Lưu trữ cho từ khóa: bệnh mãn tính

Ngủ quá 10 tiếng/đêm làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạn tính

Theo nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu Sleep Medicine (Mỹ) đã chỉ ra rằng ngủ quá 10 tiếng/đêm làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim, đái tháo đường và béo phì.

ngu-qua-10-tiengdem-lam-tang-nguy-co-mac-benh-man-tinh

Ảnh minh họa – Internet

Nghiên cứu được tiến hành trên 54.000 người Mỹ trên 45 tuổi về mối liên hệ giữa các rối loạn về giấc ngủ với chứng đái tháo đường, béo phì và tim mạch. Kết quả cho thấy hơn 1/3 trong số người tham gia nghiên cứu có giấc ngủ quá dài (hơn 10 tiếng mỗi ngày) đối mặt với nguy cơ mắc bệnh mạn tính cao.

TS. Janet Croft, chuyên gia bệnh mạn tính tại Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ cho biết: “Kết quả này cho thấy các bác sĩ nên xem xét giám sát sức khỏe tinh thần và trọng lượng cơ thể và thời lượng giấc ngủ với các bệnh nhân có bệnh mạn tính”.

Theo Anninhthudo.vn

Nguy cơ mắc bệnh mạn tính do ngồi nhiều

Các nhà nghiên cứu Mỹ cho biết những người ngồi càng nhiều thì nguy cơ bị mắc các bệnh mạn tính càng cao.

Richard Rosenkranz, giáo sư về dinh dưỡng tại Đại học bang Kansas, Mỹ và các cộng sự đã xem xét mối liên quan giữa thời gian ngồi và các bệnh mạn tính ở 63.048 nam giới Australia độ tuổi từ 45-65.

nguy-co-mac-benh-man-tinh-do-ngoi-nhieu

Ảnh minh họa

Những người tham gia báo cáo về các bệnh mạn tính họ mắc phải và thời gian ngồi mỗi ngày, được chia thành dưới 4 giờ, 4-6 giờ, 6-8 giờ và hơn 8 giờ.

So với những người ngồi ≤ 4 giờ/ngày, thì những người ngồi hơn 4 giờ/ngày dễ bị mắc các bệnh mạn tính như ung thư, tiểu đường, bệnh tim và cao huyết áp hơn.

Những người ngồi ít nhất 6 giờ/ngày cũng tăng rõ khả năng bị mắc bệnh tiểu đường. Nguy cơ mắc các bệnh mạn tính là cao nhất ở những người ngồi từ 8 giờ/ngày trở lên.

Nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí International Journal of Behavioral Nutrition and Physical Activity.

(Theo Gia đình & Xã hội)

Xác định được bản đồ ADN của khối u

Các nhà khoa học Anh dự đoán rằng ung thư sẽ sớm trở thành căn bệnh có thể kiểm soát khi xác định được bản đồ ADN của các khối u, theo Telegraph.

Các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu ung thư ở London (Anh) đang tiến hành một dự án nghiên cứu trong 3 năm để xây dựng hồ sơ di truyền của bệnh ung thư.

khoi-u
Tế bào ung thư – Ảnh: Shutterstock

Theo đó, họ sẽ xác định bản đồ ADN của các khối u, mã di truyền và trình tự sắp xếp của chúng. Các bác sĩ sẽ căn cứ vào đó để kê chính xác loại thuốc cần dùng và kiểm soát căn bệnh.

Đây sẽ là bước quan trọng để biến một số bệnh ung thư trở thành bệnh mãn tính, thay vì là bệnh nguy hiểm chết người như hiện nay.

Kỹ thuật này sẽ giúp cho những bệnh nhân mắc bệnh nan y có thể sống thêm một thập niên nữa hay lâu hơn với tình trạng sức khỏe tốt.

Hồ sơ di truyền của các khối u sẽ giúp xác định gien nào là nguyên nhân gây bệnh, đồng thời có thể giúp phát triển các loại thuốc mới nhanh chóng hơn và ít tốn kém hơn, theo Giáo sư Alan Ashworth, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ung thư (Anh).

Để đối phó với tình trạng kháng thuốc có thể xảy ra, các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu ung thư cũng đang phát triển một phương pháp xét nghiệm máu nhằm kiểm tra ADN của khối u, thay vì phải làm sinh thiết nhiều lần, gây đau đớn cho bệnh nhân.

Sinh thiết là kỹ thuật dùng để lấy một mẫu mô hoặc cơ quan bị bệnh rồi xem dưới kính hiển vi để tìm hiểu căn bệnh.

(Theo Thanhnien)

Phòng cách các bệnh mãn tính trong mùa lạnh

Vào mùa đông lạnh giá, nhiều bệnh nhân có các bệnh mạn tính như tim mạch, hen suyễn, nổi mề đay… lại phát nặng. Vì vậy, hiểu biết về ảnh hưởng của thời tiết lạnh với bệnh tật sẽ giúp ích nhiều cho chúng ta phòng tránh và chăm sóc người thân có bệnh mạn tính tốt hơn, nhất là trong dịp đón xuân.

Bệnh tim mạch

Khi thời tiết thay đổi lạnh quá sẽ tăng nguy cơ suy tim một cách đáng kể. Một nghiên cứu ở Anh cho biết, mỗi khi mùa đông tới thì cơn suy tim tăng cao hơn so với mùa hè tới 50%. Ở người trung niên, khi nhiệt độ giảm 10 độ thì nguy cơ tăng 13%. Khi trời lạnh, nhiệt độ giảm thì huyết áp tăng lên từ 12 – 18mmHg, với người khỏe mạnh thì không sao, nhưng với người đã bị tăng huyết áp thì số tăng này là đáng kể. Khi nhiệt độ giảm cũng làm máu đặc hơn vì các thành phần của máu như tiểu cầu, hồng huyết cầu, fi brinogen, cholesterol tăng lên, khi đó sự hình thành cục máu đông dễ xảy ra làm tăng nguy cơ nghẹt mạch máu ở tim (nhồi máu cơ tim), não (tai biến mạch máu não) và phổi (thuyên tắc mạch phổi). Bệnh nhân bị bệnh động mạch vành thường hay bị chứng đau thắt tim khi tiếp xúc với thời tiết lạnh và dễ đưa tới cơn suy tim khi gắng sức.

Bệnh hô hấp

Với những bệnh nhân hen suyễn, họ đều có kinh nghiệm nhất định khi thời tiết đổi lạnh. Cơn lạnh làm khí quản của họ co thắt, sự lưu thông của không khí bị trở ngại và cơn suyễn dễ xảy ra hơn, khó thở nhiều hơn, nhất là khi gió thổi mạnh. Ở các vùng có sương mù dày đặc thì các cơn viêm phế quản cũng trầm trọng hơn. Bác sĩ chuyên khoa dị ứng Majed Koleilat cũng nhận thấy người bị suyễn thường gặp nhiều rủi ro hơn mỗi khi trời lạnh, gió mạnh, áp suất không khí lên cao.

benh-man-tinh

Bệnh nhức nửa đầu Migraine

Nghiên cứu của Trung tâm điều trị nhức đầu ở Stanforf, Connecticutt, Mỹ cho biết: 51% bệnh nhân bị nhức đầu khi thời tiết thay đổi; 62% cảm thấy là có nhức đầu khi quá lạnh, quá khô hoặc quá ẩm ướt.

Bệnh đau nhức xương khớp

Nhiều bệnh nhân viêm xương khớp nói là họ thường cảm thấy cơn đau mỗi khi thời tiết thay đổi, hoặc có thể tiên đoán thời tiết sẽ ra sao khi xương đau, khớp nhức. Ðây là những người mẫn cảm với mưa, lạnh hoặc thay đổi thời tiết. Một số nghiên cứu cho biết: 70% dân chúng có kinh nghiệm tương tự, nhất là ở giới phụ nữ.

BS. Terrence Starz, Giám đốc Trung tâm viêm khớp, Đại học Pittsburgh khuyên, vào mùa đông nên giữ thân thể ấm áp, tránh công việc quá sức ngoài trời lạnh.

Dị ứng lạnh

Khi gặp thời tiết lạnh, nhiều người bị dị ứng ngứa khắp da. Nguyên nhân là do khi tiếp xúc với lạnh, kích thích cơ thể sản xuất ra nhiều chất histamin và các hóa chất hệ thống miễn dịch khác vào da gây mẩn đỏ, ngứa…

Lạnh cóng

Tổn thương gây ra do lạnh giá. Lạnh cóng làm mất cảm giác tạm thời hay vĩnh viễn ở bộ phận bị thương tổn. Vị trí thường gặp là mũi, tai, má, cằm, ngón tay, ngón chân là những nơi hay bị lạnh cóng nhiều nhất. Nguy cơ lạnh cóng tăng lên nếu máu bị cản trở hoặc không mặc quần áo đủ ấm khi trời giá lạnh. Thương tổn do lạnh giá có thể ở ngoài da hoặc nằm sâu trong tế bào dưới da. Khi nông thì da hơi đau, tái, cứng trong khi đó tế bào bên dưới lại mềm. Chứng lạnh cóng cũng là một trường hợp cấp cứu, cần được cấp cứu tại bệnh viện.

Trầm cảm

Một rủi ro của mùa đông, tuy không hiểm nghèo nhưng cũng làm trạng thái tinh thần của nhiều người trầm xuống, đó là “nỗi buồn mùa đông” (Blues Winter). Thông thường tâm trạng trầm buồn này xảy ra vào cùng một thời gian hàng năm, từ đầu tháng 10 tới tháng 3, trầm trọng nhất là vào tháng giêng, tháng 2. Đây là thời gian mà ngày ngắn, đêm dài. Lý giải cho hiện tượng này, người ta cho rằng trong thời tiết giá lạnh, chất serotonin trong não bộ thấp, mà ít serotonin là lý do khiến con người trầm buồn. Người mang “nỗi buồn mùa đông” có tất cả các triệu chứng của bệnh trầm cảm. Điều trị bệnh thường dùng ánh sáng nhân tạo với các ngọn đèn đặc biệt.

Chăm sóc và phòng tránh lạnh

Cách chăm sóc cho bệnh nhân và phòng bệnh hiệu quả bao gồm: chăm lo cho người bệnh, đặc biệt là trẻ em, người cao tuổi mặc quần áo đủ ấm; nếu có điều kiện, nhà ở cần được trang bị điều hòa hai chiều nóng lạnh để sử dụng trong mùa đông; nên che kín cửa sổ ở hướng gió lạnh lùa vào nhà như hướng Bắc, Đông Bắc; mọi người, nhất là bệnh nhân cần được ăn uống đủ chất dinh dưỡng; không uống nhiều rượu bia khi trời lạnh; cần điều trị tích cực các bệnh mạn tính về tim, gan, tuyến giáp, bệnh nhiễm khuẩn; tránh dùng các loại thuốc gây hạ thân nhiệt; hạn chế hoặc không để cho người cao tuổi và trẻ em ở ngoài lạnh quá lâu; các tổ chức xã hội cần quan tâm chăm sóc đối với người già cả, sống cô đơn.

 (Theo SKDS)

4 bệnh mạn tính do béo phì gây ra

Béo phì là nguyên nhân chính góp phần dẫn tới ít nhất 4 bệnh mạn tính.

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng béo phì là sự kết hợp giữa các yếu tố môi trường và di truyền.

4-benh-man-tinh-do-beo-phi-gay-ra

Ảnh minh họa ( nguồn: internet)

Béo phì và các bệnh thoái hóa

Béo phì là một tình trạng mạn tính có liên quan mật thiết với tăng nguy cơ mắc một số loại bệnh thoái hóa. Bệnh thoái hóa là một chứng bệnh nổi lên do sự suy giảm chức năng của các tế bào cơ thể từ tình trạng bình thường trở lên xấu hơn và kéo dài mãi. Nó có thể gây ra bệnh tim mạch, đau tim hoặc đột quỵ và cao huyết áp.

Béo phì làm tăng cholesterol

Béo giữ một vai trò quan trọng trong việc làm tăng cholesterol trong máu. Cholesterol được tích lại trong mạch máu dẫn tới bệnh tim, ức chế dòng máu và có thể dẫn tới đau tim hoặc đột quỵ.

Béo phì gây bệnh tiểu đường týp2

Béo phì khiến hormon insulin do tuyến tụy tiết ra hoạt động không hiệu quả, các biến chứng của béo phì khiến insulin không thể giúp tế bào của cơ thể hấp thu đường. Vì hormon insulin hoạt động không hiệu quả trong việc giúp cơ thể hấp thu đường nên tuyến tụy sẽ cố gắng sản sinh nhiều insulin hơn. Nếu tình trạng này kéo dài, thì việc sản sinh insulin của tuyến tụy sẽ giảm đi và khi đó bệnh nhân dễ mắc bệnh tiểu đường týp 2.

Ngoài những bệnh mạn tính trên thì béo phì còn gây ra nhiều tác động tiêu cực và nguy cơ khác cho cơ thể. Vì vậy, để tránh tình trạng béo phì, bạn nên duy trì chế độ ăn lành mạnh và thường xuyên tập thể dục.

(Theo An ninh Thủ đô)

Bé hay ăn chóng lớn là niềm vui của mẹ!

Với những người mẹ có con nhỏ, chỉ cần thấy con khỏe mạnh, hay ăn chóng lớn, chiều cao cân nặng tăng đều là đã cảm thấy ngập tràn sung sướng. Thế nhưng, không phải lúc nào mẹ cũng có được niềm vui giản dị ấy. Khi bé ăn không ngon miệng, biếng ăn, mỗi bữa cơm của con trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi của mẹ.

Để chia sẻ những tâm sự này cùng những bà mẹ cũng đang có con gặp phải bệnh biếng ăn, bạn hãy cùng tham gia cuộc thi “Cùng con vượt qua chứng biếng ăn” nhé!

 Biếng ăn và những hậu quả lâu dài

Biếng ăn là thuật ngữ chỉ hiện tượng bé không chịu ăn, ăn không ngon miệng hay ăn không đủ lượng dinh dưỡng cần thiết. Với trẻ biếng ăn, những biểu hiện thường gặp sẽ là bữa ăn kéo dài quá lâu (trên 30 phút), bé ngậm thức ăn chứ không chịu nuốt, số bữa ăn hoặc lượng thức ăn bé ăn được trong mỗi bữa ít hơn các bé cùng độ tuổi; trong bữa ăn, bé thường chỉ chịu ăn một số món nhất định, từ chối món mới, từ chối những thực đơn đa dạng, dẫn đến dễ thiếu chất. Bé cũng thường có biểu hiện quấy nhiễu trong giờ ăn, hay buồn nôn và kết quả là không tăng cân trong nhiều tháng liên tiếp.

 Bác sĩ Lương Thị Ngọc Hà – chuyên gia Dinh dưỡng tại Trung tâm Dinh dưỡng Tp.HCM – nhấn mạnh: “Khi biếng ăn, bé có thể gặp phải các vấn đề về rối loạn tăng trưởng, dễ mắc các bệnh mãn tính do hệ thống miễn dịch yếu. Không chỉ thế, biếng ăn kéo dài trong giai đoạn đầu đời còn ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy trí tuệ của trẻ. Trẻ biếng ăn thường không đủ dinh dưỡng và thiếu cân nên hay mệt mỏi, cơ thể không đủ năng lượng cho trí óc tập trung, vì vậy thường lơ là chuyện học và thành tích học tập thường kém những trẻ khỏe mạnh. Khoa học chứng minh, chỉ số phát triển trí tuệ MDI của những trẻ biếng ăn chỉ được 96 điểm, tức thấp hơn 14 điểm so với 110 điểm của những bé ăn uống tốt.”

Ngoài ra, cũng cần nói thêm rằng việc biếng ăn lâu dài sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý và tính cách của trẻ. Cụ thể, trẻ biếng ăn thường ít vận động hơn, hay mệt mỏi, ủ rũ. Điều đó dễ làm mất đi sự hiếu động và sự hòa nhập của bé với môi trường xung quanh.

Ảnh được cung cấp bởi Pediasure

Hãy chia sẻ câu chuyện vượt qua biếng ăn của con bạn tại cuộc thi “Cùng con vượt qua chứng biếng ăn”

 Nào, mẹ con mình cùng vượt qua chứng biếng ăn!

Thấu hiểu những nỗi niềm của mẹ, cuộc thi “Cùng con vượt qua chứng biếng ăn” đã được chính thức tổ chức trên trang web www.biengan.com.vn kể từ ngày 11/10/2012 đến hết ngày 05/12/2012. Cuộc thi là nơi để các bà mẹ cùng trao đổi, tích lũy những kinh nghiệm giúp con vượt qua chứng biếng ăn, đồng thời mang về những phần thưởng đầy ý nghĩa từ nhà tài trợ – nhãn hàng Pediasure BA (Abbott, Hoa Ki). Cách tham dự vô cùng đơn giản, bạn chỉ cần đăng nhập vào trang web www.biengan.com.vn, đăng ký làm thành viên, sau đó gửi một bài viết có độ dài từ 200 đến 600 từ về bí quyết và kinh nghiệm của mẹ trong hành trình cùng bé vượt qua chứng biếng ăn, kèm theo hình minh họa. Bạn cũng có thể tham khảo những kinh nghiệm thực tế của các bà mẹ khác thông qua các bài dự thi hay tham gia bình chọn trực tiếp trên website.

Bạn còn chờ gì nữa chứ! Hãy đăng nhập vào www.biengan.com.vn để “khởi động” cho một quyết tâm: Cùng con vượt qua chứng biếng ăn, giúp bé yêu của mình phát triển hoàn thiện cả thể chất lẫn tinh thần và luôn ngon miệng với từng bữa ăn mẹ nấu đi nào!

Nghiên cứu lâm sàng cho thấy việc sử dụng Pediasure BA sau 90 ngày giúp trẻ:

– Giảm 45% nguy cơ viêm nhiễm đường hô hấp

– Tăng cân nặng tốt hơn 168%

– Tăng chiều cao tốt hơn 55%

Nguồn: Alaroon PA, Lin LH, Noche Jr, Hernandez VC, Cimatranca L, Lam W, Comer GM. Effect of oral supplementation on catch-up growth in picky eaters. Cth Pediatr (Phila). 2003 Apr; 42 (3): 209-17 

 

Tập yoga giúp ích cho bệnh nhân đột quỵ

Một cuộc nghiên cứu mới cho thấy yoga có thể giúp những bệnh nhân sống sót sau cơn đột quỵ cải thiện khả năng cân bằng, theo báo Daily Mail.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng yoga có thể cải thiện khả năng cân bằng ở những bệnh nhân sống sót sau đột quỵ không còn được chăm sóc phục hồi.

Trong một cuộc nghiên cứu thí điểm, các nhà khoa học đã kiểm tra những lợi ích tiềm tàng của yoga ở những bệnh nhân sống sót sau đột quỵ mãn tính. Những người này bị đột quỵ hơn sáu tháng trước đó.


Tập yoga giúp ích cho bệnh nhân đột quỵ – Ảnh: Shutterstock

Trưởng nhóm nghiên cứu, tiến sĩ Arlene Schmid thuộc Đại học Indiana (Mỹ) phát biểu: “Đối với người bị đột quỵ mãn tính thì một hoạt động như yoga trong môi trường nhóm có thể cải thiện chức năng vận động cũng như sự cân bằng”.

47 tình nguyện viên trong cuộc nghiên cứu này, đa số là các cựu quân nhân, được phân thành ba nhóm: tập yoga theo nhóm hai lần/tuần trong 8 tuần; nhóm tập thêm yoga bao gồm tập yoga hai lần/tuần và có đĩa hát thư giãn để sử dụng ít nhất ba lần/tuần; và nhóm được chăm sóc y tế thông thường mà không có sự tập luyện.

So với các bệnh nhân trong nhóm được chăm sóc thông thường, những người trong hai nhóm còn lại đã cải thiện đáng kể khả năng cân bằng.

Các nhà nghiên cứu nói rằng những vấn đề về sự cân bằng thường kéo dài sau khi người ta bị đột quỵ, dẫn đến tình trạng ốm yếu tàn tật cao hơn và nguy cơ té ngã cũng cao hơn.

Những người sống sót sau đột quỵ trong nhóm tập yoga còn đạt điểm số cải thiện về khả năng tự lập và chất lượng cuộc sống, cũng như ít sợ bị té ngã hơn.

(Theo Thanhnien)

Cây hoa sim chữa được bệnh đại tràng mãn tính?

Thưa bác sĩ,

Tôi nghe nói cây hoa sim chữa được bệnh đại tràng mãn tính có đúng không ạ? Nếu đúng thì cách chữa như thế nào thưa bác sĩ? Trân trọng cảm ơn các bác sĩ

(Công Minh – doanmih…@gmail.com)

Trả lời:

Chào bạn Công Minh,

Công dụng, chỉ định và phối hợp của cây sim như sau:

1. Rễ được dùng trị viêm dạ dày ruột cấp tính, đau dạ dày, ăn uống không tiêu, viêm gan, lỵ, phong thấp đau nhức khớp, lưng cơ đau mỏi, tử cung xuất huyết theo công năng, thoát giáng, dùng ngoài trị bỏng. Liều dùng 15-30g, sắc uống.

2. Lá được dùng trị viêm dạ dày ruột cấp tính, ăn uống không tiêu; dùng ngoài trị ngoại thương xuất huyết. Liều dùng lá khô 15-30g, dạng thuốc sắc.

3. Quả dùng trị thiếu máu khi thai nghén, yếu ốm sau khi có bệnh, thần kinh suy nhược, tai điếc, di tinh. Liều dùng 10-15g quả khô, đun sôi lấy nước uống.

Lá non của sim đắp làm liền da và cầm máu. Búp sim sắc uống trị ỉa chảy hoặc đi lỵ và rửa vết thương, vết loét. Rễ cũng dùng sắc uống trị đau tim. Quả sim chín làm rượu bổ.

Ðơn thuốc: 

1. Thiếu máu, yếu ốm, suy nhược thần kinh: quả sim 15g, kê huyết đằng 15g, hà thủ ô 15g. Sắc nước uống.

2. Viêm gan cấp và mạn, chứng gan to: rễ sim 30g, rễ bùm họp 15g, rễ muồng truông khô 30g. Sắc nước uống.

3. Tiêu chảy, lỵ: búp non hoặc nụ hoa sim 8-16g tán bột hoặc sắc uống. Ta thường dùng bột lá sim và cao gỗ vang dập viên điều trị tiêu chảy.

Như đã nêu ở trên, một số bộ phận của cây sim trị viêm dạ dày ruột cấp tính, tiêu chảy, lỵ… Bạn hỏi về “bệnh đại tràng mãn tính” thì có nhiều nguyên nhân, cần phải tìm nguyên nhân rồi điều trị cho phù hợp.

BACS.com (Theo AF)

Ăn uống phòng bệnh mãn tính

Một số thực phẩm có thể giúp cơ thể phòng chống các bệnh mãn tính.

Bạch quả giúp cải thiện hô hấp. Ảnh: Shutterstock

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Guelph (Canada) phát hiện cách bổ sung vào sữa chất DHA (docosahexaeonic acid), một chất dinh dưỡng thiết yếu mà nhiều người đang thiếu. Một nhóm các nhà khoa học thuộc Đại học Manitoba (Canada) đã tìm ra một loại protein từ hạt đậu vàng có thể làm giảm huyết áp, theo thông báo của Hiệp hội Mỹ vì sự phát triển khoa học (AAAS).

Đối với nam giới, những ai thiếu vitamin D có nguy cơ bị đau tim cao gấp đôi so với những người có đủ lượng vitamin này. Các nhà khoa học tìm thấy bằng chứng vitamin D giúp kiểm soát huyết áp và ngăn ngừa tổn thương động mạch, qua đó bảo vệ quả tim. Vitamin D thường có trong cá, sữa, lòng đỏ trứng, gan, phô mai và cũng được tổng hợp bằng cách cho da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.

Vitamin B có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của các cơn hen suyễn. Vitamin A và E khi kết hợp với nhau có thể giúp bảo vệ phổi khỏi bị ô nhiễm không khí. Bạch quả có tác dụng cải thiện hô hấp. Tỏi là thực phẩm không thể thiếu trong chế độ dinh dưỡng của bạn vì tỏi chứa chất chống viêm, từ đó giúp giảm nguy cơ bị hen.

Meo.vn (Theo Thanh niên)

Tăng sức đề kháng cho bé: 4 ‘bí kíp vàng’

Bé ho, bé bị sốt… đều có thể khiến các bậc cha mẹ ‘phát sốt’ theo. Làm sao để tăng sức đề kháng cho bé đây?

Thực tế, bị ốm khi còn nhỏ là một việc bắt buộc phải xảy ra. Theo bác sĩ Charles Shubin, giáo sư Nhi khoa tại Đại học Maryland, Baltimore, thì “Tất cả chúng ta đều bước vào thế giới này với một hệ miễn dịch hoàn toàn non nớt’. Dần dần, qua những lần chống chọi liên tục với vi khuẩn, vi trùng cũng như các sinh vật khác, bé mới phát triển hệ miễn dịch – điều này lí giải tại sao nhiều bác sĩ khoa nhi coi là bình thường khi bé bị cảm lạnh, cúm hoặc viêm tai 6 – 8 lần/năm. Tuy vậy, hình thành và có những thói quen lành mạnh sẽ giúp tăng sức đề kháng cho bé một cách hiệu quả.

1.    Nuôi con bằng sữa mẹ

Khi ra đời, bé cần được cho bú mẹ ngay vì những giọt sữa đầu tiên (sữa non) có nhiều chất giúp nâng cao hệ miễn dịch. Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ giúp bé tránh được đáng kể những bệnh như viêm tai, dị ứng, tiêu chảy, viêm phổi, viêm màng não, viêm đường tiết niệu và chứng đột tử trẻ sơ sinh.

Trong trường hợp điều kiện không cho phép thì cũng cố gắng nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 2 hay 3 tháng đầu để tăng cường hệ miễn dịch cho bé – vốn đã bắt đầu hình thành khi con ở trong bụng mẹ.

2.    Hình thành thói quen ngủ tốt

Thiếu ngủ khiến trẻ dễ bị ốm hơn, do bị giảm các tế bào xung kích tự nhiên – vũ khí của hệ miễn dịch có tác dụng tấn công vi khuẩn và các tế bào ung thư. Do vậy, cha mẹ nên hỗ trợ và giúp trẻ sớm hình thành thói quen ngủ đủ giấc và năng vận động.

Thông thường, khoảng thời gian ngủ chuẩn tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ: trẻ sơ sinh cần ngủ 18 tiếng/ ngày, trẻ ở tuổi tập đi thì 12-13 tiếng và trẻ trước độ tuổi đến trường cần ngủ khoảng 10 tiếng.

3.    Dinh dưỡng đầy đủ, tăng cường trái cây và rau xanh

Khi thay đổi thức ăn cho trẻ, nếu không chú ý giữ vững cân bằng dinh dưỡng, sức đề kháng của bé sẽ bị yếu. Bạn nên cho con ăn nhiều trứng, thịt, các loại rau, hoa quả tươi. Đây là những thực phẩm chứa nhiều vi chất dinh dưỡng (vitamin A, sắt, iốt, kẽm, canxi…) giúp chống lại bệnh tật.

Dinh dưỡng đầy đủ và ăn nhiều rau xanh giúp bé khỏe mạnh. (Ảnh minh họa).

Chế độ ăn giàu dinh dưỡng thực vật còn có thể bảo vệ cơ thể khỏi những bệnh mãn tính như ung thư hay bệnh về tim ở tuổi trưởng thành. Vậy nên cha mẹ hãy cố gắng cho con ăn 5 suất hoa quả và rau xanh mỗi ngày. (Mỗi suất ăn khoảng 2 muỗng canh với trẻ đang tập đi, 1 và 1/4 chén với trẻ lớn hơn).

4.    Không tùy ý dùng thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh chỉ có thể điều trị những bệnh gây ra do vi khuẩn, trong khi, theo các chuyên gia thì “phần lớn những bệnh của trẻ nhỏ đều do virus gây ra”. Việc tùy ý dùng thuốc kháng sinh dẫn tới hiện tượng “nhờn” thuốc, khiến cơ thể không thể chống lại sự xâm nhập của những loại vi khuẩn trong môi trường xung quanh. Vì vậy, khi trẻ bị ốm, các bậc phụ huynh đừng cố thuyết phục bác sĩ kê đơn thuốc kháng sinh hay tùy ý mua thuốc kháng sinh cho trẻ uống.

Meo.vn (Theo Eva)