Những ca phẫu thuật thời tiền sử

Với tình hình dịch COVID-19 do virus Corona đang bùng phát tại Việt Nam, Meo.vn khuyên dùng Nước rửa tay khô để diệt khuẩn phòng bệnh.

Trong những năm gần đây, các nhà khảo cổ học đã thực hiện một loạt khám phá cho thấy rằng con người ở thời đại đồ đá đã có những kiến thức đáng kinh ngạc về y học. Họ đã dùng những dụng cụ bằng đá để khoan răng cho bệnh nhân và thậm chí đã tiến hành khoan sọ trong khi bệnh nhân vẫn còn sống.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Từ khoan sọ…

Sự can thiệp bằng phẫu thuật thần kinh là một trong số những ca mổ phức tạp nhất trong y học. Điều đáng ngạc nhiên là cách đây 7.000 năm, con người đã bạo dạn thực hiện những ca phẫu thuật như vậy bằng cách khoan những lỗ trên sọ. Có thể giả định rằng ở thời đại đồ đá, trong số các binh sĩ và các thợ chuyên săn loài thú lớn, những chấn thương sọ não, kể cả giập xương sọ, không phải là chuyện hiếm. Do đó rất có thể việc khoan xương sọ tức là việc mổ hộp sọ đã trở thành một trong những thủ thuật lâu đời nhất mà các thầy thuốc thời cổ đại tiến hành đối với những người đồng bộ tộc.

Phẫu thuật này được thực hiện một cách thường xuyên hơn là chúng ta tưởng. Có lẽ công việc bắt đầu bằng việc loại bỏ những ngoại vật, chẳng hạn mũi tên xuyên vào xương sọ. Chuyện gì chờ đợi người được mổ? Không hiếm trường hợp bệnh nhân sống. Những vật tìm thấy thuộc thời đại đồ đá mới đã xác nhận điều ấy.

Chẳng hạn, trên chiếc sọ 6.500 tuổi được tìm thấy ở vùng Ichtingen (Đức), người ta đã thấy rõ mô xương mới được mọc lên dọc theo rìa vùng được khoan. Điều đó nói lên rằng bệnh nhân đã chịu được sự can thiệp bằng phẫu thuật và vết thương do thầy thuốc tạo ra đã liền sẹo.

Những dấu vết của việc liền sẹo cũng thấy được trên chiếc sọ người sống cách đây 7.000 năm. Có thể đó là vật tìm được cổ nhất trên thế giới với những dấu khoan. Con người này sống ở thời kỳ mà dân chúng ở Trung Âu vừa mới chuyển sang lối sống định cư. Trên chiếc sọ của ‘con bệnh ở Elzac’ thấy rõ hai lỗ khoan rất lớn có đường kính 6 và 9cm. Theo sự nhận định của các giám định viên, thậm chí sau những ca phẫu thuật như vậy, người đó còn sống thêm được vài năm nữa.

Hiện nay các nhà khoa học có trong tay hàng trăm cái sọ thuộc thời đại đồ đá, và trong 70-80% trường hợp, các bệnh nhân vẫn còn sống sau khi điều trị một cách triệt để như vậy.

Căn cứ vào những vật tìm thấy hiện được lưu giữ, các nhà khoa học đã phục hồi lại trình tự của cuộc mổ. Các phẫu thuật viên ở thời đại đồ đá đã thận trọng nạo sạch xương hết lớp này đến lớp khác. Việc này được tiến hành bằng những thanh đá lửa được ghép lại. Ưu thế của chúng không chỉ là có những cạnh sắc như dao cạo mà còn là sự vô trùng tương đối. Các bác sĩ hiện nay rất ca ngợi phương pháp được lựa chọn là nạo xương. Cách này hay hơn là đục thủng đầu bệnh nhân vì điều này có thể gây thương tổn màng não vốn nằm ngay dưới xương sọ.

Tấm màng này bảo vệ đại não khỏi bị nhiễm trùng. Nếu trong khe hở nhỏ tí giữa vòm sọ và màng não có sự chảy máu loang ra hoặc hình thành u lành tính thì đại não sẽ phải chịu áp lực lớn. Trong trường hợp này, để hỗ trợ cho bệnh nhân, cần phải đục một lỗ thủng trên sọ, song không được gây tổn thương cho não.

Trong ngành khảo cổ học từ lâu đã ngự trị một ý kiến cho rằng việc khoan sọ chỉ được thực hiện nhằm mục đích nghi lễ  mang tính chất ma thuật. Hoàn toàn phù hợp với quan điểm đó là những lá bùa dưới dạng cái được gọi là những đĩa khoan – những cái đĩa bằng xương có hình dáng giống như những cái lỗ được đục trên sọ. Tiện thể cũng nói thêm rằng cho đến nay vẫn thấy những chiếc sọ, chủ yếu là của đàn ông, với những vết khoan, điều này cho phép ta giả định rằng dường như chỉ có đàn ông mới tham gia vào những nghi lễ mang tính chất ma thuật ấy.

Tuy nhiên, việc khảo sát những chiếc sọ được tìm thấy bằng phương pháp định khu vi tính đã làm cho các nhà khoa học tin rằng những nguyên nhân dẫn tới việc khoan xương sọ thường mang tính chất y học thuần túy. Đó chính là cách điều trị cho bệnh nhân. Đặc biệt các thầy thuốc thường can thiệp để loại trừ hậu quả của sự tụ máu do sự va đập mạnh vào đầu gây nên, chẳng hạn do móng súc vật hoặc do con người.

Muốn làm cho máu bị ứ đọng thoát ra ngoài, người ta thường mổ sọ bệnh nhân. Trong trường hợp ngược lại, bệnh nhân có thể tử vong. Việc khoan cũng được tiến hành để lấy những mảnh xương sọ giập vụn, nếu như đầu bệnh nhân bị vỡ và để loại bỏ (hoặc để chỉnh lại) chỗ xương bị lõm do va đập.

Tất cả những điều này khiến các nhà khoa học hoài nghi đối với giả thuyết về việc sử dụng cách khoan sọ chỉ nhằm mục đích nghi lễ. Vả lại, những chiếc sọ của phụ nữ có dấu vết của cách điều trị như vậy cũng rất hiếm như trước đây.

Một trong những nguyên nhân có thể xảy ra đó là phụ nữ ít tham gia săn bắn hoặc giao chiến, bởi thế khả năng họ bị chấn thương nặng vào đầu ít hơn nhiều so với nam giới.

… Đến khoan răng

Mọi chuyện bắt đầu từ 11 cái răng được tìm thấy ở thị trấn Mehrgar nằm ở phía Tây thung lũng Haugơ thuộc lãnh thổ Pakistan ngày nay. Sau đó nhà nhân chủng học Roberto Makirelli đã phát hiện ra những lỗ nhỏ trong đám răng có đường kính 1,3 – 3,2mm và chiều sâu từ 0,5 – 3,5 mm.

Những lỗ thủng này có hình dáng khác thường – hình nón hoặc hình trụ – và được thực hiện một các rất kỹ lưỡng. Nhà khoa học giả định rằng có lẽ chúng được khoan bằng mũi khoan đá lửa. – ‘Độ chính xác của việc sử dụng dụng cụ thật đáng ngạc nhiên’. Trong một trường hợp khác, nha sĩ cổ đại thậm chí đã tìm cách khoan răng từ phía bên trong.

Thật khó mà hình dung nổi là phương pháp đó đã diễn ra như thế nào. Có lẽ các thầy thuốc thời xưa đã dùng chiếc khoan có lắp thiết bị đá lửa rất nhỏ. Chí ít các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy những mũi khoan. Puatie Makiarelli cùng các đồng nghiệp ở trường đại học đã chế tạo được một cái khoan nhỏ xíu bằng đá lửa và cho thấy rằng với sự hỗ trợ của thứ thiết bị nhọn như vậy có thể khoan một lỗ thủng trên răng trong khoảng thời gian dưới 1 phút hệt như các thầy thuốc thời tiền sử đã làm.

Ở mép lỗ thủng còn thấy rõ những thương tổn vốn xuất hiện khi người ta nhai thức ăn và như thế có nghĩa là răng được khoan khi bệnh nhân còn sống và anh ta đã nhiều lần nhờ đến tài điều trị của các bác sĩ thời tiền sử.

Những người này đã sống từ 20 đến 40 tuổi và được chôn cất tại nghĩa địa mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấy mới đây. Tuy vậy, bản thân cách điều trị bằng việc khoan men răng và ngà răng, rất đau đớn. Không hề có bất kỳ một loại thuốc gây mê nào, mặc dầu có thể bệnh nhân được uống một thứ dược liệu nào đó làm cho đầu óc đê mê.

Như vậy là người ta đã phát hiện ra những dấu vết của các cuộc phẫu thuật răng cổ nhất trên thế giới, bởi lẽ những chiếc răng được tìm thấy có từ 7.500 đến 9.000 tuổi.

Vậy có phải khoa răng miệng đã ra đời cách đây gần 4.000 năm như người ta đã dự đoán? Rõ ràng trong khoảng 15 thế kỷ, các thổ dân được khoan răng bằng kỹ thuật y học đá lửa, còn những ân nhân và những người hành hạ họ thì đã truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác kinh nghiệm giúp làm giảm bớt cơn đau cho bệnh nhân khi mắc bệnh viêm quanh răng và bệnh sâu răng.

Những lỗ khoan trên răng của bệnh nhân, theo sự khảo sát của các nhà khoa học, được trám bằng một chất dính như nhựa đường, có lẽ là chất hàn răng, có điều di tích của nó không lưu giữ được.

Gần 5.500 năm trước Công nguyên, những bí quyết của việc khoan răng có lẽ đã bị mai một. Trong các ngôi mộ ở những thời kỳ sau, các nhà khoa học không tìm thấy dấu vết của những cuộc phẫu thuật tương tự.

Lê Sơn (Theo ‘Znanie – sila’)

Mẹo sống an lành, làm hiệu quả:

Bài viết Những ca phẫu thuật thời tiền sử ( https://www.meo.vn/nhung-ca-phau-thuat-thoi-tien-su.html ) được sưu tầm bởi Mẹo vặt hay (https://www.meo.vn). Xin vui lòng giữ nguồn khi tái sử dụng thông tin. Chân thành cảm ơn.

Gửi phản hồi