Lưu trữ cho từ khóa: cây thuốc

Lá chè xanh có chữa được bệnh tiểu đường?

Kết hợp dùng chè xanh với liều 10g/kg và alloxan thì đường huyết không tăng, chứng tỏ chè xanh ức chế sự tăng đường huyết.

Tôi năm nay 65 tuổi, bị bệnh tiểu đường, có người nói dùng lá chè xanh có khả năng chữa bệnh. Xin hỏi, có gì để chứng minh điều này không?Lê Thị Tuyết (Cầu Giấy, Hà Nội).

la-che-xanh-co-chua-duoc-benh-tieu-duong

ThS.BS Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm Khoa Y học Cổ truyền, Bệnh viện T.Ư Quân đội 108 trả lời:

Theo kết quả nghiên cứu trên động vật của các tác giả Trung Quốc và Nhật Bản, ngoài các tác dụng dược lý hết sức phong phú như điều tiết hệ thần kinh, giảm áp, hạ mỡ máu, chống ngưng tập tiểu cầu, chống phóng xạ và ung thư, kháng khuẩn và virus, chống oxy hóa và quá mẫn, cải thiện công năng miễn dịch của cơ thể… lá chè xanh còn có tác dụng giảm đường huyết.

Trên chuột nhắt trắng khi dùng alloxan gây hoại tử tế bào tuyến tụy thì đường huyết sẽ tăng gấp đôi, nếu kết hợp dùng chè xanh với liều 10g/kg và alloxan thì đường huyết không tăng, chứng tỏ chè xanh ức chế sự tăng đường huyết.

Trên thỏ dùng lá chè với liều 1,5g/kg đường huyết giảm khoảng 50-69%. Tuy nhiên, cho đến nay chưa thấy có công trình nghiên cứu nghiêm túc nào sử dụng độc vị chè xanh để trị liệu bệnh tiểu đường trên cơ thể con người.

Theo Kienthuc.net

Cây cơm cháy có tác dụng gì?

Cây cơm cháy còn có nhiều tên gọi khác như là cây sóc địch, cây thuốc mọi, tiếp cốt thảo… Cây mọc hoang ở miền núi, ven suối, bờ khe.

Cây cơm cháy là cây gì? Cây này thường được trồng ở đâu và có tác dụng gì?Lê Vũ Hoàng (Hà Nội).

cay-com-chay-co-tac-dung-gi

Cây cơm cháy.

Lương y Vũ Văn Sử, Hội Y học Cổ truyền Việt Nam:

Cây cơm cháy còn có nhiều tên gọi khác như là cây sóc địch, cây thuốc mọi, tiếp cốt thảo… Cây mọc hoang ở miền núi, ven suối, bờ khe. Đây là cây thân xốp sống nhiều năm, cao tới 3m, lá mềm, mọc đối, hoa nhỏ màu trắng, mọc thành chùm. Cây có thể được thu hái vào mùa hè thu, rửa sạch để dùng tươi hay phơi khô dùng dần.

Trong các bài thuốc dân gian, cây cơm cháy với vị chua, tính ấm, được sử dụng trừ phong thấp, đau nhức, bong gân, gãy xương, hoạt huyết tán ứ, kiết lỵ, hoàng đản, viêm khí quản mạn, phong chẩn, mụn nhọt lở loét, ngã chấn thương… Lá cây cơm cháy còn được dùng để nấu nước tắm cho sản phụ.

Theo Kienthuc.net.vn

Bài thuốc chữa bệnh từ cỏ cú

Cỏ cú còn gọi là cỏ gấu, củ gấu, củ gấu biển, củ gấu vườn, hải dương phụ, họ Cói, là loài cỏ sống lâu niên cao 20 – 30 cm. Theo Đông y, rễ chùm (củ) của cỏ cú để điều chế vị thuốc được gọi là hương phụ có vị cay, hơi đắng, hơi ngọt, tính bình…

Cỏ gấu là một loại cỏ sống lâu nǎm; lá nhỏ hẹ, ở giữa lưng có gân nổi lên, cứng và bóng, phần dưới lá ôm lấy thân cây; thân rễ phát triển thành củ; tuỳ theo đất rắn hay xốp củ phát triển to hay nhỏ. ở vùng bờ biển củ to, dài, chất lượng dược liệu tốt hơn, thường gọi là hải hương phụ (hương phụ vùng biển). Vào tháng 6, trên ngọn cây có 3 đến 8 cụm hoa hình tán màu xám nâu; nhụy có đầu núm chia thành 2 nhánh như lông tơ; quả 3 cạnh màu xám. Củ gấu có thể thu hoạch quanh nǎm. Thông thường, người ta đào củ về rửa sạch đất cát, phơi khô, đốt cho cháy hết lông, cất nơi khô ráo đề dùng dần làm thuốc.

bai-thuoc-chua-benh-tu-co-cu

Cây cỏ cú

Theo Đông y, rễ chùm (củ) của cỏ cú để điều chế vị thuốc được gọi là hương phụ có vị cay, hơi đắng, hơi ngọt; tính bình có công dụng chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, viêm tử cung mạn tính, đau dạ dày, ăn uống kém tiêu…

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6 – 12g. Dạng thuốc sắc, bột, viên, cao hay rượu thuốc. Dùng riêng hay phối hợp trong các phương thuốc phụ khoa, đau dạ dày.

Cách bào chế: Củ cỏ cú loại bỏ lông và tạp chất; rửa sạch để ráo sao đó nghiền vụn hoặc thái lát mỏng và đổ thêm giấm vào khuấy đều, ủ một đêm, đợi cho hút hết giấm, cho vào chảo sao lửa nhẹ đến màu hơi vàng, lấy ra, phơi khô. Cứ 10 kg Hương phụ dùng 2 lít giấm.

Một số bài thuốc có hương phụ:

Chữa kinh nguyệt không đều: Hương phụ 3g, ích mẫu 3g, ngải cứu 3g, bạch đồng nữ 3g, sắc với nước; chia 3 lần uống trong ngày.

Muốn cho kinh nguyệt đều, uống đón kinh 10 ngày trước ngày dự đoán có kinh hoặc gần kỳ kinh hay đau bụng hoặc hương phụ chế tán bột ngày uống 10g với nước nóng hoặc nước ngải cứu. Dùng liên tục trong một tháng hoặc có thể lâu hơn.

Chữa đau bụng, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa: Hương phụ 40g, riềng khô 80g (riềng chọn củ nhỏ màu vàng nhạt). Hai thứ tán nhỏ cất vào lọ kín, mỗi lần uống 6 – 8g (trẻ em mỗi lần uống 2 – 4g) với nước chè nóng. Uống 3 – 5 ngày.

Chữa tiêu hóa kém: Hương phụ (sao) 12g, vỏ quýt (sao) 12g, vỏ vối (sao) 12g, vỏ rụt (sao) 16g, chỉ xác 12g. Sắc nước uống 5 ngày.

Chữa cảm cúm, gai rét, nhức đầu, đau mình: Hương phụ 12g, tía tô 10g, vỏ quýt 10g, cam thảo 4g, hành 3 cây, gừng tươi 3 lát, sắc uống (đơn thuốc của Tuệ Tĩnh).

Chú ý: Người âm hư huyết nhiệt không nên dùng.

Bác sĩ  Hữu Đức

Theo Suckhoedoisong.vn

Bài thuốc chữa bệnh từ cây tây dương sâm

Tây dương sâm tên khoa học Panax quinquefolium L. nguồn gốc ở Hoa Kỳ, Canada, Pháp với nhiều tác dụng giống nhân sâm nên gọi là tây dương sâm.

Độ bổ của tây dương sâm không bằng nhân sâm, nhưng vì có tính lạnh lại bổ nhuận táo do đó những cơ địa ôn nhiệt vẫn dùng được. Trong khi đó, nhân sâm là vị thuốc có tác dụng đại bổ nguyên khí nhưng tính ôn táo nên dễ gây thượng hỏa nên cơ địa ôn nhiệt không dùng.

bai-thuoc-chua-benh-tu-cay-tay-duong-sam

Tây dương sâm là loại thuốc thích hợp cho mùa hè vì có công năng bổ dưỡng phế âm, thanh hư hỏa, dưỡng vị sinh tân. Tây dương sâm dược tính hàn lương, bởi thế người có thể chất hư hàn cần thận trọng khi sử dụng. Đông y cho rằng, tây dương sâm vị ngọt hơi đắng, tính lạnh, có tác dụng bổ khí dưỡng âm, thanh hư nhiệt, sinh tân dịch, trừ phiền khát, dùng trị chứng khí hư, âm suy hỏa vượng, khái suyễn đàm huyết, hư nhiệt phiền táo, nội nhiệt tiêu khát, miệng táo, họng khô…

* Trị lao phổi:

Tây dương sâm 5g thái lát cho vào cốc ngâm 30 phút rồi hấp cách thủy 30 phút lấy nước uống ngày 1 lần.

* Tăng cường thể lực:

Tây dương sâm chọn củ tốt thái phiến sao qua tán bột cất trong lọ kín dùng dần. Ngày uống 3 – 5g, chia 2 lần.

* Trị chứng mất ngủ, hay quên, tim hồi hộp

(do khí huyết hư nhược): Dùng tây dương sâm đơn thuần hoặc phối hợp với các vị thuốc khác như long nhãn với tỷ lệ 1:5, cho vào nước lạnh ngâm cho nở ra, rồi cho vào bát hấp cách thủy với đường thành dạng cao. Uống ngày 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh.

BS Hoàng Thanh Sơn

(nguyên chuyên viên Bộ Y tế)

Theo Kienthuc.net.vn

Bài thuốc chữa bệnh từ rễ cây qua lâu

Cây qua lâu (trichosanthes kirilowi maxim.) thuộc họ bí (cucurbitaceae), có tên khác là dưa trời, dưa núi, hoa bát, vương qua (tên gọi ở miền Bắc, dây bạc bát, bát bát châu (tên miền Nam), người Tày gọi là thau ca.

Đó là một dây leo có rễ củ thuôn dài thắt khúc. Lá mọc so le, hình tim, xẻ 5 thùy nông, có khía răng, mặt trên điểm những chấm trắng, tua cuốn chia nhánh. Hoa đơn tính màu trắng, đầu cánh có nhiều sợi dài; hoa đực mọc thành cụm dài, hoa cái đơn độc ở kẽ lá. Quả hình cầu hoặc hình trứng, màu lục có dọc trắng, khi chín màu đỏ, hạt nhiều, hình trứng dẹt, màu nâu. Rễ cây qua lâu còn gọi là qua lâu căn, tên thuốc trong y học cổ truyền là thiên hoa phấn.

bai-thuoc-chua-benh-tu-re-cay-qua-lau

Dược liệu có màu vàng hoặc nâu nhạt ở mặt ngoài, mặt cắt màu trắng có điểm mạch gân màu vàng, thể chất cứng rắn, khó bẻ gãy, vị nhạt sau hơi đắng, chua, không mùi, tính hàn, có tác dụng sinh tân dịch, chỉ khát, nhuận táo, giảm đau chữa sốt nóng, đái tháo đường, miệng khô, khát nước, đoản hơi, hoàng đản, lở ngứa, sưng tấy, trĩ rò. Ngày dùng 8 – 16g dưới dạng thuốc sắc hoặc thái mỏng, giã nát, ngâm nước, lọc lấy bột, dùng mỗi lần 4 – 8g. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

– Chữa sốt nóng, da vàng, miệng khô khát: rễ qua lâu 8g, rễ cây é lớn đầu 8g hoặc hạt đậu đen 8g, sắc với 200ml còn 50ml, uống làm 1 lần trong ngày.

– Chữa mụn nhọt lâu ngày: rễ qua lâu 8g; ý dĩ, bạch chỉ, mỗi vị 10g. Sắc hoặc tán bột uống.

– Chữa đái tháo đường: rễ qua lâu 8g; thục địa, hoài sơn mỗi vị 20g; đơn bì, kỷ tử, thạch hộc mỗi vị 12g; sơn thù, sa nhân mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Hoặc rễ qua lâu 12g, rau bợ nước 10g, phơi khô, tán nhỏ, hòa với sữa uống.

– Chữa tắc tia sữa: rễ qua lâu 8g; bạch thược 12g; sài hồ, đương quy, xuyên sơn giáp mỗi vị 8g; thanh bì, cát cánh, thông thảo mỗi vị 6g. Sắc uống trong ngày.

– Chữa sốt rét, thể rét nhiều, sốt ít hoặc không sốt: rễ qua lâu 8g; mẫu lệ 12g; sài hồ, quế chi, hoàng cầm mỗi vị 8g; can khương, cam thảo mỗi vị 6g. Sắc uống.

– Chữa thấp khớp mạn: rễ qua lâu, thổ phục linh, cốt toái bổ, thạch cao, kê huyết đằng, đơn sâm, sinh địa, rau má, uy linh tiên, hy thiêm, khương hoạt, độc hoạt mỗi vị 12g; bạch chỉ 8g; cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.

TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích

Theo Suckhoedoisong.vn

Chữa bệnh hen phế quản với lá bàng biển

Theo dược học cổ truyền, bàng biển vị đắng, hơi chát, tính mát, có công dụng tiêu độc, trừ đàm, giáng ngịch, trừ ho, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như hen phế quản.

chua-benh-hen-phe-quan-voi-la-bang-bien

Lá bàng biển. Ảnh : Internet

Bàng biển (bông bông, bòng bòng, cây lá hen, nam tỳ bà…) là một loại cây mọc hoang, lá thường được lấy quanh năm để chữa bệnh. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong nhựa mủ các bộ phận của bàng biển có chứa 2 resinol đồng phân  là a-calotropenol và b-calotropenol chủ yếu ở dạng ester của b-amyrin và axit acetic, axit isovaleric.

Nhựa mủ còn chứa glucation và một enzym tương tự papain. Phần trên mặt đất chứa isorhamnetin-3-O-rutinosid, isorhamnetin-3-O-glucopyranoside, ngoài ra còn có taraxasteryl acetat. Rễ có chứa calotroposid A và calotroposid B. Bên cạnh đó, vỏ rễ còn có giganticin là chất có tác dụng ức chế dinh dưỡng.

Với bệnh hen, người ta hái lá đem về, lấy khăn ướt lau sạch lông, thái nhỏ, sao qua cho héo. Mỗi ngày dùng 10 lá sắc với 1 bát rưỡi nước, cô còn 1 bát, sau đó chế thêm đường trắng, chia uống 3 – 4 lần trong ngày. Nước thuốc hơi đắng và tanh, uống nhiều một lúc có thể gây nôn. Nên uống xa bữa ăn hoặc sau khi ăn. Có thể thấy xuất hiện cảm giác mỏi chân tay, mình mẩy, đi lỏng nhưng rất hiếm. Kết quả thấy rõ sau 2 – 3 ngày, có khi sau 7 – 8 ngày, có trường hợp kết quả xuất hiện ngay sau 10 phút.

BS Xuân Mai

(Hội Đông y Việt Nam)

Theo Kienthuc.net.vn

Nhục đậu khấu có tác dụng chữa bệnh gì?

Hỏi:

Xin cho hỏi nhục đậu khấu có tác dụng chữa bệnh gì?

(Nguyễn Lê Mai – Đồng Tháp)

Trả lời:

Nhục đậu khấu còn gọi là nhục quả, ngọc quả, muscade, noix de muscade.

Tên khoa học Myristica fragrans Hourt.

Thuộc họ Nhục đậu khấu Myristicaceae.

Cây nhục đậu khấu cho ta các vị thuốc sau đây:

– Nhục đậu khấu (Semen Myristicae) là nhân phơi hay sấy khô của cây nhục đậu khấu.

– Ngọc quả hoa còn gọi là nhục đậu khấu y (Arillus Myristicae hay Macis) là áo của hạt nhục đậu khấu phơi hay sấy khô.

nhuc-dau-khau-co-tac-dung-chua-benh-gi

Nhục đậu khấu

Mô tả cây

Nhục đậu khấu là một cây to, cao 8 – 10m. Toàn thân nhẵn. Lá mọc so le, xanh tươi quanh năm, dai, phiến lá hình mác rộng, dài 5 – 15cm, rộng 3 – 7cm, mép nguyên, cuống lá dài 7 – 12mm. Hoa khác gốc mọc thành xim ở kẽ lá, có dáng tán. Màu hoa vàng trắng. Quả hạch, hình cầu hay quả lê, màu vàng, đường kính 5 – 8cm, khi chín nở theo chiều dọc thành 2 mảnh trong có một hạt có vỏ dày cũng bao bọc bởi một áo hạt bị rách màu hồng.

Phân bố thu hái và chế biến

Cây nhục đậu khấu được trồng ở miền Nam Việt Nam và Campuchia. Còn mọc ở Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, đã di thực được vào tỉnh Quảng Đông, miền Nam Trung Quốc giáp giới miền Bắc Việt Nam ta.

Trồng được 7 năm thì bắt đầu thu hoạch. Mỗi năm có thể thu hoạch 2 lần, một lần vào các tháng 11 – 12 và một lần vào các tháng 4 – 6. Khi đã bắt đầu thu hoạch thì có thể thu hoạch luôn trong vòng 60 – 70 năm. Mức thu hoạch cao nhất vào năm thứ 25. Từ năm thứ 10 đến năm thứ 25 hàng năm mỗi cây cho từ 1.500 – 2.000 quả, nghĩa là chừng 8 – 10kg quả. Sau khi hái quả, loại bỏ vỏ quả. Sau đó lấy riêng áo hạt, ngâm muối rồi phơi hay sấy khô. Hạch đem sấy ở lửa nhẹ (600) cho đến khi lắc lên thấy kêu lóc cóc (thường việc sấy này kéo dài tới 2 tháng) thì đem đập lấy nhân, phân loại to nhỏ rồi ngâm nước vôi này có mục đích để tránh bị sâu bọ mối mọt. Người ta phân loại nhục đậu khấu căn cứ vào to nhỏ.

Tác dụng dược lý

Nhục đậu khấu và ngọc quả hoa đều là những vị thuốc thơm, có tác dụng kích thích. Được dùng trong cả đông và tây y. Nhưng dùng với liều cao thì có thể gây độc. Dùng nguyên cả một hạt đã có hiện tượng độc. Sau một thời gian kích thích ngắn, có hiện tựơng mệt mỏi và ngủ gà. Purkinje đã cảm thấy hiện tượng tê mê sau khi dùng nhục đậu khấu. Theo Leclerc đã có nhiều trường hợp ngộ độc xảy ra ở Anh và Mỹ, trong đó có một trường hợp chết người với hiện tượng dãn đồng tử như khi bị ngộ độc do benladon.

Dùng ít thì xúc tiến hai dịch vị, giúp sự tiêu hóa, kích thích nhu động ruột, gây ăn ngon nhưng uống nhiều quá sẽ làm say tê, có khi tiểu tiện ra huyết rồi chết.

nhuc-dau-khau-co-tac-dung-chua-benh-gi

Công dụng và liều dùng

Nhục đậu khấu là một vị thuốc dùng để kích thích tiêu hóa, làm thuốc kích thích chung trong các trường hợp kém ăn, sốt rét.

Dùng dưới dạng bột hay dạng thuốc viên. Ngày uống 0,25 – 0,50g. Có khi có thể dùng 2 – 4g nhưng dùng liều quá cao có thể gây độc.

Bơ đậu khấu dùng để xoa bóp ngoài chữa tê thấp, đau người.

Ngọc quả hoa dùng như nhục đậu khấu.

Đơn thuốc có nhục đậu khấu

Chữa bệnh kém ăn ăn uống không tiêu:

Nhục đậu khấu 0,50g, nhục quế 0,50g, đinh hương 0,20g tất cả tán thành bột. Trộn với đường sữa 1g. chia làm 3 gói, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 gói.

Từ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS. ĐỖ TẤT LỢI

Theo Suckhoedoisong.vn

Bài thuốc chữa bệnh từ cỏ seo gà

Theo Đông y, cỏ seo gà có vị ngọt nhạt, hơi đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt trừ thấp, mát máu giải độc, cầm máu sinh cơ.

Cỏ seo gà trong Đông y thường gọi là Phượng vĩ thảo, có tên khoa học là Pteris multifida Poir., thuộc họ Cỏ seo gà – Pteridaceae.

Đây là loài cây thảo nhỏ, mọc thành bụi, cao tới 35-50cm. Thân rễ ngắn mọc bò. Cuống lá kéo dài, màu gụ bóng. Lá được chia ra làm nhiều đoạn xòe ra như đuôi gà, đuôi phượng, mép lá các đoạn có khía răng.

Có hai loại lá: Lá không sinh sản ngắn có mép nhăn nheo; lá sinh sản dài nhưng hẹp hơn, lá chét cuốn men theo sống lá, mép lá gập lại, mang túi bào tử dày đặc ở trong. Cây được thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc phơi khô trong râm.

Theo Đông y, cỏ seo gà có vị ngọt nhạt, hơi đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt trừ thấp, mát máu giải độc, cầm máu sinh cơ. Thường dùng trị kiết lỵ mạn tính, lỵ trực khuẩn, viêm dạ dày- ruột, viêm gan thể vàng da, viêm phổi khạc ra máu, viêm đường tiết niệu, đái ra máu, viêm họng, viêm tuyến nước bọt, đinh nhọt, ngứa lở ngoài da, rắn độc cắn, ăn nấm dại trúng độc; còn dùng trị bệnh phụ khoa.

bai-thuoc-chua-benh-tu-co-seo-ga

Dưới đây là các bài thuốc dùng cỏ seo gà:

– Chữa kiết lỵ thần diệu, phương cực hay trong “Nam dược thần hiệu”: Cỏ seo gà, dây mơ lông, rễ cỏ tranh, cây phèn đen, bằng nhau mỗi vị 20-30g, gừng sống 3 lát. Sắc đặc để nguội, uống vào lúc đói.

– Chữa kiết lỵ ra máu, mủ: Cỏ seo gà 40g, dây mơ lông 30g, Binh lang 10g, phèn đen 30g, hàn thẻ 10g. Sắc với 4 bát nước, còn 1 bát rưỡi chia 2 lần uống. Ngày uống 4-5 lần. Kiêng mỡ, cá tanh.

– Chữa lở loét, bệnh ngoài da: Cỏ seo gà đốt thành than tán bột, trộn với dầu vừng rồi bôi. Có thể dùng cây tươi giã đắp.

– Bỏng lửa, bỏng nước sôi (cấp độ 1): Dùng 150g cỏ seo gà sao qua than tồn tính, tán nhuyễn thành bột mịn, thêm dầu vừng và bôi vào vết bỏng.

– Mày đay: Dùng 150g cỏ seo gà, 10g muối ăn, nấu lấy nước rửa chỗ bệnh.

– Đao thương xuất huyết, chó nhà cắn bị thương: Dùng 30g lá cỏ seo gà, 30g lá Tử hoa địa đinh, tất cả đem giã nhuyễn bôi vào vết thương.

– Rết cắn, sâu róm đốt bị thương: Dùng 60g lá cỏ seo gà tươi, 30g lá non chua me đất hoa vàng. Tất cả đem giã nhuyễn, đắp lên chỗ bị thương.

– Thống kinh: Cỏ seo gà 30g, gừng tươi 15g, trứng gà 1 quả, đường cát trắng 15g. Đem cỏ seo gà và gừng tươi cùng chưng với nước, bỏ bã, nhân lúc còn sôi cho trứng gà, đường trắng vào đảo đều. Ngày uống 1 lần, liên tiếp trong 3 ngày.

– Xích bạch đới: Cỏ seo gà 30g, Bòng bong Nhật (Hải kim sa) 15g, rau mã đề 15g, rễ Ý dĩ 15g. Nấu lấy nước uống.

– Sa tử cung: Cỏ seo gà, lá Bạc thau, lớp da mỏng trong vỏ cây vông, Kim ngân hoa, Bấc lùng (Đăng tâm thảo), vỏ quả bầu nậm, sáp ong. Sáu vị trên đều bằng nhau, cho vào nồi đất, đổ nước ngập thuốc, sắc còn 1/3 rồi hòa sáp ong vào nước thuốc đang nóng, cho tan ra rồi uống.

LƯƠNG Y NGUYỄN THỊ HOÀN

Theo Nongnghiep.vn

Cách chữa viêm mũi dị ứng từ cóc mẳn

Cóc mẳn, còn được gọi là cúc mẳn, cúc ma, cỏ the, nga bất thực thảo…, có tên khoa học là Centipeda minima (L.). Cóc mẳn phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng đồng bằng, trung du và núi thấp, thường mọc nhiều ở những nơi ẩm thấp, ruộng bỏ hoang.

Đây là một loại cỏ mềm, mọc bò lan trên mặt đất, phân rất nhiều cành, ở ngọn có lông mịn trắng, nhưng toàn thân trông nhẵn bóng, lá đơn mọc so le, hình ba cạnh, đầu tù, phía cuống hẹp lại, mép có hai răng cưa, dài 10 – 18mm, rộng 6 – 10mm, gân chính hơi nổi ở dưới mặt lá, gân phụ không rõ, không có cuống. Người ta thường thu hái lúc cây ra hoa, dùng tươi hay phơi khô. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, cóc mẳn có tác dụng giảm ho, long đờm và chống dị ứng khá mạnh.

cach-chua-viem-mui-di-ung-tu-coc-man

Ảnh minh họa – Internet

Theo dược học cổ truyền, cóc mẳn vị cay, tính ấm, không độc, có công dụng trừ phong, tán hàn, tiêu viêm, giải độc, thông mũi họng, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như cảm mạo, viêm đường hô hấp trên, viêm mũi dị ứng, sốt rét, ho gà, mắt đau sưng đỏ có màng mộng, chốc lở, eczema, rắn cắn, tổn thương do trật đả… Cùng với các vị thuốc khác như kim ngân hoa, tân di, hoa cứt lợn tím, thương nhĩ tử…, cóc mẳn cũng có tác dụng chữa viêm mũi dị ứng khá tốt.

Cách dùng cụ thể như sau: Lấy cóc mẳn tươi rửa sạch, vò nát rồi nút vào lỗ mũi từng bên một trong khoảng 30 phút, mỗi ngày làm 2 lần. Hoặc dùng cóc mẳn phơi khô, tán thành bột rồi thổi vào lỗ mũi, mỗi ngày vài lần. Hoặc dùng bông gòn vô khuẩn thấm nước muối sinh lý, lăn qua bột cóc mẳn rồi nhét vào lỗ mũi từng bên một, sau 30 phút thì lấy ra, mỗi ngày làm 1 lần. Hoặc dùng cóc mẳn sắc đặc thành dạng cao rồi tẩm vào bông gòn vô khuẩn và nút vào lỗ mũi, sau 1 giờ thì lấy ra, mỗi ngày làm 1 lần. Nếu kết hợp sắc cóc mẳn 20g khô hoặc 40g tươi chia uống vài lần trong ngày thì hiệu quả càng cao hơn.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Theo Suckhoedoisong.vn

Bài thuốc chữa bệnh từ cây sói rừng

Đông y cho rằng, sói rừng có vị đắng, cay, tính hơi ấm, hơi có độc. Có tác dụng kháng khuẩn tiêu viêm, khu phong trừ thấp, hoạt huyết chỉ thống.

Sói rừng còn gọi là “sói nhẵn”, “cửu tiết trà”, “thảo san hô”, “quan âm trà”, “tiếp cốt mộc”, “cửu tiết phong”, “cửu tiết lan”, “sơn hồ tiêu”, “cốt phong tiêu”, “mãn sơn hương”, “kê cốt hương”, “tiếp cốt trà”…, tên khoa học là Sarcandra glabra (Thunb) Nakai, thuộc họ Hoa sói (Chloranthaceae).

Cây mọc hoang ở nhiều nơi, từ các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hoà Bình, Hà Tây (cũ) đến Kon Tum, Lâm Đồng… Hay gặp nhất ở các vùng núi đất, bìa rừng và ven đồi ẩm ướt. Một số nơi cũng trồng sói rừng để lấy hoa ướp trà.

bai-thuoc-chua-benh-tu-cay-soi-rung

Sói rừng là loại cây giàu dược tính nên được khai thác để sử dụng làm thuốc chữa trị nhiều bệnh. Để làm thuốc, có thể thu hái toàn cây vào mùa hạ, dùng tươi hay phơi khô trong râm (âm can). Rễ thu hái quanh năm, rửa sạch, cắt đoạn phơi trong râm, cũng được dùng tươi làm thuốc.

Là loài cây nhỏ, cao 1 – 2m; đốt phồng to, nhánh tròn, không lông, mọc đối. Lá mọc đối, có phiến dài xoan bầu dục, dài 7- 18cm, rộng 2 – 7cm, đầu nhọn, mép có răng nhọn, gân phụ 5 cặp; cuống ngắn 5-8mm.

Bông kép, ít nhánh, nhánh ngắn; hoa nhỏ, màu trắng, không cuống; nhị 1. Quả nhỏ, đỏ gạch, mọng, gần tròn 6x4mm. Mùa hoa vào tháng 6 – 7, mùa quả tháng 8 – 9.

Đông y cho rằng, sói rừng có vị đắng, cay, tính hơi ấm, hơi có độc. Có tác dụng kháng khuẩn tiêu viêm, khu phong trừ thấp, hoạt huyết chỉ thống. Chủ trị viêm phổi, viêm phế quản, viêm ruột thừa cấp tính, viêm dạ dày ruột cấp tính, lỵ nhiễm khuẩn, phong thấp đau nhức, đòn ngã tổn thương, gãy xương…

Trong dân gian, thường dùng rễ cây này ngâm rượu uống để chữa tức ngực, đau nhức xương khớp; còn dùng toàn cây sắc uống trị cảm mạo, kinh nguyệt không đều và viêm phổi. Lá sắc uống trị ho, giã đắp chữa rắn cắn.

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, sói rừng có tác dụng ức chế đối với tụ cầu khuẩn vàng staphylococcus aureus, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn bacillus coli, trực khuẩn mủ xanh bacillus pyocyaneus; trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn salmonella typhosa…

Lá có tác dụng kháng khuẩn mạnh nhất; rễ và cành tươi có tác dụng mạnh hơn rễ và cành đã khô. Đối với các loại tụ cầu khuẩn và trực khuẩn đều có tác dụng ức chế ở mức độ nhất định. Thử nghiệm đối với các bệnh nhân viêm phổi, viêm phế quản, viêm dạ dày ruột cấp tính, lỵ trực trùng… hiệu suất trung bình tới 75 – 80%.

Một số bệnh nhân, chỉ sau 1 – 2 ngày dùng thuốc, thân nhiệt khôi phục bình thường.

Liều dùng hàng ngày: Dưới dạng sắc nước uống từ 10 – 15g khô (30 – 40g tươi). Hoặc ngâm rượu. Dùng ngoài giã đắp hoặc nấu nước rửa.

Kiêng kỵ dùng với người âm hư hỏa vượng và phụ nữ có thai.

Dưới đây là cách trị bệnh từ cây sói rừng:

– Phòng cảm mạo: Dùng sói rừng 10 – 15g, mùa đông thêm tía tô 6g, mùa hè thêm kim ngân hoa 6g, sắc nước uống thay trà trong ngày.

– Chữa các chứng viêm nhiễm (có tác dụng chống viêm rất tốt): Mỗi ngày dùng 30 – 40g cành lá sói rừng tươi, sắc lấy nước, chia 3 lần uống, liên tục 2 – 3 ngày hoặc có thể kéo dài ngày hơn.

– Chữa đau lưng: Dùng cành lá sói rừng 10 – 15g, sắc với nửa rượu nửa nước, chia ra uống trong ngày.

– Chữa đòn ngã tổn thương, gãy xương, viêm khớp xương do phong thấp: Dùng cây tươi, giã nát, sao rượu, đắp; hoặc dùng 15-30g rễ sắc với nước hoặc ngâm rượu uống.

– Chữa ngoại thương xuất huyết: Dùng cây tươi, giã nát, đắp; hoặc dùng 15-30g rễ, ngâm rượu uống.

– Chữa vết thương loét, không liền miệng: Dùng cành lá, lượng thích hợp, nấu nước rửa, ngày 1- 2 lần.

– Chữa trị bỏng: Dùng lá sói rừng, phơi khô, tán mịn, trộn thêm 2 phần dầu hạt sở hoặc dầu vừng; hàng ngày bôi vào chỗ bị bỏng.

BS HOÀNG TUẤN LINH

Theo Nongnghiep.vn