Lưu trữ cho từ khóa: nhi khoa

Trẻ em cũng có thể mắc bệnh người lớn

Ai cũng nghĩ, người lớn mới mắc các bệnh phụ khoa (PK), đục thủy tinh thể (ĐTTT), tăng huyết áp (THA), viêm xoang (VX)… nhưng thực tế, không ít trẻ nhỏ cũng mắc những căn bệnh này.

Nhiều biến chứng

Nhiều phụ huynh khi thấy con có biểu hiện ngứa vùng kín, thường ngại đưa con đi khám vì sợ các bác sĩ làm rách màng trinh của trẻ, nên đã tự mua thuốc về xử lý. ThS-BS Đặng Lê Dung Hạnh – Trưởng khoa Khám bệnh A BV Hùng Vương TP.HCM – cho biết, nếu dùng thuốc không đúng, trẻ không được điều trị sớm, có thể dẫn đến tình trạng nhiễm trùng mạn tính, khi lớn để lại các di chứng như teo hẹp, tắc vòi trứng, vô sinh. Vì bệnh PK hiếm gặp ở trẻ (mỗi tháng BV Hùng Vương tiếp nhận chỉ từ ba – năm ca) nên tại Việt Nam, các BV nhi và sản khoa chưa có phòng khám và tư vấn dành riêng cho trẻ, mà thường kết hợp khám chung với người lớn. Khi thăm khám cho trẻ, các BS sẽ soi, xét nghiệm khí hư để tìm nguyên nhân, siêu âm bụng để phát hiện dị vật trong âm đạo, hoặc siêu âm đầu dò qua ngả hậu môn, thay vì qua âm đạo. Những cách này cho kết quả chính xác mà không làm tổn hại cơ quan sinh dục của trẻ.

Theo BS Nguyễn Thành Danh – Khoa Mắt, BV Nhi Đồng 2 TP.HCM, ở trẻ nhỏ, nguyên nhân gây ĐTTT thường gặp là do bẩm sinh và chấn thương. ĐTTT bẩm sinh chiếm tỷ lệ 3/1.000 trẻ sơ sinh. Bệnh xuất hiện ngay sau sinh hoặc ở tuổi nhũ nhi. Nguyên nhân do nhiễm trùng bào thai, di truyền, bất thường nhiễm sắc thể, rối loạn chuyển hóa (giảm canxi máu, hạ đường huyết…). ĐTTT do chấn thương (bị đánh, bị vật cứng đập vào mắt), thường xuất hiện ngay lúc bị thương. Nếu không được điều trị sớm, sẽ gây một số biến chứng như lé, nhược thị, mất chức năng thị giác hai mắt.

Hàng năm, BV Nhi Đồng 1 TP.HCM tiếp nhận khoảng 200 – 300 ca bệnh THA. THA ở trẻ em có hai dạng: thứ phát và nguyên phát. THA thứ phát chiếm phần lớn trong THA ở trẻ em. 80 – 90% trẻ THA thứ phát có thể xác định được nguyên nhân vì bệnh liên quan đến thận, các bệnh tim mạch và bệnh lý nội tiết. Còn THA nguyên phát (trẻ béo phì, chế độ ăn nhiều muối…) dù ít gặp ở trẻ nhưng là yếu tố nguy cơ dự báo THA và các bệnh lý tim mạch khi trẻ trưởng thành. Theo ThS-BS Đỗ Nguyên Tín – Phó trưởng Khoa tim mạch, BV Nhi Đồng 1 TP.HCM, THA nặng ở trẻ em có nguy cơ gây phì đại thất trái, bệnh lý não do THA, co giật, tai biến mạch máu não, tổn thương võng mạc và suy tim. Thậm chí, dù HA không tăng nghiêm trọng nhưng cũng có thể gây tổn thương các cơ quan, đặc biệt là tình trạng dày tâm thất trái nếu THA kéo dài mà không được can thiệp.

tre-em-cung-co-the-mac-benh-nguoi-lon

Theo nhận định của BS Đặng Hoàng Sơn – Trưởng khoa Tai mũi họng, BV Nhi Đồng 1 TP.HCM, VX ở trẻ không còn hiếm và ngày càng tăng, nhất là với trẻ dưới sáu tuổi. Bệnh xuất hiện rải rác, có khuynh hướng theo mùa. VX ở trẻ có hai dạng: cấp và mạn. VX cấp kéo dài dưới ba tuần, xảy ra khi trẻ bị các bệnh về đường hô hấp và kéo dài trên mười ngày. VX mạn là tình trạng VX cấp không được điều trị nội khoa đúng mức, bệnh lặp đi lặp lại và kéo dài trên ba tháng. Bệnh có thể biến chứng tại chỗ, viêm tấy vùng mặt, hốc mắt, viêm xương. VX sàng và VX bướm là hai dạng VX gây biến chứng nhiều đến dây thần kinh mắt, nên VX này ở dạng cấp có thể làm trẻ mờ mắt, không nhìn thấy; còn VX mạn có thể gây viêm thần kinh thị, mù mắt, biến chứng nặng nhất là vi khuẩn xâm nhập vào máu, gây viêm tắc xoang tĩnh mạch hang, gây viêm não, viêm màng não, áp xe não.

Khó trị, khó ngừa

Với bệnh PK, việc phòng ngừa cho trẻ khó hơn ở người lớn, khi bị bệnh, trẻ có thể ngứa ngáy, khó chịu, nên hay gãi vùng kín. “Phụ huynh cần quan sát, theo dõi, giải thích, giúp trẻ giữ gìn thân thể. Cần hướng dẫn trẻ làm vệ sinh sau mỗi lần đi tiêu tiểu, khi rửa hoặc lau chùi nên theo hướng từ trước ra sau để ngăn vi khuẩn lây nhiễm vào bộ phận sinh dục” – ThS-BS Đặng Lê Dung Hạnh khuyến cáo.

BS Nguyễn Thành Danh cho biết, điều trị ĐTTT ở trẻ em sau khi phẫu thuật khó hơn người lớn ở chỗ, dù đã phẫu thuật đạt kết quả và điều chỉnh quang học tốt, nhưng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ vẫn có nguy cơ bị nhược thị. Sau khi mổ, cần phải luyện tập thêm.

Với bệnh THA, ThS-BS Đỗ Nguyên Tín cho biết, chẩn đoán THA ở trẻ em rất dễ sai sót vì mức HA bình thường của trẻ thay đổi theo lứa tuổi, trạng thái tâm lý, các hoạt động khác nhau… Về điều trị, có nhiều khác biệt trong THA ở trẻ em so với người lớn như: thời gian THA không kéo dài như người lớn, mức độ nặng của THA nguyên phát không nhiều… nên các liệu pháp điều trị THA ở trẻ em phải tùy thuộc vào mức độ THA và biến chứng.

Theo BS Hoàng Sơn, bệnh VX nếu điều trị đúng kháng sinh, đúng liều, đúng thời gian sẽ khỏi. Việc điều trị ở trẻ khó hơn người lớn vì bệnh nhân phải dùng thuốc kéo dài và liều lượng thuốc phải đúng với độ tuổi, cân nặng. Ngoài ra, ý thức trẻ còn thấp, có những trường hợp mổ xong, do lối sống, vùng khí hậu ẩm, tiếp xúc với bụi đất… khiến bệnh tái đi tái lại. Ở trẻ có VA (viêm amidan), nếu bị nhiễm trùng mà không phẫu thuật nạo VA thì bệnh khó lành.

Theo Phunuonline.com.vn

Sai lầm phổ biến khi cho trẻ uống thuốc

Võ đoán, tùy tiện dùng thìa, tự điều chỉnh liều lượng, dừng thuốc quá sớm là những lỗi các mẹ thường mắc phải gây rủi ro cao cho sức khỏe của trẻ.

Dưới đây là 5 sai lầm phổ biến trong cách dùng thuốc cùng với lời khuyên của chuyên gia để các mẹ tránh mắc phải:

1. Võ đoán, không hỏi bác sỹ

Ví dụ, khi tai trẻ bị đau tai, các mẹ thường phỏng đoán là con bị nhiễm trùng tai. Đặc biệt các mẹ còn có thể tự điều trị nếu trong nhà có sẵn thuốc kháng sinh.

Theo các bác sỹ, các mẹ nên tránh việc tự chẩn đoán và tự dùng thuốc cho con.

“Loại thuốc kháng sinh dạng lỏng dùng cho trẻ em thường bị mất tác dụng khi được để chung với các loại khác. Hoặc khi bạn lấy để tái sử dụng, các gói thuốc có thể đã hết hạn”, giáo sư Roxanne Allegretti, bác sỹ chuyên về nhi ở Snowden, Fredericksburg, Hoa Kì cho biết.

“Ngoài ra các triệu chứng có thể là dấu hiệu của nhiều bệnh khác nhau. Đau tai có thể bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân như áp xe răng, viêm họng, viêm tai giữa, rối loạn chức năng vòi nhĩ, viêm tai ngoài…”, bác sỹ Allegretti cảnh báo.

“Rất nhiều bệnh không cần đến thuốc kháng sinh hoặc mỗi loại bệnh về tai cần một loại thuốc kháng sinh khác nhau. Vì vậy việc cho trẻ uống thuốc không đúng có thể làm trì hoãn việc chẩn đoán và làm cho bệnh của trẻ càng nặng hơn”.

sai-lam-pho-bien-khi-cho-tre-uong-thuoc

Dùng thìa trong bếp là một trong những sai lầm phổ biến của mẹ khi cho con uống thuốc. Ảnh minh họa: Internet

2. Dùng thìa trong bếp

Nếu trẻ cần uống uống, đừng lấy thìa ở trong bếp. Điều quan trọng khi dùng thuốc cho trẻ là phải sử dụng ống tiêm hoặc cốc có đánh dấu, xác định lượng thuốc rõ ràng. Nếu uống bằng thìa ở trong bếp, lượng thuốc cho trẻ uống hoặc nhiều, hoặc ít không thể xác định chính xác được.

“Thìa trong bếp có thể là thìa cà phê, hay thìa canh nhỏ có các kích thước chỉ nhỉnh hơn nhau một chút. Sai lầm có thể nghiêm trọng hơn. Ví dụ, nếu trẻ bị uống gấp đôi liều lượng acetaminophen (một thuốc giảm đau và giảm sốt) có thể sẽ bị những vấn đề về gan vì thành phần chính trong thuốc là Tylenol”, giáo sư cho biết.

Cô Allegretti khuyến cáo nên sử dụng ống tiêm hoặc những dụng cụ có thể đo lường được khi cho trẻ uống thuốc.

3. Tự điều chỉnh liều lượng

Một chút thuốc có thể có tác dụng, vậy thì thêm một chút nữa thuốc sẽ có tác dụng hơn? Điều này có thực sự đúng không?

Chắc chắn câu trả lời là không. Đừng bao giờ cho con uống thêm một chút thuốc với hy vọng con sẽ bớt đau hơn. Việc điều chỉnh thêm chỉ một chút liều lượng có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho trẻ.

“Nếu đó là một liều thuốc ức chế ho, nếu uống thêm liều lượng có thể gây ức chế hô hấp, hoặc một liều cao acetaminophen có thể gây tổn hại cho gan của trẻ”, cô cho biết.

4. Dừng thuốc khi thấy con có vẻ đỡ hơn

Nếu trẻ đã cảm thấy đỡ hơn sau vài ngày dùng thuốc kháng sinh thì có thể dừng việc dùng thuốc lại không?

Câu trả lời là không. Việc dừng thuốc quá sớm có thể không hoàn toàn loại bỏ được sự nhiễm trùng. Thậm chí tệ hơn nó còn tăng sức đề kháng của vi khuẩn trong cơ thể.

Việc làm này còn làm cho việc dùng thuốc kém hiệu quả hơn trong lần sử dụng tới. Ngoài ra, một số bệnh như viêm họng nếu không được điều trị đầy đủ có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng như tạo điều kiện cho sốt thấp khớp, hoặc đau tim phát triển.

Vì vậy nên chắc chắn có sự tham vấn của bác sỹ về thời gian dùng thuốc cho trẻ.

Theo Nguoiduatin.vn

7 bệnh bé dễ mắc phải vào mùa thu

Vào mùa thu, mức chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm có thể rất cao nên bé dễ bị viêm họng, tiêu chảy, viêm phế quản…

Dưới đây là 7 bệnh bé dễ mắc phải vào mùa thu:

1. Cảm cúm

Triệu chứng: Bé có thể sốt, ngạt mũi, đau họng, ho, hắt hơi, nhức mỏi toàn thân. Trong đó triệu chứng ngạt mũi, chảy nước mũi sẽ kéo dài hơn các triệu chứng khác.

Phòng tránh: Cần luôn giữ ấm cho bé khi thời tiết thay đổi (đặc biệt là các bé mới sinh), nhất là các vị trí quan trọng như bàn chân, bàn tay, ngực, cổ, đầu.

Hạn chế cho bé tiếp xúc với nhiều người, nhất là với những người có biểu hiện bị cúm.

Cho bé uống nước ấm, tránh ăn những thức ăn lấy trực tiếp ra từ tủ lạnh, kem, đá.

Tăng cường dinh dưỡng và vitamin C, cho bé uống nước đầy đủ vào mùa thu để giúp bé có sức đề kháng.

Với bé trên 6 tháng tuổi, có thể tiêm phòng cúm cho bé mỗi năm một lần.

7-benh-be-de-mac-phai-vao-mua-thu

2. Sốt phát ban

Sốt phát ban ở bé thường gây ra bởi virus sởi hoặc virus rubella. Bệnh gây ra bởi virus sởi còn gọi là ban đỏ, bệnh gây ra bởi virus rubella còn gọi là ban đào.

Sốt phát ban thường lây truyền qua đường hô hấp, khi bé hít thở chung nguồn khí với người bệnh.

Triệu chứng: Bé mệt mỏi, đau đầu, sổ mũi, đau họng, viêm kết mạc mắt, niêm mạc vòm họng có thể xuất hiện những chấm xuất huyết nhỏ.

Ở vị trí gần hai bên cổ, sau tai của bé sẽ xuất hiện hai hạch sưng to và đau.

Da bé sẽ xuất hiện những nốt đỏ nhỏ li ti ở vùng mặt rồi sau đó lan nhanh ra toàn thân và chân tay.

Phòng tránh: Cần cho bé tiêm phòng sởi và rubella theo chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia.

7-benh-be-de-mac-phai-vao-mua-thu

3. Viêm đường hô hấp

Khi thời tiết bắt đầu chuyển mùa, các loại virus hợp bào rất phát triển. Virus này trong không khí và khi xâm nhập vào cơ thể bé sẽ dễ dàng phá vỡ hệ thống đề kháng chưa hoàn chỉnh của bé, nhất là hệ hô hấp.

Đây là một loại virus nguy hiểm có khả năng làm cho bé bị viêm phế quản, viêm đường hô hấp, viêm phổi tùy theo từng mức độ từ nhẹ đến nặng.

Bệnh lây truyền qua đường miệng, nước bọt, tiếp xúc tay và các đồ dùng để ăn uống.

Biểu hiện: Bé có thể đột ngột sốt cao, đau đầu, lạnh toàn thân, đau toàn thân; đau họng, ho, mệt mỏi; chán ăn, khó thở, tiêu chảy nhẹ.

Phòng tránh: Thường xuyên rửa tay sạch sẽ cho bé bằng xà phòng.

Giữ ấm cơ thể cho bé và hạn chế đưa bé đến chỗ đông người.

Đeo khẩu trang cho bé khi đi ra đường. Tránh cho bé tiếp xúc với khói thuốc lá.

Bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cho bé.

Không nên cho bé đi bơi ở những bể bơi công cộng hoặc những khu vui chơi giải trí dưới nước, kể cả nước ấm.

4. Sốt xuất huyết

Bệnh do muỗi truyền, có thể xuất hiện quanh năm, nhưng phát triển mạnh vào mùa cuối hè, đầu thu, hoặc khi không khí ẩm thấp. Bệnh hay gặp ở bé, đặc biệt là dưới 10 tuổi.

Biểu hiện: Bé sốt cao đột ngột và liên tục (39-40°C) trong vòng 2-4 ngày, có thể xuất hiện dấu xuất huyết dưới da mọc thành từng đám rải rác, có thể xuất huyết ở niêm mạc miệng, đi tiêu ra máu…

Nếu nghi ngờ bé bị sốt xuất huyết, tuyệt đối không cho bé dùng thuốc hạ sốt loại Aspirin vì dễ làm tăng nguy cơ chảy máu, nên cho uống thuốc giảm sốt loại Paracetamol rồi nhanh chóng chuyển ngay tới bệnh viện kịp thời.

Phòng tránh: Để phòng chống bệnh sốt xuất huyết cho bé, các mẹ nên cho bé mặc quần áo dài tay, ngủ màn cả ban đêm lẫn ban ngày; không để bé ở nơi thiếu ánh sáng, ẩm thấp để tránh muỗi đốt; thoa thuốc chống muỗi lên những vùng da lộ ra ngoài để bảo vệ bé; đậy kín lu, vại, hồ, bể chứa nước, không tạo nơi cho muỗi đẻ và hàng tuần nên cọ rửa với bàn chải để trứng muỗi rơi ra; thả cá 7 màu diệt lăng quăng (bọ gậy).

Các gia đình cần phải thường xuyên dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, sạch thoáng, không treo quần áo làm chỗ cho muỗi trú đậu, loại bỏ các vật chứa nước đọng (gáo dừa, lon, đồ hộp, ly, chén, chai lọ vỡ…); thay nước bình hoa mỗi ngày; đổ dầu hôi hoặc pha nhiều muối vào bát nước chống kiến chân tủ thức ăn để triệt nơi sinh sản của muỗi. Có thể dùng thuốc diệt muỗi.

7-benh-be-de-mac-phai-vao-mua-thu

5. Viêm tiểu phế quản

Biểu hiện: Đây là bệnh hay gặp ở bé, nhất là 3-6 tháng tuổi. Cha mẹ không nên chủ quan khi thấy bé có những dấu hiệu như ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc cao. Sau 3-5 ngày thì bé ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít.

Nếu bé có dấu hiệu bệnh nhẹ, không có biến chứng, không có yếu tố nguy cơ thì có thể được chăm sóc tại nhà. Chú ý cho bé ăn uống đầy đủ, uống nhiều nước để tránh thiếu nước. Để giúp bé dễ thở và bú tốt hơn thì cần làm thông thoáng mũi cho bé, có thể bằng cách rửa mũi bằng nước muối Nacl 0,9%

Khi bé có dấu hiệu nặng như khó thở, bú kém, tím tái, có biến chứng cần cho bé nhập viện để điều trị.

Phòng tránh: Để ngừa sự tái phát bệnh, biện pháp tốt nhất là không để con tiếp xúc với nguồn bệnh bằng tuân thủ các biện pháp đơn giản sau:

Rửa tay bằng xà phòng trước khi săn sóc con.

Không hôn con.

Tránh để bé sơ sinh, 2-3 tháng tuổi tiếp xúc với môi trường đông người hoặc môi trường không khí quá tù hãm (duy trì sự thông thoáng của phòng bé).

Nếu bé bị sổ mũi, nên thường xuyên hút và rửa mũi cho con bằng dung dịch muối sinh lý nhằm ngăn chặn virus xâm nhập xuống khí phế quản.

Không cho con tiếp cận với những người đang có chứng sổ mũi hoặc dùng chung các dụng cụ của bé khác.

Không hút thuốc trong phòng của bé.

7-benh-be-de-mac-phai-vao-mua-thu

6. Tiêu chảy

Tiêu chảy cấp do rotavirus là bệnh thường gặp ở bé vào mùa thu đông, đặc biệt là bé từ 3 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi. Virus gây tiêu chảy có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường phân – miệng.

Biểu hiện: Thông thường bé sẽ nôn trước, sau khoảng 1-2 ngày thì bắt đầu đi ngoài. Bé có thể ho, sốt nên nhiều cha mẹ dễ nhầm với viêm đường hô hấp, viêm mũi họng. Bệnh thường kéo dài 3-7 ngày.

Biến chứng nguy hiểm là mất nước, mất muối quá nhiều, dễ dẫn đến trụy mạch, thậm chí tử vong nếu không được bù nước kịp thời. Vì thế, nếu chăm sóc ở nhà, cha mẹ nên cho bé uống dung dịch oresol theo đúng hướng dẫn ghi trên bao bì, không pha loãng hay đặc quá. Còn nếu thấy bé mệt quá, không ăn uống gì, không chơi, nằm li bì thì nên đưa bé đến bệnh viện để truyền dịch.

Ngoài ra, không nên kiêng khem quá mức trong việc ăn uống. Cần cho bé ăn những thức ăn dễ tiêu như cháo loãng, chuối tiêu, vẫn có thể uống sữa bình thường…

Phòng bệnh: Để phòng bệnh, tốt nhất cha mẹ nên đưa bé đi tiêm văcxin.

Mẹ cần đảm bảo vệ sinh cho bé trong ăn uống. Thức ăn vừa nấu xong, nên cho bé ăn ngay.

Với thức ăn chưa dùng hết, bảo quản tủ lạnh, nếu muốn dùng cho bé vào bữa sau thì cũng cần đun sôi kỹ lại.

Ngoài ra, cũng cần cảnh giác không cho bé tiếp xúc với những động vật nuôi trong nhà như chó, mèo, chim, gà hay như cả những loài vật không có lông khác như: Rùa, ốc, ba ba bởi đây là những loài động vật thường chứa mầm bệnh có thể lây truyền từ động vật qua bàn tay vào thức ăn.

7. Quai bị

Biểu hiện: Diễn biến bệnh thường nhẹ, bé có thể hơi sốt, mệt mỏi, ho; sau đó sưng, đau một bên mang tai rồi đau cả hai bên. 5-7 ngày sau bệnh có thể tự hết nếu diễn biến thông thường.

Biến chứng: Quai bị là một bệnh lành tính, tỷ lệ biến chứng là 1/1000. Bé trai có thể bị viêm tinh hoàn, xuất hiện trong khoảng 7-10 ngày sau khi sưng tuyến mang tai. Nếu không được điều trị kịp thời tình trạng viêm nặng hơn, sẽ ảnh hưởng đến ống dẫn tinh, một trong nhiều nguyên nhân gây vô sinh. Ngoài ra bé cũng có thể bị viêm não, viêm màng não, xảy ra vào ngày thứ 3-10 với các triệu chứng sốt cao, nhức đầu, ói mửa, đôi khi có co giật…

Nếu đang mắc bị quai bị mà bé có biểu hiện bất thường như: đau tinh hoàn, sờ rắn lại (ở bé trai), đau bụng dưới (ở bé gái) hoặc thấy đau đầu, nôn… thì cần đến bệnh viện để kiểm tra sớm.

Điều trị: Bệnh do virus nên không có thuốc điều trị đặc hiệu mà chỉ điều trị triệu chứng như hạ sốt, giảm đau… Có thể đắp ấm vùng tuyến mang tai nhằm giảm những cơn đau cho bé; chăm sóc răng miệng cho bé sạch sẽ; cho bé ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu và nhiều chất dinh dưỡng để tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Để phòng bệnh: Điều cơ bản là chống lạnh cho bé (mũ, áo, khăn quàng cổ, tắm nước ấm…) và đeo khẩu trang chống bụi cho bé.

Cha mẹ cần lưu ý thay trang phục cho bé phù hợp với nhiệt độ môi trường (buổi sáng và tối trời se lạnh thì mặc quần áo dài tay, trưa nắng thì thay quần áo cộc cho bé), hạn chế cho bé ra ngoài trời lúc có sương, gió.

Thường xuyên làm thông thoáng đường thở, vệ sinh mũi họng cho bé bằng nước muối sinh lý. Cho bé ăn uống đủ chất để có năng lượng chống lạnh và súc miệng nước muối hằng ngày.

Nên cho bé uống nhiều nước, ăn thêm các loại trái cây, kết hợp với chế độ dinh dưỡng hợp lý để nâng cao sức đề kháng. Đồng thời, cần vệ sinh môi trường sạch sẽ, thông thoáng khí.

Theo TTVN.vn

Phương pháp điều trị chứng đau đầu ở trẻ

Khi chứng đau đầu và đau nửa đầu xảy ra ở trẻ em, phụ huynh thường nghĩ tới dấu hiệu của bệnh u não hay những bệnh nghiêm trọng khác. Tuy nhiên, hầu hết những cơn đau đầu ở trẻ không quá nguy hiểm.

Nguyên nhân

Các dạng bệnh đau đầu mà trẻ em thường mắc phải thường giống với các triệu chứng của người lớn như căng thẳng thần kinh, đau nửa đầu, và đau đầu do viêm xoang. Vậy đâu là nguyên nhân của những chứng bệnh trên.

Việc trẻ em bị các bệnh đau đầu có cùng nguyên nhân với các chứng đau ở người lớn. Hầu hết các chứng đau đầu của trẻ xuất hiện là do đau ốm, các bệnh truyền nhiễm, cảm lạnh hoặc sốt cao. Tuy nhiên, đau đầu ở trẻ cũng là triệu chứng của các bệnh như viêm xoang, viêm họng hoặc viêm tai. Cho đến nay nguyên nhân thật sự dẫn đến bệnh đau nửa đầu vẫn chưa được xác định rõ, chỉ biết đây là những triệu chứng có liên quan đến sự thay đổi trong não bộ hoặc do di truyền. Ngoài yếu tố di truyền, đau nửa đầu còn là bắt nguồn từ mệt mỏi, thay đổi thời tiết, căng thẳng, lo âu, thất vọng, mất ngủ, hoặc đôi khi là do thực phẩm. Hoạt động quá nhiều cũng có thể gây đau đầu cho trẻ.

Khi các chứng bệnh đau đầu trở nên trầm trọng và xuất hiệu cùng với các triệu chứng liên quan đến thần kinh như giảm thị lực, sức khỏe yếu có thể là dấu hiệu của những căn bệnh nghiêm trọng như: tràn dịch màn não, viêm màng não, viêm não, xuất huyết não, u não, máu đông. Nếu bạn nghi ngờ con mình bị một trong những bệnh trên, hãy đến bác sĩ để có câu trả lời chính xác.

phuong-phap-dieu-tri-chung-dau-dau-o-tre

Ảnh minh họa: internet

Phương pháp điều trị

Bác sĩ sẽ đưa ra một vài phương pháp chữa trị, và bạn hãy làm theo chỉ dẫn để có thể đánh giá chính xác tình trạng bệnh của con. Phương pháp chữa trị thích hợp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có loại bệnh, mức độ thường xuyên xảy ra chứng bệnh, nguyên nhân và độ tuổi của bé. Bên cạnh việc dùng thuốc, một số phương pháp dưới đây cũng có thể hữu dụng.

Nghiên cứu về bệnh nhức đầu của bé. Phương pháp chữa trị này bao gồm nhận biết và ghi lại nguyên nhân làm bé bị đau như thiếu ngủ, không ăn xuống đều đặn, ăn những thức ăn có chứa chất gây nghiện hoặc caffein, môi trường, căng thẳng. Việc “ghi nhật ký” bệnh đau đầu của bé sẽ giúp bạn và cả bé có được thông tin chính xác. Tránh được những điều làm bé đau đầu có thể giúp cho quá trình điều trị thành công.

Kiểm soát sự căng thẳng. Để thành công trong việc chữa trị bệnh nhức đầu do căng thẳng, điều quan trọng đối với bé và phụ huynh đó là cần phải nhận biết điều gì làm bé căng thẳng, để từ đó có thể biện pháp chữa trị hiệu quả.

Khi bé bắt đầu việc chữa trị, bạn cần theo dõi chặt chẽ kết quả bằng việc sử dụng “nhật ký” đau đầu của bé và ghi lại hiệu quả mà phương pháp chữa trị mang lại cho bé. Điều quan trọng là bạn cần thực hiện đúng chỉ dẫn của bác sĩ để có thể thực hiện nhiều phương pháp chữa trị kết hợp nếu cần thiết.

Chứng đau đầu có thể gia tăng khi con bạn lớn lên. Tuy nhiên các chứng bệnh này cũng có thể biến mất và trở lại sau một thời gian dài. Chứng đau đầu và đau nửa đầu thường có xu hướng giảm ở bé trai khi lớn, tuy nhiên điều này ngược lại với các bé gái, do sự thay đổi hormone. Nguy cơ chứng đau nửa đầu xuất hiện ở bé gái cũng gấp ba lần bé trai ở tuổi dậy thì.

Theo Phunuonline.com.vn

Vì sao trẻ bị sốt xuất huyết không được uống các loại nước có màu sẫm?

Con tôi bị sốt xuất huyết, đi khám ở phòng mạch tư được bác sĩ truyền dịch và yêu cầu không được uống các loại nước có màu sẫm… Tôi không hiểu vì sao lại phải kiêng cữ như vậy?Hồng Nhung (TP.HCM)

vi-sao-tre-bi-sot-xuat-huyet-khong-duoc-uong-cac-loai-nuoc-co-mau-sam

ThS.BS Trần Thị Kim Ngân, khoa nội tổng hợp bệnh viện Nhi Đồng 2, TP.HCM:

Trẻ bị sốt xuất huyết có hiện tượng thoát huyết tương ra khỏi mạch máu, do đó dễ bị cô đặc máu, nên trẻ cần được truyền dịch khi bị sốt xuất huyết nặng (có sốc, xuất huyết tiêu hoá…), và sốt xuất huyết có dấu hiệu cảnh báo (nôn ói nhiều, đau bụng nhiều, cô đặc máu nhiều…) Trẻ sốt xuất huyết không được uống những loại nước hoặc ăn những chất có màu sẫm như đỏ, đen vì sẽ không phân biệt được chất nôn có máu hay tiêu ra máu. Tuy nhiên, trẻ có thể uống nước có gas không màu.

Theo SGTT.vn

Mắt bé có biểu hiện nhìn lệch, lớn lên có bị lác?

Con tôi được gần 2 tháng tuổi, từ khi mới sinh, mắt cháu đã có biểu hiện nhìn lệch (hai mắt không nhìn về một phía).

Nghe mọi người nói như thế là bình thường, sau này lớn lên, sẽ thay đổi. Nhưng tôi vẫn rất lo lắng. Không biết con tôi khi lớn lên có bị lác không? – Nguyễn Thị Hà (Tuyên Quang)

mat-be-co-bieu-hien-nhin-lech-lon-len-co-bi-lac

Bệnh lác hay lé mắt là bệnh phổ biến, nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh lác có thể chữa khỏi. Nếu để quá muộn bệnh lác có thể ảnh hưởng nặng tới thị lực của trẻ.

Lác là khi ta nhìn vật nào đó, hai mắt không thẳng hàng mà có một mắt lệch đi so với mắt kia. Có thể lệch vào trong gọi là lác trong, lệch ra ngoài gọi là lác ngoài, hoặc lệch lên trên gọi là lác đứng trên, lệch xuống dưới gọi là lác đứng dưới.

Lác làm cản trở sự phát triển thị giác hai mắt và có thể ảnh hưởng đến thị lực. Tuy nhiên, nhiều trẻ mới sinh mắt có những biểu hiện giống như hơi bị lác do sự phối hợp giữa hai mắt trẻ còn kém. Những trường hợp này phần lớn mắt trẻ sẽ trở lại bình thường sau đó. Nếu cháu mới hơn một tháng tuổi thì biểu hiện này không có gì đáng ngại. Tuy nhiên, nếu sau 3 tháng tuổi, chị để ý thấy mắt cháu vẫn bị như vậy thì phải lưu tâm.

Lúc đó, chị hãy chọn một đồ chơi có màu sắc sặc sỡ, hình khối rõ ràng, để cách mặt bé khoảng 20cm và di chuyển vật đó từ từ qua bên này rồi bên kia. Nếu hai mắt bé thực sự không cùng nhìn theo vật đó thì chị nên cho con đi khám ở bác sĩ chuyên khoa mắt để được tư vấn cụ thể.

BS Nguyễn Hà

Theo Suckheodoisong.vn

Những tác nhân gây dị ứng cho bé trong nhà

Có rất nhiều tác nhân trong nhà gây dị ứng cho trẻ, từ lông thú cưng đến các con bọ ve trong đồ chơi của bé, vì thế bạn cần có một kế hoạch để giữ cho nhà thật sạch sẽ để đảm bảo an toàn cho bé.

1. Bọ ve bụi

Bất cứ phòng nào trong nhà bạn có rèm cửa hoặc thảm trải (hay cả hai) đều có thể có bọ ve ẩn trong bụi bẩn. Loài gây hại này đặc biệt thích trú ngụ tại phòng ngủ – nơi có nệm, gối và chăn. Tuy bọ ve bụi không hại cho con người nhưng chúng có thể gây phiền toái cho những người dễ nhạy cảm, đặc biệt với phân mà chúng để lại. Cách tốt nhất để hạn chế loài côn trùng này đó là:

– Lau bụi thường xuyên bằng một miếng vải ẩm hoặc nước xịt.

– Hút bụi hàng tuần, và tốt nhất là sử dụng máy hút bụi có một bộ lọc thu được loài bọ ve (và các chất gây dị ứng trong nhà khác).

– Thường xuyên thay, giặt chăn, ga, gối bằng nước nóng (trên 55 độ c).

– Mỗi tháng một lần, lau và giặt rèm cửa.

– Sàng lọc đống thú nhồi bông trong phòng con bạn – giặt sạch mỗi tuần nếu có thể.

– Đừng quên cài đặt bộ lọc trên lỗ thông hơi của điều hòa nhiệt độ và thay chúng mỗi năm một lần.

2. Nuôi thú cưng

Có thể không cần ai nói với bạn về những lợi ích của việc nuôi thú cưng trong nhà, nhưng có một lợi ích lớn hơn cho các bé mà bạn không biết. Nhiều nghiên cứu cho thấy có vật nuôi trong nhà trong năm đầu tiên của trẻ thực sự có thể bảo vệ trẻ khỏi dị ứng vật nuôi. Nhưng nếu lông của thú cưng khiến trẻ khó thở và hắt hơi, bạn hãy tách vật nuôi và các con ở mỗi phòng khác nhau nhé.

3. Nấm mốc

Nấm mốc có thể phát triển rất trong những căn phòng ẩm ướt nhất nhà bạn – phòng tắm, nhà bếp, phòng giặt hay nhà kho. Để ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc, hãy lắp hệ thống thông gió cho các phòng, hoặc sử dụng một máy hút ẩm nếu nhà bạn quá ẩm ướt. Nấm mốc có thể xuất hiện trên thùng rác, rèm cửa nhà tắm và gạch phòng tắm, vì thế  việc làm sạch các khu vực này với một dung dịch thuốc tẩy hoặc thuốc chống nấm mốc là rất cần thiết.

4. Chuột và gián

Không có gì có thể gây dị ứng nhanh hơn so với một con chuột hay một con gián. Nhiều nghiên cứu chỉ ra những sinh vật này là nguyên nhân gây dị ứng gây hàng đầu cho trẻ nhỏ. Phân chúng thải ra cũng như các chất gây dị ứng khác của chúng có thể dẫn đến bệnh hen suyễn. Vì vậy, bạn nhớ giữ thực phẩm trong tủ lạnh và nếu để ngoài thì phải được bọc kín.

Theo Afamily.vn

Có cách nào để phòng nhiễm sốt virus cho trẻ?

Việc phòng tránh sốt virus là rất khó và cũng không cần thiết bởi sốt virus không chỉ lây trực tiếp mà lây từ trong không khí.

Con tôi 2 tuổi, vừa bị sốt cao 4 ngày 3 đêm, có lúc sốt đến 40,2o nhưng không ho, không sổ mũi, không khò khè. Tôi đoán cháu bị sốt virus nên chỉ cho uống hạ sốt. Quả nhiên là sau đó cháu khỏi. Tuy vậy, sau đợt ốm cháu bị sụt cân, lười ăn. Có cách nào để phòng nhiễm sốt virus không? Bùi Hòa Bình (Yên Thế, Bắc Giang).

co-cach-nao-de-phong-nhiem-sot-virus-cho-tre

Ảnh minh họa.

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng

, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội:

Bạn đừng quá lo lắng về việc cháu sụt cân, lười ăn sau đợt ốm, bởi sau đó cháu sẽ ăn trở lại như một nhu cầu tự nhiên. Sốt virus nếu không có biến chứng thì ít ảnh hưởng gì. Việc phòng tránh sốt virus là rất khó và cũng không cần thiết bởi sốt virus không chỉ lây trực tiếp mà lây từ trong không khí. Mặt khác, nếu một người chưa nhiễm virus đó thì trước sau cũng nhiễm.

Tuy nhiên, có người nhiễm chỉ ho lằng nhằng vài hôm là khỏi, có người lại sốt thoáng qua, có người sốt một hôm, có người lại sốt hàng tuần… Việc tiêm văcxin để phòng sốt virus (cũng như phòng cúm) cũng chưa thực sự hiệu quả bởi virus biến chủng liên tục. Sốt virus có thể khiến trẻ em cũng như người lớn ho, đau mỏi người, nổi ban, đi ngoài nhẹ.

Khi sốt virus nhẹ, chỉ cần cho hạ sốt nếu sốt trên 38,5 độ; nếu bị ho thì dùng thuốc ho, nếu đau người thì dùng thuốc giảm đau. Việc phòng sốt virus bằng cách ly là không hiệu quả.

Theo kienthuc.net.vn

Chuẩn bị tâm lý cho trẻ khi phải nằm viện

Nếu bé phải nằm viện, cha mẹ nên cung cấp cho bé những thông tin trung thực. Điều này nhằm giảm bớt nỗi sợ hãi và tưởng tượng thái quả ở bé về những chuyện sẽ xảy ra.

Bình tĩnh nói chuyện với bé về sự kiện sắp tới. Cho bé cơ hội để chia sẻ cảm xúc của bé và đặt ra những câu hỏi. Con của bạn có thể bị lo lắng quá mức về một điều gì đó có thể không xảy ra. Nên trung thực với bé vì như thế sẽ giúp bé tin mẹ và tin tưởng ở bác sĩ cũng như bệnh viện.

Lời khuyên giúp bạn chuẩn bị tâm lý cho con nếu con phải nằm viện:

– Bé càng biết trước lý do vì sao bé phải nằm viện thì bé càng thoải mái hơn với điều này. Nếu bé nhà bạn dưới 5 tuổi, bạn nên nói về chuyện nằm viện với bé trước 1-2 ngày. Các bé càng lớn thì càng cần có thời gian tương đối để chuẩn bị tâm lý và đặt câu hỏi (có thể trước từ một vài ngày tới một tuần).

– Bạn không nhất thiết phải nói hết toàn bộ sự thật cho bé. Nếu nói giảm mà tránh được tổn thương cho con thì bạn nên làm thế.

– Nhưng tất nhiên, bạn cũng cần trung thực để bé yên tâm. Nếu bạn chưa tìm ra câu trả lời cho câu hỏi của bé, hãy cho bé biết là bạn chưa có đáp án nhưng bạn sẽ cố gắng tìm ra.

chuan-bi-tam-ly-cho-tre-khi-phai-nam-vien

– Sử dụng các từ đơn giản, đảm bảo là bé đủ hiểu.

– Khuyến khích bé chia sẻ cảm xúc, đặt câu hỏi về thời gian phải nhập viện sắp tới nhưng không nên dồn ép nếu bé nhà bạn chưa sẵn sàng.

– Nhấn mạnh với bé rằng thời gian nằm viện chỉ là tạm thời.

– Cam đoan với bé bố mẹ, ông bà, người thân sẽ ở bên bé thường xuyên, ngay cả ban đêm.

– Chuẩn bị hành trang nhập viện với những đồ mà bé muốn, chẳng hạn một chiếc áo ngủ của bé.

– Chỉ ra sự tương đồng giữa bệnh viện với ở nhà như bé có thể được chơi, được ăn, ngủ cùng mẹ…

– Chọn một cuốn sách kể về các nhân vật nằm viện và đọc nó cho bé nhà bạn.

Theo Afamily.vn

Làm cách nào để phân biệt được co giật là do sốt hay do bệnh lý về thần kinh?

Co giật do sốt có thể gặp ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi. Co giật toàn thể cơn ngắn vài chục giây đến vài phút, ngoài cơn là bệnh nhân tỉnh táo hoàn toàn không có yếu liệt…

Trẻ nhỏ hơn 5 tuổi có sốt kèm co giật. Xin bác sĩ tư vấn giúp cách phân biệt được co giật là do sốt hay do bệnh lý về thần kinh? Muốn kiểm tra thì có làm được không?Mai Thu Hạnh (quận 1, TPHCM).

lam-cach-nao-de-phan-biet-duoc-co-giat-la-do-sot-hay-do-benh-ly-ve-than-kinh

Ảnh minh họa.

TS.BS Lê Thị Khánh Vân

, Trưởng khoa Nội thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM:

Co giật do sốt có thể gặp ở trẻ từ 6 tháng – 5 tuổi. Co giật toàn thể cơn ngắn vài chục giây đến vài phút, ngoài cơn là bệnh nhân tỉnh táo hoàn toàn không có yếu liệt sau cơn và thường không có một bệnh lý thần kinh kèm theo. Sốt co giật tương đối thường gặp ở trẻ em, có một số trường hợp liên quan tới nguy cơ bị động kinh.

Có những trường hợp bệnh động kinh khó điều trị (do xơ chai hồi hải mã thùy thái dương) trong tiền căn trẻ có sốt co giật. Để đánh giá co giật do sốt hay co giật do bệnh lý thần kinh, các bác sĩ sẽ làm thêm một số xét nghiệm cần thiết như điện não đồ, chọc dò dịch não tủy, chẩn đoán hình ảnh…

Theo Kienthuc.net.vn