Chuyên mục lưu trữ: Các bệnh về mắt

Thuốc hạ cholesterol tốt cho mắt

Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ tại Đại học Y khoa Washington được công bố trên tạp chí Cell Metabolism chứng tỏ tình trạng cholesterol cao ảnh hưởng đến hệ miễn dịch và có thể gây thoái hóa võng mạc, một chứng bệnh có thể dẫn đến mù mắt. Từ đó có thể bào chế thuốc nhỏ mắt từ thành phần dược phẩm hạ cholesterol nhằm ngăn ngừa bệnh này.

Những thí nghiệm trên chuột và người cho thấy tế bào hệ miễn dịch bị hủy hoại khi có mỡ tích tụ, khiến vai trò sản sinh mạch máu của đại thực bào bị thay đổi. Thoái hóa võng mạc có thể ở dạng “khô” là khi tế bào nhạy cảm với ánh sáng ở mắt bị hư hại và ở dạng “ướt”. Những mạch máu mới hình thành quá nhanh chóng và dễ dẫn đến nguy cơ mù mắt. Nhóm nghiên cứu cho rằng chính hoạt động bất thường của đại thực bào trong hệ miễn dịch làm trầm trọng hơn bệnh của mắt và thuốc hạ cholesterol giúp ngăn ngừa tình trạng này.

Thực phẩm lành mạnh cho đôi mắt sáng

Chế độ ăn hợp lý có thể giúp bảo vệ thị lực và đẩy lùi các vấn đề về mắt.
Dưới đây là một số thực phẩm được Học viện Dinh dưỡng khuyên dùng để có đôi mắt sáng:

 1369819165-thucphamgiupdoimatsang_suckhoe_eva1

Cải xoăn rất giàu dưỡng chất có thể bảo vệ mắt khỏi tổn thương do ánh nắng mặt trời, bệnh đục thủy tinh thể và cả bệnh thoái hóa điểm vàng.(Ảnh minh họa)

 1369819165-thucphamgiupdoimatsang_suckhoe_eva1.jpg2

Khoai lang giàu beta carotene giúp phòng ngừa tình trạng thoái hóa điểm vàng. (Ảnh minh họa)

1369819165-thucphamgiupdoimatsang_suckhoe_eva1.jpg3 

Dâu tây chứa hàm lượng vitamin C cao và có tác dụng giảm nguy cơ mắc bệnh đục thủy tinh thể, giúpđôi mắt sáng và khỏe mạnh. (Ảnh minh họa)

 1369819165-thucphamgiupdoimatsang_suckhoe_eva1.jpg4

Cá hồi giàu acid béo omega 3 giúp phòng ngừa khô mắt và giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng. (Ảnh minh họa)

 1369819165-thucphamgiupdoimatsang_suckhoe_eva1.jpg5

Trà xanh chứa các chất chống ô-xy hóa có thể giúp bảo vệ chống thoái hóa điểm vàng và đục thủy tinh thể. (Ảnh minh họa)

Theo  2sao

Chăm sóc mắt và những sai lầm thường gặp

Nhìn chằm chằm vào máy tính, màn hình ti vi và điện thoại làm căng mắt. Không để mắt nghỉ ngơi đầy đủ và ăn uống thiếu dưỡng chất cần thiết cũng gây cản trở thị lực. Và một số thói quen khác bạn vô tình thực hiện mỗi ngày góp phần làm giảm thị lực.

Bác sĩ Bharti, Giám đốc y khoa của Tập đoàn Bệnh viện Mắt Bharti ở Ấn Độ, cho biết một số sai lầm phổ biến có thể gây hại mắt là đọc sách dưới ánh sáng mờ, nằm xem ti vi và xem ti vi trong phòng tối. “Sai lầm phổ biến nhất mà mọi người hay làm là vốc nước rửa mắt mà không biết rõ nước đó có sạch hay không. Đây là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh nhiễm trùng cho mắt. Bản chất là đôi mắt đã có hệ thống tự làm sạch, vì thế, chúng ta không cần phải làm sạch bằng cách rửa mắt nữa. Nhưng trong trường hợp bạn muốn rửa mắt thì nên dùng loại nước đã được lọc, dùng để uống”.

hoaqua
Hoa quả giúp cải thiện thị lực – Ảnh: Shutterstock

“Sai lầm phổ biến thứ hai là uống quá nhiều nước vào buổi sáng vì điều này được cho là giúp thanh lọc cơ thể. Tuy nhiên, việc uống cả lít nước trong một lần có thể làm tăng nhãn áp và việc này cứ lặp lại sẽ gây bệnh tăng nhãn áp. Những người mắc bệnh tăng nhãn áp không nên uống nhiều nước vào buổi sáng và những người không có bệnh này cũng không nên uống nhiều nước trong một lần mà nên uống chậm”, trang tin healthmeup.com dẫn lời bác sĩ Bharti.

Bác sĩ Bharti cho hay, có nhiều cách giúp tăng thị lực, trong số đó là ăn uống lành mạnh gồm hàm lượng chất đạm, vitamin và khoáng chất cao, có sẵn trong các loại rau xanh và hoa quả.

BACSI.com (Theo TNO)

Nhìn thẳng vào mặt trời coi chừng phỏng mắt

Tôi thách đố với người bạn: ngẩng mặt nhìn mặt trời trong một phút. Sau đó về khách sạn mắt tôi có biểu hiện đau nhức dữ dội, nước mắt chảy giàn giụa.

Trong chuyến đi du lịch biển Nha Trang, tôi có chơi trò thách đố với người bạn: ngẩng mặt nhìn mặt trời trong một phút. Sau đó về khách sạn mắt tôi có biểu hiện đau nhức dữ dội, nước mắt chảy giàn giụa. Tôi đã dùng thuốc nhỏ mắt nhưng không khỏi….

Tấn Thiện (TP.HCM)

deo mat kieng

TS.BS Võ Văn Phi, bệnh viện mắt Trung ương:

Với biểu hiện bạn kể, có thể bạn bị phỏng mắt do ánh sáng mạnh. Ánh sáng mạnh ở đây có thể nói đến: khúc xạ các tia hồng ngoại bước sóng ngắn của mặt trời; hồ quang điện (ánh sáng đèn hàn); đèn để làm rám da hoặc đèn cực tím để sát khuẩn trong phòng mổ…; phơi nắng trên núi cao, trên biển hoặc trên sa mạc cũng có thể gây phỏng mắt do bức xạ.

Triệu chứng thường xuất hiện từ 6-10 giờ sau khi tiếp xúc với ánh sáng mạnh, có thể là đau dữ dội, nước mắt chảy giàn giụa, sợ ánh nắng, co quắp mi, mi và kết mạc phù nề, nước mắt chảy rất nhiều, có thể ướt cả khăn mặt. Khi có biểu hiện của phỏng mắt do ánh sáng mạnh, cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa mắt để được điều trị kịp thời.

(Theo SGTT)

Suýt bị mù mắt vì đeo kính sát tròng

Ashley Hyde, 18 tuổi đến từ Pembroke Pines, Florida đã suýt phải bỏ đi mắt trái sau khi bị một loại kí sinh trùng phát triển trên kính áp tròng chui vào mắt qua giác mạc.

Hyde cảm thấy bị mờ mắt và phải đến gặp bác sĩ. Các bác sĩ nhãn khoa và nhân viên y tế phải kiểm tra sâu trong mắt của Ashley thậm chí phải lấy sinh thiết nhãn cầu của cô để cố gắng tìm ra lý do tại sao mắt trái của cô lại bị viêm.

suyt-bi-mu-mat-vi-deo-kinh-sat-trong

Hyde cho biết “Các bác sĩ kiểm tra rất sâu trong mắt tôi. Cảm giác đó thật sự rất khó chịu”.

Các bác sĩ phát hiện ra mắt của Hyde bị nhiễm loại kí sinh trùng Acanthamoeba có thể gây mù mắt.

Acanthamoeba là một ký sinh trùng đơn bào nhỏ bé, được tìm thấy trong nước máy, bụi bẩn, nước biển, hồ bơi và cả vòi hoa sen. Nó sinh sống nhờ các vi khuẩn trên kính giãn tròng. Khi kính được đặt vào mắt, các vi khuẩn bắt đầu ăn qua giác mạc – lớp ngoài của nhãn cầu.

suyt-bi-mu-mat-vi-deo-kinh-sat-trong

Kí sinh trùng Acanthamoeba trong mắt Hyde

Các triệu chứng của nhiễm trùng bao gồm ngứa mắt, chảy nước mắt, mờ mắt, đau mắt, nhạy cảm với ánh sáng và sưng mí mắt trên.

Quá trình điều trị bao gồm thuốc nhỏ mắt 20 phút một lần và nằm viện 3 tuần với những bệnh nhân nhẹ. Các trường hợp quá nghiêm trọng sẽ phải cấy ghép giác mạc. Và Hyde đã phải trải qua nhiều tháng điều trị.

Tiến sĩ Adam Clarin, một bác sĩ nhãn khoa cho biết để an toàn người sử dụng kính giãn tròng cần phải thay đổi kính hàng ngày. Mỗi ngày, có rất nhiều người bị nhiễm trùng, biễn chứng hay viêm loét và có thể dẫn đến mù vì sử dụng kính giãn tròng.

Lời khuyên đó là hãy giữ cho kính luôn sạch sẽ và thay chúng thường xuyên.

(Theo Dân trí)

Lồi mắt do bệnh Basedow

  
  
Thứ ba, 24/5/2011, 10:35  
  
  
  
  
SỐ CHỦ NHẬTSỐ CUỐI TUẦNSỐ CUỐI THÁNGCHUYÊN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚIY TẾ THÔN BẢN
  
  
    
Trang chủThời sựBạn đọcSức khỏe người cao tuổiSức khỏe trẻ emThuốc và sức khỏeChữa bệnh bằng YHCTGiáo dục giới tínhY học thường thứcThông tin y dượcCác bệnh chuyên khoa Mắt Cơ – xương – khớp Tai – mũi – họng Răng – hàm – mặt Sản phụ khoa Nội tiết Các bệnh ngoài da Nam học Tim mạchVăn hoáThể thaoLàm đẹpQuốc tếTư vấn sức khỏeSự hy sinh thầm lặng
    
Tổng biên tập
Thầy thuốc ưu tú
BS.Trần Sĩ Tuấn
Đường dây nóng 24/24h
0906277704
Nhận các thông tin phản ánh
bức xúc về KT-XH
Thứ sáu, 6/5/2011, 9:15 (GMT+7)

Lồi mắt do bệnh Basedow

Basedow là một bệnh lý của tuyến giáp. Bệnh xuất hiện do tuyến giáp sản xuất quá nhiều hoóc môn. Hàm lượng hoóc môn giáp cao trong máu gây ra những tổn hại về mô và chuyển hoá. Bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, song phần lớn là ở độ tuổi lao động, nữ giới hay mắc hơn nam giới. Trong bệnh Basedow, ngoài triệu chứng điển hình như bướu cổ, rối loạn tim mạch thì lồi mắt cũng là một trong những dấu hiệu hay gặp của bệnh. Nguy hiểm hơn chứng lồi mắt này nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời dễ viêm loét gây nhiễm trùng mắt, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa.
Khám bướu cổ cho bệnh nhân tại Bệnh viện Nội tiết TW. Ảnh: Khánh Linh

Nguyên nhân gây lồi mắt

Nguyên nhân cơ bản do thâm nhiễm tế bào Lympho đi kèm với sự phù nề của các mô và ở hốc mắt và sau nhãn cầu gây ra. Những thành phần này đẩy nhãn cầu ra phía trước làm cho mắt bị lồi. Khi mắt bị lồi cơ mi trên của mắt co lại, nhìn thấy cả vùng củng mạc trắng ở phía trên. Đi kèm với chứng lồi mắt, bệnh nhân thường cảm thấy chói mắt, chảy nước mắt, cảm giác như có bụi bay vào mắt hoặc rất nóng rát. Bên mắt lồi thường long lanh hơn bình thường, ít chớp mắt, người bệnh thường không nhắm kín mắt khi ngủ. Khi bị lồi quá mức, mắt sẽ không nhắm kín, mi hở nên giác mạc dễ viêm loét và tổn thương. Nếu không điều trị sớm sẽ dẫn đến nhiễm trùng mắt. Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị khô và loét giác mạc là nguyên nhân gây mù lòa vĩnh viễn. Độ lồi mắt nhiều hay ít không liên quan tới bướu cổ của bệnh nhân là to hay nhỏ. Mắt có thể lồi rất nhiều trên những bệnh nhân có bướu cổ nhỏ và ngược lại có thể lồi rất ít trên những bệnh nhân bướu cổ to. Lồi mắt thường xảy ra ở cả hai mắt, đôi khi rõ rệt ở một bên hơn là bên kia. Cũng có những bệnh nhân chỉ bị lồi một bên mắt nhưng rất hiếm gặp.
Trường hợp lồi mắt do bệnh Basedow. Ảnh: KH

Khi nào cần điều trị chứng lồi mắt do Basedow?

Nếu ở mức độ nhẹ như chưa có các triệu chứng cộm, chói mắt… bệnh nhân chưa cần điều trị. Khi bệnh nhân luôn có cảm giác chói mắt, chảy nước mắt, nóng rát hoặc như có bụi bay vào…bệnh nhân cần được điều trị. Việc điều trị sớm rất hiệu quả, nhiều bệnh nhân sẽ hết chứng lồi mắt. Tùy mức độ lồi mắt các bác sĩ có phác đồ điều trị thích hợp dùng thuốc, xạ trị hay phẫu thuật.

Việc điều trị chứng lồi mắt do bệnh Basedow phải tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ nhãn khoa và theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị. Người bệnh không tự ý nhỏ thuốc mắt hay thẩm mỹ viện ở những cơ sở y tế  không có uy tín. Quan trọng hơn, trong quá trình điều trị người bệnh tuyệt đối không được hút thuốc lá – đây là yếu tố làm bệnh nặng hơn. Khi có những dấu hiệu của lồi mắt do bệnh Basedow như: chói mắt, chảy nước mắt, nóng rát… cần đến ngay cơ sở  y tế có chuyên khoa mắt để khám và điều trị kịp thời.

Bác sĩ Huy Thái
(suckhoe-doisong)

Bạn biết gì về bệnh mắt hột?

Hiện nay, mắt hột là một trong những bệnh gây mù lòa trên thế giới. Bệnh rất dễ phát triển, nhất là ở những nơi thiếu nước sạch, lây lan do tình hình vệ sinh phòng bệnh kém.

Bệnh mắt hột là biểu hiện của viêm kết, giác mạc mạn tính, do Clamydia trachomatis gây ra với đặc điểm là hình thành những hột, những tổn thương sẹo đặc trưng ở mắt; bệnh có thể lây lan thành dịch.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bệnh mắt hột lây lan như thế nào?

Mắt hột có ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở những nước nghèo, chậm phát triển. Tình trạng vệ sinh càng kém thì sự sinh bệnh, lây truyền càng nặng; bệnh có thể lây lan do các yếu tố sau đây: nguồn nước bị ô nhiễm; dùng nước ao hồ trong sinh hoạt như tắm rửa, ăn uống; trong gia đình hay nhóm bạn, nhà trẻ dùng chung khăn mặt, thau rửa mặt, bồn tắm…

Biểu hiện của bệnh mắt hột

Tùy theo thể bệnh nhẹ hay nặng mà có những  biểu hiện: không có triệu chứng gì; có dấu hiệu nặng nề, kéo dài dai dẳng, nhiều biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến mù lòa. Bệnh biểu hiện rất đa dạng với các triệu chứng như sau: ngứa mắt; cảm giác vướng như có hạt bụi trong mắt; đau nhẹ, cộm xốn trong mắt; xem báo, đọc sách hay sử dụng máy vi tính nhanh mỏi mắt nhất là buổi chiều. Ở thể nhẹ hay gọi là mắt hột đơn thuần,  tổn thương chỉ xuất hiện ở lớp biểu mô kết mạc. Bệnh nhân không có triệu chứng gì, hoặc chỉ ngứa mắt, xốn mắt, mỏi mắt, đôi khi hay chảy nước mắt. Nhiều khi bệnh nhân không biết, không điều trị, bệnh có thể tự khỏi do thói quen sinh hoạt giữ vệ sinh sạch và không bị tái nhiễm,  không để lại di chứng và không gây mù. Đối với thể nặng tổn thương xâm nhập xuống cả những lớp sâu bên dưới của kết mạc mắt, có thể gây các biến chứng như lông quặm, lông siêu, sẹo giác mạc, nguy hiểm nhất là dẫn đến mù lòa. Bệnh trầm trọng, nặng nề và kéo dài, không thể tự khỏi nếu không được điều trị tốt. Bệnh nhân bị mắt hột có biến chứng sẽ có 3 triệu chứng: trụi lông mi, mắt ướt, bờ mi đỏ mà dân gian gọi là mắt toét.

Các biến chứng do mắt hột

Bệnh nhân bị mắt hột có thể dẫn tới các biến chứng: viêm kết mạc mạn tính bị đỏ mắt, ngứa, cộm, xốn quanh năm; lông quặm, lông xiêu là tình trạng tổn thương kết mạc bờ mi gây cho lông mi bị xiêu vẹo, biến dạng, quặp vào cọ xát liên tục vào giác mạc, gây tổn thương, trầy sướt, loét giác mạc, làm mờ đục giác mạc. Do vệ sinh kém bị nhiễm khuẩn gây viêm mủ nhãn cầu có thể phải khoét bỏ mắt hoặc viêm teo mắt dẫn đến mù lòa; Viêm sụn mi  là tổn thương làm bờ mi dày lên, xơ hóa, biến dạng sụn mi; Loét giác mạc làm bệnh nhân bị đau mắt, nhức mắt, sợ ánh sáng, hậu quả là biến dạng giác mạc gây loạn thị, đục giác mạc và dẫn đến mù lòa; Bội nhiễm là do bệnh mắt hột làm cho giác mạc bị tổn thương dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm virut và cả nhiễm vi nấm, dẫn đến viêm loét giác mạc, có thể gây mù lòa;  U hột ở rìa giác mạc lan vào diện đồng tử và có khi lan cả toàn bộ giác mạc;  Loạn thị vì sạn vôi và các sẹo mắt hột cọ sát lâu ngày trên giác mạc làm giác mạc ghồ ghề, lởm chởm, sai lệch đường đi của ánh sáng, gây loạn thị, giảm thị lực; Viêm tuyến lệ, tắc ống dẫn lệ dẫn đến mờ mắt, chảy nước mắt sống. Khô mắt, khô giác mạc: do các ống tuyến bị teo, giảm tiết dịch, mắt trắng khô, mờ hẳn, có thể dẫn tới tình trạng loét giác mạc, thủng giác mạc và gây mù mắt.

Kiên trì chữa trị

Bệnh mắt hột có các thể từ nhẹ đến nặng, những trường hợp nhẹ không cần điều trị cũng tự khỏi, các trường hợp nặng có thể gây biến chứng nguy hiểm cho mắt và đưa đến mù lòa nên phải điều trị tích cực. Phương pháp điều trị mắt hột phổ biến là dùng thuốc nhỏ mắt hoặc tra thuốc mỡ vào mắt. Có thể dùng một trong các thuốc sau để điều trị: mỡ tetracyclin 1%, tra mắt buổi tối mỗi tháng 10 ngày liên tục trong khoảng  6 tháng – 1 năm;  đồng thời uống một trong các thuốc tetracyclin, erythromycin hay doxycyclin x 3-4 tuần; Phẫu thuật xử lý các trường hợp biến chứng như lông quặm, sẹo giác mạc.

Làm gì để phòng bệnh đau mắt hột?

Bệnh mắt hột rất dễ mắc và lây lan thành dịch, có nguy cơ dẫn đến mù lòa nhưng có thể phòng tránh bằng các biện pháp đơn giản, dễ thực hiện như sau: luôn luôn rửa sạch tay mỗi khi lao động hay tiếp xúc với môi trường đất, nước bẩn; mọi người chú ý tập thói quen  không dụi tay bẩn lên mắt. Sử dụng kính khi đi đường tránh gió bụi vào mắt; rửa mặt bằng khăn mặt riêng; không sử dụng nước ao hồ để tắm rửa, tránh để nước bẩn bắn vào mắt; thường xuyên làm vệ sinh môi trường, diệt ruồi nhặng, gián, chuột; khi mắc bệnh phải điều trị bảo đảm thời gian theo hướng dẫn của bác sĩ…

Theo SK&ĐS

Vẩn đục dịch kính

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiKhi bị vẩn đục dịch kính, người bệnh cảm thấy như có ‘ruồi bay trước mắt’ nhất là khi nhìn lên tờ giấy trắng hoặc tường trắng.

Dịch kính là một chất giống lòng trắng trứng gà, trong suốt, nằm trong lòng nhãn cầu phía sau thủy tinh thể và chiếm 6/10 dung tích toàn bộ nhãn cầu. Dịch kính ở phía sau dính vào xung quanh bờ của gai thị và màng ngăn trong (limitante interne) của võng mạc, ở phía trước dính chặt vào ora serrata và phần sau của thể mi.

Dịch kính có nhiệm vụ tiếp truyền các tia sáng từ ngoài vào đi tới võng mạc, tham gia dinh dưỡng cho thủy tinh thể, võng mạc và giữ cho lớp thần kinh của võng mạc dính với lớp biểu mô sắc tố.

Bệnh lý ở dịch kính

Thường thì không có tổn hại riêng biệt ở dịch kính mà là biểu hiện của các quá trình bệnh lý của các màng trong nhãn cầu (tổn hại do thoái hóa hoặc tổn hại do viêm…). Kết quả là dịch kính bị biến đổi về cấu trúc và thành phần hóa học.

Tổn hại do thoái hóa:

– Dịch kính lỏng: Dịch kính không còn là một thể keo nữa mà trở nên lỏng và thường kèm theo vẩn đục. Dịch kính mờ hơn, trong có những sợi ngắn không đều xen kẽ và di động khi vận động nhãn cầu. Tổn hại này hay gặp trong các bệnh của màng bồ đào, viêm dai dẳng và đặc biệt trong cận thị nặng.

– Thể chơi vơi: Trong trạng thái bệnh lý các bạch cầu, tế bào lympho, tế bào sắc tố… xâm nhập vào dịch kính tạo thành những ‘thể chơi vơi’ dưới dạng bụi, sợi, màng mỏng hoặc di động cố định. Hiện tượng này hay thấy ở người già, người cận thị có tổn thương thoái hóa mạch máu, thoái hóa hắc võng mạc hoặc bị bong võng mạc.

– Nhuyễn thể lấp lánh: Là một thể thoái hóa đặc biệt của dịch kính, không gây rối loạn về thị giác thường kèm theo dịch kính lỏng. Lúc khám đồng tử giãn to, bằng ánh sáng chéo thấy phía sau dịch kính rất nhiều chấm trắng lấp lánh trong dịch kính. Soi đáy mắt thấy có những hạt tròn, to nhỏ khác nhau, màu trắng sáng óng ánh hoặc di động theo vận động nhãn cầu. Những hạt óng ánh này là những tinh thể tyrozin, cholesterin, có khi là vôi photphas, thường gặp ở người già, hoặc ở mắt đã thoái hóa vì bệnh lậu hoặc bị chấn thương cũ.

Tổn hại do viêm:

Sau các quá trình viêm có tính chất cấp ở màng bồ đào, trong dịch kính có vẩn đục thể bụi ở phần sau (thường là đặc hiệu của viêm do giang mai). Có khi dịch kính lại bị vẩn đục ở phía trước báo hiệu viêm mống mắt, thể mi nặng. Các viêm mạn tính nhất là có yếu tố nhiễm khuẩn phối hợp dịch kính có thể bị hoàn toàn thay thế bằng tổ chức liên kết, một trạng thái thành sẹo của dịch kính.

Bệnh nhiễm tinh bột:

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Hình ảnh nhìn thấy qua mắt bị vẩn đục dịch kính.

Đục dịch kính hai mắt là một biểu hiện sớm của bệnh nhiễm tinh bột gia đình hình thái di truyền trội. Nhiễm tinh bột có tổn hại dịch kính hiếm gặp trong các trường hợp không có tính gia đình. Ngoài lắng đọng dịch kính thể hiện trên lâm sàng, chất dạng tinh bột có thể lắng đọng ở mạch máu võng mạc, hắc mạc và vùng bè: Xuất huyết võng mạc, xuất tiết vết dạng bỏng và tân mạch võng mạc ngoại vi là những tổn thương đã được thông báo. Ngoài ra có thể thấy những dị thường của hốc mắt, các cơ ngoại nhãn, mi mắt và đồng tử. Những biểu hiện lâm sàng khác của bệnh này gồm bệnh đa thần kinh đầu chi trên, chi dưới và những dị thường của hệ thần kinh trung ương. Chất dạng tinh bột có thể lắng đọng ở nhiều cơ quan bao gồm tim, tuyến giáp, tụy và cơ.

Những vết đục dịch kính ngoại bào ban đầu dường như nằm sát các mạch máu, võng mạc phía sau, sau đó chúng phát triển ra phía trước. Ban đầu chúng có dạng hạt với những tua lưa thưa nhưng khi chúng to ra và nhập vào nhau, dịch kính trông như ‘bông thủy tinh’. Do dịch kính bị hóa lỏng hoặc bong phía sau những vết đục có thể di chuyển vào trục thị giác gây ra giảm thị lực và sợ ánh sáng.

Điều trị đục dịch kính như thế nào?

Do đục dịch kính có nhiều nguyên nhân gây nên, có thể do thoái hóa, do viêm hay do nhiễm tinh bột nên bệnh phân chia thành nhiều thể khác nhau. Chính vì vậy để điều trị khỏi bệnh cần xác định đúng nguyên nhân và có phương pháp phù hợp.

Lời khuyên:

Khi bạn phát hiện thấy có ‘cảm giác ruồi bay’, bạn nên đến cơ sở nhãn khoa gần nhất để được khám và tư vấn cụ thể, xem mình có bị vẩn đục dịch kính hay không?

Theo SK&ĐS

Kẻ thù của thận và mắt

Hai bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến suy thận và làm giảm thị lực. Tuy nhiên còn có những nguyên nhân khác gây suy thận thì thị lực vẫn có nguy cơ bị giảm. Điều nguy hiểm là đái tháo đường và tăng huyết áp không có những triệu chứng rõ rệt nên không được phát hiện sớm, không được chữa trị kịp thời, nên càng gây ra tổn thương nghiêm trọng cho thận và mắt.

Bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp đã phá hủy thận và mắt như thế nào?

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bong và rách võng mạc.

– Đái tháo đường có thể phá hủy thận, gọi là bệnh thận do đái tháo đường. Lượng đường tích tụ trong cơ thể có thể phá hủy các mạch máu, kể cả các mạch máu ở thận. Mức đường trong máu càng cao thì lượng máu chảy qua thận càng nhiều, làm các mạch máu vốn đã mảnh nay phải tăng cường hoạt động và gây tăng huyết áp. Thận bị tổn thương sẽ không có khả năng loại bỏ các chất độc hại và nước dư thừa, những chất độc hại này vẫn được giữ trong máu sẽ tích tụ ngày một nhiều làm quá trình phá hủy mạnh thêm, hậu quả là thận sẽ bị hỏng hoàn toàn. Vì suy thận ở bệnh nhân đái tháo đường xuất hiện dần dần, bệnh nhân có thể không nhận thấy các triệu chứng, chỉ đến khi thận bắt đầu suy mới nhận ra.

– Tăng huyết áp cũng có thể phá hủy thận: Xơ hóa mạch máu thận là một trong những nguyên nhân thường gặp của bệnh thận mạn tính tiến triển. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy mô đệm xơ hóa và angiotensin II đóng vai trò trung tâm trong bệnh thận. Nếu  kích hoạt hệ rennin-angiotensin-aldosteron sẽ gây nên tăng huyết áp hệ thống và tăng áp lực trong cầu thận làm ảnh hưởng huyết động tới nội mạc mạch máu và tiểu cầu thận. Angiotensin II có vai trò đa dạng và ảnh hưởng của cơ chế tác dụng ngược gây viêm và xơ hóa nhu mô thận. Trường hợp tăng huyết áp do đái tháo đường cần kiểm tra microalbumin niệu. Những bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối do tăng huyết áp thường dẫn đến phì đại thất trái và bị bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim. Thận suy lại làm tăng huyết áp. Khi huyết áp tăng cao sẽ phá hủy các mạch máu ở trong thận, thận không thể loại bỏ các chất độc hại và nước dư thừa nữa, lượng nước dư thừa lại làm cho huyết áp có thể tăng cao hơn nữa. Nếu thận sản xuất ra quá nhiều enzym, renin, huyết áp sẽ tiếp tục tăng cao. Dần dần, huyết áp cao sẽ làm cho các mạch máu trong thận trở nên nhỏ hơn và yếu đi, làm cho lượng máu cung cấp đến thận giảm và chức năng thận cũng giảm theo, hậu quả cuối cùng dẫn đến suy thận. Như vậy, đồng thời với suy thận là quá trình giảm thị lực. Mặt khác, bệnh thận cũng làm tăng huyết áp và giảm thị lực. Những bệnh về mắt phổ biến ở bệnh nhân suy thận là: bệnh về võng mạc, bệnh đục thủy tinh thể và tăng nhãn áp.

Bệnh võng mạc

Bệnh tăng huyết áp và tiểu đường làm cho những mạch máu nhỏ trong mắt bị tổn thương gây nên bệnh võng mạc. Khi nguyên nhân gây bệnh do đái tháo đường, thì gọi là bệnh võng mạc đái tháo đường. Đái tháo đường làm mức đường huyết tăng cao, mức đường huyết cao có thể phá hủy những mạch máu nhỏ trong thận và trong mắt. Tăng huyết áp làm căng quá mức thành mạch máu, dẫn đến bị đứt hoặc vỡ thành mạch. Hai bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường đều gây tổn thương võng mạc một cách âm thầm, bệnh nhân thường không cảm thấy các triệu chứng và chỉ biết khi đã bị tổn thương. Khi những mạch máu của võng mạc bị tổn thương, chúng trở nên yếu và có thể bị vỡ làm cho máu sẽ rò rỉ vào thủy tinh thể dẫn đến thủy tinh thể bị mờ đục và chặn ánh sáng nhận từ võng mạc. Tuy những mạch máu bị phá hủy sẽ được thay thế bởi các mạch máu mới, nhưng các mạch máu mới cũng lại quá yếu và có thể bị vỡ. Do càng nhiều máu rò rỉ vào thủy tinh thể, nên càng ít ánh sáng đến được võng mạc. Có  khi những tổn thương mạch máu này đã thành sẹo, các mô sẹo này có thể rơi vào tròng đen của mắt, mang theo cả võng mạc, gọi là bong võng mạc. Nếu đã bong võng mạc thì thị lực giảm rất nhiều, thậm chí có thể bị mù.  

Đục thủy tinh thể

Bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ bị đục thủy tinh thể rất cao, do mức đường huyết cao phản ứng với protein trong mắt và tạo thành một sản phẩm phụ ở trong thủy tinh thể và gây đục thủy tinh thể.

Tăng nhãn áp

Tăng huyết áp đồng thời cũng tăng nhãn áp. Khi nhãn áp tăng cao, thần kinh thị giác có thể bị phá hủy dẫn đến mất một phần hoặc hoàn toàn thị lực. Tăng nhãn áp là do  thủy dịch không thoát ra bình thường gây áp lực tác động lên mạch máu làm giảm sự cung cấp ôxy và dinh dưỡng cho thần kinh thị giác, dần dần các dây thần kinh thị giác bị phá hủy gây mất thị lực.

Cần làm gì để phòng và phát hiện bệnh sớm?

Nên khám và kiểm tra mắt định kỳ, đối với bệnh nhân đái tháo đường nên đi khám mắt 6 tháng một lần. Khám kiểm tra mức đường huyết hay huyết áp ở mức bình thường. Thực hiện đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ, uống thuốc đúng liều, tập thể dục đều đặn và ăn kiêng theo bệnh. Nếu thấy có biểu hiện bất thường như: nhìn mờ, nhìn một thành hai hay nhìn có bóng; thấy đau ở một hay cả 2 mắt, ánh sáng nhấp nháy, hoa mắt, thấy các điểm đen nên đi khám bệnh ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Theo SK&ĐS

Không nên chữa cận thị bằng phương pháp lasik cho trẻ

Đây là một phương pháp tuyệt vời cho rất nhiều người nhưng không phải cho tất cả, đặc biệt là người dưới 18 tuổi.
Báo GĐ&XH thời gian qua nhận được nhiều câu hỏi của độc giả về vấn đề phẫu thuật mắt bằng phương pháp sử dụng tia laser để tạo hình lại giác mạc (lasik) cho trẻ bị cận thị.

BS Nguyễn Thành Thái đang khám cho bệnh nhân cận thị.
(ảnh chụp sáng 14/4/2010 tại Bệnh viện Mắt Sài Gòn).

Phải có độ khúc xạ ổn định

Theo BS Nguyễn Thành Thái, Giám đốc BV Mắt Sài Gòn – Hà Nội, chữa cận thị phương pháp lasik là sử dụng tia laser để tạo hình lại giác mạc nhằm điều trị tật khúc xạ, giúp người bệnh nhìn rõ mà không phải đeo kính. Đây là phương pháp phẫu thuật hiện đại, đang được sử dụng nhiều tại các nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Pháp.

Phương pháp này là có thể  điều trị được cho cả bệnh cận thị, loạn thị, viễn thị. Những người trên 40 tuổi thường bị lão thị cũng có thể sử dụng phương pháp này.

Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân cần được nhắm mắt nghỉ ngơi trong vòng vài giờ đầu mà không cần phải kiêng khem trong vấn đề ăn uống. Đeo kính bảo vệ mắt 24/24, kể cả khi ngủ trong vòng 3 ngày đầu. Bệnh nhân chỉ cần tuân thủ các khâu vệ sinh theo hướng dẫn của bác sĩ như rửa sạch tay trước khi nhỏ thuốc, nhỏ thuốc theo đơn của bác sĩ…

Vài tuần đầu sau phẫu thuật cần hết sức tránh để nước bẩn, bụi, khói bay vào mắt. Cho mắt làm quen dần với tivi, máy tính ngay trong những ngày đầu sau mổ, song hạn chế xem ti vi và máy tính trong vòng 1 đến 2 tuần đầu. Tuy đang mùa lễ hội và sắp tới là mùa nghỉ mát, nhưng nếu xác định phẫu thuật lasik thì bệnh nhân không được đi bơi trong tháng đầu tiên.

Tuy nhiên, cũng theo BS Nguyễn Thành Thái, chỉ nên phẫu thuật khi bệnh nhân trên 18 tuổi và phải có độ khúc xạ ổn định. Ngoài những yêu cầu trên, để phẫu thuật đem lại hiệu quả thì chỉ nên phẫu thuật khi cận dưới 10 độ, loạn dưới 5 độ và không có các bệnh cấp hoặc mạn tính tại mắt như: Viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm màng bồ đào, glôcôm, giác mạc hình nón… và không có bệnh lý toàn thân ảnh hưởng đến phẫu thuật.

Những người có đồng tử quá rộng cũng không nên chữa cận thị bằng lasik vì tia laser sử dụng trong kỹ thuật này không được thiết kế cho những đồng tử rộng. Nếu cố phẫu thuật sẽ hay bị rắc rối như nhìn thấy quầng sáng sau khi mổ, đặc biệt là ở những nơi thiếu ánh sáng hoặc về đêm.

Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú không nên sử dụng phương pháp này. Trong trường hợp bệnh nhân chỉ cận nhẹ 1-2 độ, không bị lệ thuộc kính thì không cần phải mổ.

13 triệu/1 ca phẫu thuật

Chữa tật khúc xạ mắt có ưu điểm là độ an toàn cao, chính xác, không làm bệnh nhân bị đau hay chảy máu, cũng không phải uống thuốc kháng sinh hay gây tê. Thời gian phẫu thuật rất ngắn, chỉ từ 5-10 phút. Chi phí cho một ca phẫu thuật là 13 triệu đồng (chưa bao gồm tiền thuốc –  khoảng 300.000 đồng).

Những bệnh nhân ở gần, khi vào viện sẽ được kiểm tra đo các thông số kỹ thuật của mắt và hẹn mổ (thường sớm nhất là vào ngày hôm sau). Sau hậu phẫu là có thể ra viện về nhà. Còn những bệnh nhân ở xa về, các bác sĩ thường sắp xếp để phẫu thuật trong ngày nhằm giảm chi phí và thời gian.

Hiện nay, phương pháp phẫu thuật lasik ngày càng trở nên phổ biến. Ở Mỹ có đến 90% trường hợp bị tật khúc xạ được phẫu thuật bằng phương pháp này. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm là không thể điều trị cho những trường hợp bị cận thị, loạn thị quá cao, hoặc bệnh nhân bị nhiều bệnh lý phối hợp.

– Điều trị cận thị bằng lasik tỷ lệ thành công cao, được chỉ định mổ rộng rãi, nhưng nhất thiết phải được điều trị tại các cơ sở chuyên khoa, dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ, chứ không theo mách bảo của người khác.

– Khi mắc các bệnh về mắt, mọi người (nhất là trẻ em) cần tới khám ở bác sĩ chuyên môn sâu về nhãn khoa. Vì mắt trẻ có độ điều tiết rất lớn, nhiều khi máy đo tự động cho chẩn đoán cận thị, nhưng thực ra mắt chỉ mệt do điều tiết nhiều, lúc ổn định nếu đo sẽ có kết quả khác.

Hà Dương

(giadinh.net)