U não có thể gây ra những biến chứng và đôi khi đe dọa tính mạng.
>> Kỳ 1 nguyên nhân nào gây ra u não
>> Kỳ 2 những biểu hiện và triệu chứng của u não
- Tắt nghẽn đường lưu thông của DNT từ não thất ba có thể gây chết đột ngột.
- Thoát vị não (cerebral hernia) tiến triển là một tình trạng hiểm nghèo do não bị đẩy thoát qua các lỗ trong hộp sọ.
- Đột quỵ do xuất huyết gây ra mất thị lực đột ngột và/hoặc mất ngôn ngữ, mất tri giác (mất tỉnh tảo) và liệt.
Chẩn đoán u não
Bước đầu tiên trong chẩn đoán u não liên quan đến việc đánh giá các triệu chứng và hỏi bệnh sử của bệnh nhân. Nếu có nghi ngờ do u não gây ra, nhiều xét nghiệm khác nhau sẽ được thực hiện để xác định chẩn đoán bao gồm: khám thần kinh, các xét nghiệm hình ảnh và sinh thiết (biopsy).
Những xét nghiệm hình ảnh để chẩn đoán u não
Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI scan: Magnetic resonance imaging) là xét nghiệm được chọn lựa cho u não. Năng lượng điện từ cho ra những hình ảnh điện toán chi tiết của não từ các góc độ khác nhau. Nó có thể phát hiện phù não và xuất huyết ( chảy máu) não. Trong một số trường hợp, chất cản từ được chích qua đường tĩnh mạch để cãi thiện hơn (làm rõ hơn) sự tương phản giữa mô não bình thường và mô bất thường. Không chỉ u não được nhìn thấy mà loại u gì đôi khi có thể được xác định.
Hình ảnh một trường hợp u màng não (Meningioma) được điều trị bằng xạ phẫu Gamma knife
CT scan MRI Gamma knife radiosurgery
Hình ảnh cắt lớp điện toán (CT scan hoặc CAT: Computed axial tomography) liên quan đến việc sử dụng tia X và máy tính để cho ra hình ảnh của não. Chất cản quang thường được chích qua đường tĩnh mạch để cãi thiện sự tương phản (rõ nét) giữa mô não bất thường và mô não bình thường.
PET scan (Positron emission tomography) giúp bác sĩ đánh giá chức năng não và sự phát triển của tế bào bằng cách cho ra những hình ảnh về những thay đổi vật lý và hóa học trong não. Dược chất phóng xạ được chích vào mạch máu sẽ được hấp thu bởi các tế bào u trong não. Đo đạt hoạt động của não bằng cách xác định nồng độ những chất này và rồi được xử lý bởi máy tính để cho ra các hình ảnh của não.
PET có thể định vị chính xác vị trí u và phát hiện u di căn hay tái phát ở giai đoạn sớm hơn so với MRI và CT scan. Kỹ thuật này cũng được sử dụng để đánh giá đáp ứng điều trị của u với hóa trị (chemotherapy) và xạ trị (radiotherapy).
Sinh thiết (Biopsy)
Phẫu thuật sinh thiết u là lấy một phần nhỏ u (có thể phải mở hộp sọ hoặc sinh thiết định vị với một thiết bị chuyên biệt – Stereotactic biopsy) rồi xem xét dưới kính hiển vi. Các bác sĩ giải phẫu bệnh lý sẽ cho biết u lành hay ác và chính xác là loại u gì (trong những trường hợp khó khăn cần phải làm thêm xét nghiệm hóa mô miễn dịch), từ đó có chiến lược điều trị phù hợp với từng loại u.
Đối với một số loại u não, phẫu thuật sinh thiết u não đôi khi không còn được xem là hoàn toàn cần thiết bởi vì sự phát triển của các kỹ thuật hình ảnh mới trong chẩn đoán. Với khả năng của CT và MRI sử dụng cùng các thuốc cản quang/cản từ hiện nay, một u não có thể được chẩn đoán là ác tính hay lành tính mà không cần nhất thiết phải mở sọ sinh thiết. Còn có nhiều tranh cãi trong vấn đề sinh thiết, sinh thiết u có lây lan tế bào ung thư đến các vùng khác trong não hay không?
Sinh thiết định vị u não với một thiết bị chuyên biệt (Stereotactic biopsy)
Các phương thức điều trị u não
Có nhiều phương thức điều trị đối với u não ác tính. Số lượng và loại phương thức được dùng điều trị tùy thuộc vào nhiều yếu tố: kích thước u, tốc độ phát triển và triệu chứng của bệnh nhân đang có. Bệnh nhân nên hiểu rằng có nhiều phương thức để điều trị u của mình và nên tìm kiếm thông tin tư vấn có giá trị từ các trung tâm y tế chuyên nghành và chuyên sâu.
Khi u não được chẩn đoán, một nhóm bác sĩ sẽ hội chẩn với nhau và rồi sẽ thảo luận với bệnh nhân và gia đình bệnh nhân các phương thức sẽ điều trị phù hợp nhất.
Các phương thức điều trị u não gồm có: phẫu thuật (surgery), xạ trị (radiotherapy) hoặc xạ phẫu (radiosurgery), hóa trị (chemotherapy).
Phẫu thuật: lấy bỏ u càng nhiều khi có thể, có thể cắt bỏ u hoàn toàn, bán phần hoặc chỉ một phần u.
Xạ trị hoặc xạ phẫu: dùng tia phóng xạ chiếu vào phần u còn lại sau phẫu thuật nhằm ngăn chặn sự phát triển tế bào u.
Hóa trị: tiêu diệt tế bào u còn lại càng nhiều càng tốt với các loại thuốc đặc biệt.
Tiên lượng sống còn của bệnh nhân bị u não tùy thuộc vào loại u, phân độ u, tuổi bệnh nhân, tình trạng chức năng trước điều trị, khả năng phẫu thuật lấy bỏ u …
| Biên dịch bởi: Ths.Bs Nguyễn Tường Vũ, nguồn Webmd, Irsa
Chuyên khoa: Ngoại Thần Kinh Công tác: tại bệnh viện chợ rẫy – Kinh nghiệm 16 năm Tư vấn và đặt hẹn khám bệnh: tại đây |
Nguồn sưu tầm từ: news.bacsi.com
Bài viết: Kỳ cuối một số biến chứng chẩn đoán và các phương thức điều trị u não (https://www.meo.vn/ky-cuoi-mot-so-bien-chung-chan-doan-va-cac-phuong-thuc-dieu-tri-u-nao.html) được biên tập bởi BTV Mẹo vặt hay (https://www.meo.vn). Vui lòng liên kết khi tái sử dụng. Cảm ơn.