bệnh tiêu hóa sẽ ảnh hưởng tới hấp thu một số chất dễ làm cho bệnh xương khớp phát sinh và tăng nặng.

Tiểu đường và trầm cảm

Bị bệnh tiểu đường sẽ làm nguy cơ trầm cảm tăng hơn gấp đôi. Stress “khủng khiếp” của bệnh tiểu đường – với những triệu chứng như mệt mỏi, buồn nôn, đi tiểu nhiều hoặc nhiễm trùng, khát nhiều, nhìn mờ và chậm liền vết thương – có lẽ đủ để gây ra trầm cảm, nhưng cũng có khả năng trầm cảm là hậu quả của những tác động chuyển hóa mà bệnh tiểu đường gây ra trên não.

Người bệnh tiểu đường cũng có những triệu chứng giống trầm cảm: Đường huyết thay đổi khiến họ cảm thấy mệt mỏi và lo âu, cũng như cản trở giấc ngủ và khiến người bệnh ăn nhiều.

Người bệnh tiểu đường nên trao đổi cởi mở với bác sĩ và đừng ngần ngại tìm sự giúp đỡ từ bác sĩ tâm thần.

Viêm phổi và bệnh tim mạch

Nếu bạn vừa phải nhập viện vì viêm phổi, thì nguy cơ đau tim và đột quị sẽ tăng đáng kể trong nhiều tuần và nhiều tháng sau đó – trên thực tế có thể tăng trong tới 10 năm.

Mặc dù trước đó đã có nghiên cứu liên hệ hai bệnh này với nhau, song đây là nghiên cứu đầu tiên xem xét cụ thể những người không có dấu hiệu của bệnh tim mạch trước khi bị ốm. Hiện nay các chuyên gia cho rằng có thể xem viêm phổi là một yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh tim mạch.

Theo Thanh Lê/Phunutoday.vn

Thiếu hụt vitamin D lúc bé có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tim mạch

Việc cung cấp đủ nguồn dinh dưỡng và vitamin cho cơ thể khi còn nhỏ đóng vai trò rất quan trọng cho giai đoạn sau này. Vì tình trạng thiếu hụt vitamin D lúc bé có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tim mạch ở một người khi trưởng thành.
thieu-hut-vitamin-d-luc-be-co-the-gay-anh-huong-xau-den-suc-khoe-tim-mach
Đó là kết quả một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Phần Lan, vừa được công bố trên tạp chí y học Endocrinology & Metabolism (của Hiệp hội Nội tiết Mỹ).
Trong nghiên cứu, các nhà khoa học Trường Đại học Turku (Phần Lan) đã tiến hành kiểm tra và phân tích tình trạng sức khỏe của 2.148 người tham gia, có độ tuổi từ 3 – 18. Sau đó, các nhà nghiên cứu tiếp tục kiểm tra lại tình trạng sức khỏe của số người tham gia ở thời điểm họ được 30 – 45 tuổi.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tình trạng thiếu hụt vitamin D khi còn nhỏ có nhiều khả năng gây nên các vấn đề về tim mạch ở một người vào thời điểm 25 năm sau đó. Các nhà nghiên cứu cho biết, sở dĩ xảy ra tình trạng này vì vitamin D đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe tim mạch.
Bác sĩ Mark Juonala – thành viên nhóm nghiên cứu Trường Đại học Turku – phát biểu: “Nghiên cứu của chúng tôi phát hiện có mối liên quan mật thiết giữa mức độ thấp vitamin D trong thời thơ ấu với nguy cơ tăng chứng xơ vữa động mạch và đột quỵ ở tuổi trưởng thành”.
Kết quả vẫn không thay đổi, ngay cả sau khi các nhà nghiên cứu đã xem xét đến các yếu tố gây nên các vấn đề về tim mạch khác, như chứng tăng huyết áp, chế độ ăn uống, thói quen hút thuốc lá, mức độ hoạt động thể chất, béo phì, tình trạng kinh tế xã hội…
Các nhà nghiên cứu cho biết, cần tiến hành thêm các cuộc nghiên cứu sâu hơn để xác định cụ thể mối liên quan này. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ, các bậc phụ huynh cần quan tâm hơn đến nhu cầu vitamin D của con em mình ngay từ bé nhằm bảo vệ và duy trì sức khỏe tim mạch khi chúng trưởng thành.
Theo NGUYỄN NIỆM/Phunuonline.com.vn
The post Thiếu hụt vitamin D lúc bé có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tim mạch appeared first on Tin Sức Khỏe.

Trẻ dễ bị gan bị nhiễm mỡ nếu thiếu vitamin D

Đó là kết luận vừa được nhóm nghiên cứu thuộc trường ĐH Tây Úc và ĐH Queesnland (Úc) công bố trên tạp chí chuyên ngành “Journal of Gastroenterology & Hepatology”.

Cụ thể, các bác sĩ theo dõi 994 trẻ tuổi từ 14-17 và ghi nhận trong số các trẻ bị gan nhiễm mỡ có đến 51% bị thiếu vitamin D, 17% bị thiếu vitamin D nặng. Chi tiết hơn, các bác sĩ cho biết, những trẻ có hàm lượng vitamin D trong máu bình thường, tỷ lệ bị mắc bệnh gan nhiễm mỡ chỉ 0,79 lần so với trẻ có lượng vitamin D thấp.

tre-de-bi-gan-bi-nhiem-mo-neu-thieu-vitamin-d

Ảnh minh họa – Internet

Gan nhiễm mỡ là một bệnh lành tính và có thể diễn tiến thành gan thoái hóa mỡ, viêm gan mạn và xơ gan. Ngoài nguyên nhân chính là nghiện rượu, còn có nguyên nhân do thừa cân, béo phì, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu. Vitamin D là loại vitamin tan trong dầu, chủ yếu có trong dầu cá. Hơn nữa, vitamin D còn được cơ thể tự tổng hợp từ một tiền chất có sẵn ở da dưới tác dụng kích thích của ánh sáng mặt trời.

BS Trần Ngọc Lưu Phương

Phó Khoa Tiêu hóa – BV Nguyễn Tri Phương

Theo Phunuonline.com.vn

Thiếu vitamin D làm tăng nguy cơ tiền sản giật ở thai phụ

Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng thiếu vitamin D trong 26 tuần đầu của thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ bị tiền sản giật ở thai phụ.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích nồng độ vitamin D trong mẫu máu của 700 thai phụ bị tiền sản giật và 3.000 thai phụ không bị tình trạng đe dọa tới tính mạng này.

thieu-vitamin-d-lam-tang-nguy-co-tien-san-giat-o-thai-phu

Ảnh minh họa

Nguy cơ chung bị tiền sản giật nặng ở những phụ nữ trong nghiên cứu này là 0,6%. Nồng độ vitamin D đủ có liên quan tới giảm 40% nguy cơ bị tiền sản giật nặng. Theo nghiên cứu này, không có mối liên quan giữa nồng độ vitamin D và tiền sản giật nhẹ. Nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên quan giữa nồng độ vitamin D và nguy cơ tiền sản giật nhưng không chứng minh đây là mối quan hệ nhân quả.

Trước đây, vitamin D chỉ được coi là chất dinh dưỡng quan trọng cho sức khỏe của xương. Nhưng trong 10, 15 năm trở lại đây, các nhà khoa học phát hiện thấy rằng vitamin D cũng có nhiều chức năng khác trong cơ thể, bao gồm giữ vai trò quan trọng để duy trì một thai kỳ khỏe mạnh.

Nghiên cứu này do Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ tài trợ và được đăng trực tuyến trên tờ Epidemiology.

Theo Anninhthudo.vn

Vitamin D có ích cho sự phát triển cơ bắp của thai nhi

Một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng, phụ nữ khi mang thai nếu uống nhiều vitamin D sẽ có ích cho sự phát triển cơ bắp của trẻ.

vitamin-d-co-ich-cho-su-phat-trien-co-bap-cua-thai-nhi

Nhóm các nhà khoa học tại trường Đại học Southampton (Anh) đã thực hiện nghiên cứu trên 678 đứa trẻ ở độ tuổi lên 4. Trước đó, các mẫu máu- bằng chứng chỉ ra lượng vitamin D mà mẹ của những đứa trẻ này sử dụng – cũng đã được lấy từ tuần mang thai thứ 34. Mức độ sử dụng vitamin D được so sánh với khả năng cầm nắm các đồ vật trong nhà của những đứa trẻ này.

Kết quả chỉ ra rằng những phụ nữ sử dụng lượng lớn vitamin D vào cuối thai kỳ thì con của họ sẽ có cơ bắp chắc khỏe hơn những đứa trẻ khác, dễ nhận thấy nhất là bé ở độ tuổi lên 4. Các nhà khoa học còn khẳng định sự phát triển này sẽ duy trì đến hết cuộc đời đứa trẻ đó.

Theo Daidoanket.vn